NGHIÊN CỨU SỰ TĂNG TRƯỞNG CẤU TRÚC SỌ MẶT RĂNG THEO PHÂN TÍCH RICKETTS Ở TRẺ 12 – 15 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ TIÊN ĐOÁN VỚI GIÁ TRỊ THỰC TẾ TẠI CẦN THƠ - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC HỌC LÂM SÀNG 108

LÊ NGUYÊN LÂM
NGHIÊN CỨU SỰ TĂNG TRƯỞNG CẤU TRÚC
SỌ MẶT RĂNG THEO PHÂN TÍCH RICKETTS
Ở TRẺ 12 – 15 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ
TIÊN ĐOÁN VỚI GIÁ TRỊ THỰC TẾ TẠI CẦN THƠ

CHUYÊN NGÀNH RĂNG HÀM MẶT

MÃ SỐ: 62.72.06.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC


Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Quốc Gia
2. Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108
1

A.GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu sự tăng trưởng của hệ thống sọ mặt là vấn đề cuốn hút
không chỉ các nhà nghiên cứu hình thái, các nhà nhân chủng học mà
còn cả các nhà thực hành lâm sàng. Hiểu rõ sự tăng trưởng bất thường
sẽ giúp các nhà lâm sàng có thể can thiệp điều trị thích hợp vào những
thời điểm cụ thể, để đem lại hiệu quả tối ưu cho bệnh nhân cũng như dự
đoán được sự tăng trưởng có thể xảy ra sau khi đã chấm dứt quá trình
điều trị chỉnh hình, nhằm đạt được một kết quả điều trị ổn định về chức
năng và hài lòng về thẩm mỹ.
Trên thế giới đã có nhiều tác giả sử dụng phân tích Ricketts trong
nghiên cứu và thực hành để khảo sát các đặc điểm hình thái cũng như
dự đoán sự tăng trưởng của sọ mặt như Valdes (2004) [119], Valente
(2003) [120]… Ở Việt Nam, Lê Võ Yến Nhi (2009) [5] đã mới chỉ ứng
dụng phân tích này để nghiên cứu các đặc điểm sọ mặt của trẻ em ở các
lứa tuổi khác nhau.Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có tác giả nào ở Việt
Nam nghiên cứu tăng trưởng hệ thống sọ mặt răng ở lứa tuổi 12 – 15
tuổi trên phim sọ nghiêng. Nhằm xác định mẫu tăng trưởng ở lứa tuổi

tiếng Việt, 114 tiếng Anh).
B.NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Phương pháp phân tích phim sọ nghiêng
Phân tích trên phim sọ nghiêng có hai hướng cơ bản. Một là dựa vào
số đo góc và đoạn thẳng của bệnh nhân để đưa ra những so sánh với
chuẩn bình thường bằng phép tính toán. Hai là dựa vào các dữ liệu của
bệnh nhân để so sánh với các mô hình chuẩn qua đó có thể thấy được sự
khác biệt với chuẩn bình thường mà không cần phải làm các phép tính
toán. Nhiều tác giả đã nghiên cứu sự cân bằng, sự hài hoà, tăng trưởng và
phát triển của mặt theo nghiên cứu cắt ngang hay theo nghiên cứu cắt dọc
trên phim sọ thẳng hay phim sọ nghiêng.
Hàng loạt các phương pháp phân tích trên phim sọ nghiêng đã ra
đời từ nhiều thập niên qua để khảo sát và mô tả các đặc điểm của cấu
trúc sọ mặt. Tác giả của mỗi phương pháp có một cơ sở lý luận riêng
trong việc chọn các điểm chuẩn, mặt phẳng tham chiếu và cách đánh giá
các đặc điểm hình thái sọ mặt cũng đa dạng Downs W. B. [43] đã mô tả
phương pháp phân tích để xác định mẫu răng và mặt của người bình
thường tương quan răng và xương ổ răng với mặt. Steiner phân tích sự
tương quan giữa xương hàm và xương sọ, vị trí của răng cửa theo tương
quan với xương ổ răng và phân tích mô mềm [64].
1.2. Giới thiệu về phân tích Ricketts
Năm 1961, trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu của các phân tích
trước đây, Ricketts RM đã phân tích trên mẫu lớn với nhiều điểm mốc,
tác giả tập trung đánh giá tương quan và vị trí của xương hàm dưới so
với nền sọ và đồng thời đưa ra khả năng tiên đoán sự tăng trưởng của
cấu trúc sọ mặt theo tuổi.
3
trị. Ngày nay, một loạt các phân tích máy tính của phim sọ nghiêng
được sử dụng để dự đoán thay đổi trước-sau trong điều trị ví dụ:
Dentofacial Planner ™, OPAL™, Quick Ceph™…Từ năm 1998, Hàn
Quốc đã sử dụng phần mềm V-Ceph 6.0 ™ để dự báo mô phỏng các
tình trạng thay đổi các răng, xương, mô mềm và minh họa những thay
4

đổi về giá trị định lượng dựa trên tỷ lệ mô cứng-mềm. Hiện tại nhiều
tác giả sử dụng phần mềm V-Ceph 6.0™ để thực hiện nghiên cứu Park
J.K.[92], Kim Y.K. (2009) [72], Kim M.J.(2009)[70]… Ngoài ra, ở
Việt Nam chưa có một đánh giá toàn diện trong giai đoạn dự báo trước
điều trị. Do đó, nghiên cứu này thực hiện nhằm đánh giá tính chính xác
của các dự báo quá trình điều trị theo phân tích Ricketts với phần mềm
V- ceph.
TM
6.0.
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.Dân số chọn mẫu
Các đối tượng nghiên cứu là trẻ có độ tuổi từ 12 – 15 tuổi học tại
Trường Trung học cơ sở Trần Hưng Đạo, Quận Ninh Kiều, Thành phố
Cần Thơ. Các đối tượng được chụp phim sọ nghiêng mỗi năm một lần
(bắt đầu từ năm 2010 đến 2013).
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
– Tại Trường Trung học cơ sở Trần Hưng Đạo, Quận Ninh Kiều,
Thành phố Cần Thơ
– Chụp phim tại Bệnh viện Quân Y 121 Cần Thơ.
– Các đối tượng được chụp phim sọ nghiêng mỗi năm một lần (bắt
đầu từ năm 2010 đến 2013).
2.1.3. Tiêu chí chọn vào

2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.3.1. Trang thiết bị
Loại phim sử dụng: phim tia X hiệu Kodak Dental Film kích thước
8x10 inch (T.Mart
TM
CAT 2589852) (20,3 x 25,4 cm).Máy chụp phim:
hiệu PANEX – EC số hiệu X100EC – 9405,
2.3.2. Kỹ thuật chụp phim sọ nghiêng
Trẻ được chụp phim ở tư thế đứng, đầu ở tư thế tự nhiên sao cho
mặt phẳng dọc giữa mặt song song với cassette và mặt phẳng Frankfort
song song mặt phẳng đường chân trời, mặt bệnh nhân tiếp xúc càng sát
phim càng tốt để giảm ảnh hưởng của độ phóng đại, độ méo lệch và
chuẩn hóa được kỹ thuật
Tất cả các phim được chụp chỉ bởi một kỹ thuật viên tại Bệnh viện
Quân Y 121 Thành phố Cần Thơ.
2.4. Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp vẽ nét trên phim sọ nghiêng
Tất cả các phim sọ nghiêng đạt tiêu chuẩn nghiên cứu đều do một
người nghiên cứu vẽ nét bằng phần mềm V–Ceph 6.0™.
Để tiến hành vẽ nét phim sọ nghiêng bằng phần mềm cần chuẩn bị:
420 phim sọ nghiêng của 105 trẻ (mỗi trẻ phải đủ 4 phim) ở thời điểm
12, 13, 14, 15 tuổi được scan vào máy vi tính, lưu trên ổ cứng với định
dạng ảnh “.jpg”, tỷ lệ 1:1. 6

Kỹ thuật vẽ nét phim sọ nghiêng bằng phần mềm V–Ceph
6.0™
Bao gồm các bước sau:


STT
Đặc điểm nghiên cứu
Đơn
vị
Điểm chuẩn
Dự đoán

Nền sọ
1
Chiều dài nền sọ trước
mm
Cc–N
Không đổi
2
Chiều dài nền sọ sau
mm
Cp

PtV
0,5mm/năm

Khớp thái dương hàm
3

0
/năm
7
Góc cung hàm dưới
Độ
Dc–Xi–Pm
Tăng 0,5
0
/năm
8
Góc cành lên XHD
Độ
Po–Cf–Xi
Không đổi
9
Chiều dài thân XHD
mm
Xi–Pm
1,6mm/năm

Khối xương hàm trên
10
Góc mặt phẳng khẩu
cái
Độ
ANS–PNS/Fh
Không đổi

– Sau đó được đưa vào chương trình phần mềm để xác định các điểm
chuẩn và từ đó cho kết quả.
2.6. Xử lý số liệu
Các số liệu, dữ kiện thu thập được nhập vào máy vi tính và được
lưu giữ lại.
Các số liệu được phân tích thống kê theo chương trình SPSS phiên
bản 20.0.

mặt
14
Chiều cao mặt dưới
Độ
Ans–Xi–Pm
Giảm 0,2mm
15
Chiều cao mặt toàn bộ
Độ
Xi–Pm/Ba–N
Không đổi
16
Chiều cao mặt phía sau
mm
Cf–Go
Không đổi Răng

o
21
Góc mặt phẳng khớp
cắn
Độ
Mp khớp cắn/Xi–
Pm
Tăng 0,5
0

22
Góc R cửa
Độ
A1/B1
2
0
/5 năm
23
Độ trồi R cửa HD
mm
B1/mp khớp cắn
Không đổi
24
Độ cắn chìa
mm

Theo AP
o

25

Tăng
0,1mm/năm
29
Độ nhô môi dưới
mm

Giảm
0,2mm/năm
9

Chương 3: KẾT QUẢ
3.1. Chiều dài nền sọ
Bảng 3.1. Chiều dài nền sọ trước
Tham số TB ± ĐLC
12 tuổi 13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi

Giá trị p
2Cc–N (Chiều dài nền sọ trước) (mm)

Nam (n=50) 53,06±8,63 54,67±5,24 55,49±5,67 56,24±5,60
p
12–13
,p
13–14
,p
14–15
>0,05

=0,005 (Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1).
3.2.Kết quả về đặc điểm khớp thái dương hàm
Các số đo khoảng cách từ khớp thái dương hàm đến mặt phẳng
chân bướm ở nam nhìn chung lớn hơn nữ, nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa (p > 0,05). Đánh giá tổng thể từ 12 – 15 tuổi số đo
khoảng cách từ khớp thái dương hàm đến mặt phẳng chân bướm tăng có
ý nghĩa (p=0,001). (Bảng 3.2, Biểu đồ 3.3).
3.3. Xương hàm dưới

Bảng 3.3.Trục mặt và góc mặt
Tham số TB ± ĐLC
12 tuổi 13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi
Giá trị p
2

Cc–Gn/Ba–N (Góc trục mặt) (
0
)

Nam (n=50) 83,43±3,47 84,38±3,60 84,53±4,19 83,78±4,13
p
12–13
<0.,05,p
13–14
> 0,05
Nữ (n=55) 84,42±4,61 84,69±4,42 84,64±4,66 83,75±4,99
P
12–13
>0,05, p
14–15

>0,05
Giá trị p
1
0,382 0,699 0,128 0,377Chung 95,02±4,10 94,11±3,91 94,28±3,72 94,45±3,95
p
12–13
<0,05,
p
13–14
,p
14–15
>0,05
Ở trẻ em Việt Nam trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi, không có sự
khác biệt ý nghĩa thống kê giữa hai giới nam và nữ về các số đo góc
trục mặt(p > 0,05) (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.4).
Góc trục mặt thay đổi không có ý nghĩa thống kê ở nam, nữ và
chung cho cả hai giới với p > 0,05 trong khoảng thời gian từ 12 đến 15
tuổi (p
12–15
= 0,58) (Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.4).
Ở trẻ em trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi, không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa hai giới nam và nữ về các số đo góc mặt (p >
0,05). Góc mặt thay đổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 trong
khoảng thời gian từ 12 đến 15 tuổi (Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.5).
3.4. Xương hàm trên
Bảng 3.7. Độ nhô của hàm trên so với nền sọ
Tham số TB ± ĐLC

Giá trị p
1
0,008 0,147 0,595 0,332

Chung 69,69±4,28 69,35±4,05 69,84±4,26 69,34±4,15
p
12–13
, p
13–14
, p
14–15
>0,05
Độ nhô của hàm trên so với nền sọ ở nam và nữ có sự khác biệt. Ở
12 tuổi nữ lớn hơn nam có ý nghĩa (p
12
= 0,008) các nhóm tuổi khác nữ
lớn hơn nam nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa. Giai đoạn 13 –
14 tuổi độ nhô của hàm trên so với nền sọ tăng nhưng giai đoạn 14 – 15
tuổi độ nhô của hàm trên so với nền sọ lại giảm không có ý nghĩa (Bảng
3.7, Biểu đồ 3.12). 11 3.5. Chiều cao các tầng mặt
Bảng 3.9. Chiều cao mặt toàn bộ
Tham số TB ± ĐLC
12 tuổi 13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi
Giá trị p

0,393). Giai đoạn 12 – 15 tuổi, chiều cao mặt toàn bộ giảm có ý nghĩa
(p
12–15
=0,01) (Bảng 3.9, Biểu đồ 3.15).
3.6. Răng
Bảng 3.13. Góc răng cửa
Tham số TB ± ĐLC
12 tuổi 13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi
Giá trị p
2

R1HT/R1HD (Góc răng cửa) (
0
)

Nam(n=50)124,25±11,03 126,23±11,65 123,50±11,88 123,80±12,64
p
12–13
,p
13–14
<0,05
Nữ(n=55) 123,48±10,28 121,54±11,06 123,38±10,19 123,02±10,33
p
12–13
,p
13–14
,p
14–15
>0,05
Giá trị p

Độ nhô của môi dưới so với đường thẩm mỹ E

Nam(n=55) 2,35±2,65 2,25±3,51 2,15±3,52 2,05±3,27
p
12–13
,p
13–14
,p
14–15
> 0,05
Nữ(n=55) 0,93±3,27 0,72±3,14 0,65±3,42 0,52±3,61
p
12–13
,p
13–14
,p
14–15
> 0,05
Giá trị p
1
0,017 0,023 0,030 0,025

Chung 1,61±3,06 1,45±3,40 1,37±3,53 1,25±3,52
p
12–13
,p
13–14
,p
14–15
> 0,05

thẩm mỹ E – môi dưới/đường thẩm mỹ E r = 0,73.Các đặc điểm sọ mặt
tương quan nghịch: độ nghiêng trục răng cửa hàm dưới – góc răng cửa r
= –0,81 (Bảng 3.21).
Chương 4:BÀN LUẬN
4.1. So sánh các đặc điểm giữa nam và nữ
4.1.1. Nền sọ
Chiều dài sọ trước (Cc–N)
Các số đo chiều dài nền sọ trước ở nam nhìn chung lớn hơn nữ,
nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa lúc 12, 13, 14, 15 tuổi (p >
0,05).(Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1).
Kết quả này khác với nghiên cứu của Lê Võ Yến Nhi (2009) [5]
với p = 0,006 trên trẻ 14 tuổi và nghiên cứu của Topouzelis N. (2002)
[118] với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nam lớn hơn so với nữ (p =
0,001) khi thực hiện nghiên cứu trên người Hy Lạp trưởng thành 23
tuổi.
Khác với nghiên cứu của Rothstein T. và Xuan Lan Phan (2001)
[107] nghiên cứu tốc độ tăng trưởng trong răng và xương mặt của nam
và nữ với khớp cắn hạng II từ 10 – 14 tuổi cho rằng điểm Sella (S)
trung tâm phát triển của nền sọ chủ yếu hoàn thành vào lứa tuổi 7 – 9.
Vì vậy, nền sọ tương đối ổn định ít ảnh hưởng thay đổi sự phát triển
trên khuôn mặt và răng.
4.1.2. Xương hàm dưới
4.1.2.1. Góc trục mặt (Cc–Gn/Ba–N)
Ở trẻ em Việt Nam trong nghiên cứu này giai đoạn từ 12 đến 15
tuổi, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới nam và nữ
về các số đo góc trục mặt (p > 0,05) (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.4).
Trục mặt là trục trung tâm tốt nhất của mặt xét về độ nhô và độ lùi
của cằm. Theo Ricketts [101], [103] trị số trung bình góc trục mặt ở
người da trắng là 90
0

0
± 4,28
0
(12 tuổi), 69,35
0
± 4,05
0
(13 tuổi), 69,84
0
± 4,26
0
(14
tuổi), 69,34
0
± 4,15
0
(15 tuổi) (Bảng 3.7, Biểu đồ 3.12). Giá trị này ở trẻ
da trắng 9 tuổi theo Ricketts [64] là 63
0
± 3
0
. Theo Lê Võ Yến Nhi
(2009) [5], giá trị chung cho cả hai giới là 60,39
0
± 2,44
0
ở trẻ em Việt
Nam 14 tuổi. Ricketts đánh giá tương quan của khối xương hàm trên so
với nền sọ bằng góc Ba–N–A, nhiều tác giả khác sử dụng góc S–N–A
để mô tả tương quan này. Hai số đo góc độ này tuy khác nhau về mặt

(12 tuổi), 123,77
0
± 11,53
0
(13 tuổi) 123,43
0
± 10,98
0
(14 tuổi), 123,39
0
± 11,44
0
(15 tuổi)
15

(Bảng 3.13, Biểu đồ 3.22). Góc răng cửa ở nam và nữ không có sự khác
biệt có ý nghĩa lúc 12, 14, 15 tuổi sự khác biệt có ý nghĩa, chênh lệch
nhiều nhất có ý nghĩa ở 13 tuổi nam lớn hơn nữ có ý nghĩa (p = 0,037).
Nghiên cứu của Lê Võ Yến Nhi (2009) [5] trên trẻ 14 tuổi là 119
0

± 10,56
0
, Valdéz (2004) [119] ghi nhận 123,8
0
± 7,43
0
trên trẻ 14 tuổi.
Như vậy, góc răng cửa của trẻ Việt tương tự với các dân tộc khác
do trục của răng cửa hàm trên và hàm dưới trục nghiêng tương tự nhau.

16

Chung cả hai giới chiều dài nền sọ trước từ 12 – 15 tuổi tăng 2,13
mm, ở nam chiều dài nền sọ trước từ 12 – 15 tuổi tăng 3,19 mm, ở nữ
chiều dài nền sọ trước từ 12 – 15 tuổi tăng 1,17mm (Bảng 3.1, Biểu đồ
3.1).
Kết quả giống Đống Khắc Thẩm (2010) [3] nghiên cứu dọc trên
phim sọ nghiêng ở trẻ từ 3 –13 tuổi về mối liên hệ giữa nền sọ và hệ
thống sọ mặt trong quá trình tăng trưởng. Trong nghiên cứu dọc hỗn
hợp, ông cho rằng cả hai giới, chiều dài nền sọ trước tăng có ý nghĩa
trong giai đoạn từ 3 – 13 tuổi (tăng khoảng 10mm).
Tương tự, Thilander B. và cs (2005) [115] nghiên cứu mẫu dân số
Thụy Điển từ 5 – 31 tuổi cho rằng sự tăng trưởng và thay đổi diễn ra
mạnh ở tuổi từ 13 – 16, có liên quan đến tuổi của quá trình tăng trưởng,
sự tăng trưởng của sọ mặt ở nam nữ khác nhau theo từng giai đoạn, thay
đổi nhất là từ 13 – 16 tuổi, thậm chí từ 5 – 7 tuổi. Sự gia tăng chiều dài
nền sọ ở thiếu niên và trưởng thành có thể là sự thay đổi vị trí của điểm
Sella và điều này liên quan đến sự di chuyển của điểm Nasion theo
hướng ra trước.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác Chang H. P. và cs (1993)
[35] cho thấy mối quan hệ góc giữa các nền sọ trước mặt phẳng Sella –
Nasion và mặt phẳng Frankfort, nền sọ trước và mặt phẳng khẩu cái,
mặt phẳng Frankfort/ mặt phẳng khẩu cái vẫn tương đối ổn định từ thời
thơ ấu đến tuổi trưởng thành. Sự ổn định tương đối của khẩu cái liên
quan góc của nó với các nền sọ trước là phù hợp với phát hiện của
Brodie (1941) ghi nhận từ một nghiên cứu theo chiều dọc.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch về chiều dài
nền sọ trước, chiều dài nền sọ sau của nam so với nữ ngày càng lớn,
chứng tỏ tốc độ tăng trưởng ở nam nhanh hơn nữ, nhất là ở giai đoạn từ
12 đến 15 tuổi.

theo tuổi đều đặn ra trước và xuống dưới, đồng thời giữ tương quan ổn
định với nền sọ ở mỗi giới.
4.2.2.2.Góc mặt (N–Pg/Fh)
Góc mặt là góc giữa mặt phẳng Frankfort và mặt phẳng mặt, thể
hiện độ nhô hay lùi của cằm. Góc mặt thay đổi không có ý nghĩa thống
kê với p > 0,05 trong khoảng thời gian từ 12 đến 15 tuổi (Bảng 3.3 và
Biểu đồ 3.5). Tuy nhiên, từ 12 – 13 tuổi có sự giảm tăng trưởng rõ rệt
(p12 - 13 =0,004) có ý nghĩa (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.5).
Góc này tăng cho thấy cằm ngày càng nhô ra trước hơn. Sự tăng
trưởng ở bờ sau cành lên và lồi cầu đẩy xương hàm dưới di chuyển ra
trước, làm thay đổi vị trí tương đối của cằm về phía trước hơn, làm góc
mặt lớn hơn. Theo Ricketts, góc mặt tăng 0,33
0
mỗi năm [103]. Trong
nghiên cứu này, góc mặt thay đổi giảm từ 12 – 13 khoảng 0,9
0
, từ 13 –
15 tuổi tăng 0,3
0
. Tương tự với kết quả nghiên cứu của Valdes (2004)
[119], góc mặt ở trẻ em Cuba tăng không có ý nghĩa thống kê.
Khác với nghiên cứu của chúng tôi, Chang H. P. và cs (1993) [35]
nghiên cứu cho rằng kể từ khi tăng trưởng hàm dưới trùng hợp với sự
phát triển chung, độ sâu trên khuôn mặt đã được phát triển nhiều hơn
đáng kể ở nam so với nữ và tầng mặt giữa hoàn thành chiều sâu của nó
sớm hơn so với tầng mặt mặt dưới. Điều này là một kết quả của sự tăng
trưởng hàm dưới lớn hơn, mặt dưới tăng trưởng xuống và chuyển tiếp
nhanh hơn so với tầng mặt giữa
4.2.3. Xương hàm trên
Độ nhô hàm trên so với nền sọ (Góc Ba–N–A)

SNA và khoảng cách của từ điểm A vuông góc Nasion tương đối ổn
định trong quá trình tăng trưởng
4.2.4. Răng
Góc răng cửa (A1/B1)
Ở nam giai đoạn 12 – 13 tuổi góc răng cửa tăng có ý nghĩa (p <
0,05), ở nữ giai đoạn 12 – 13 tuổi góc răng cửa giảm không có ý nghĩa,
giai đoạn 13 –14 tuổi ở nam góc răng cửa giảm có ý nghĩa p = 0,004, ở
nữ góc răng cửa tăng không có ý nghĩa.Tổng thể chung góc răng cửa
không thay đổi từ 12 – 15 tuổi (p > 0,05) (Bảng 3.13. Biểu đồ 3.22).
Nghiên cứu của Platou C. và cs (1983) [95] cho rằng góc răng cửa
có thể là vấn đề quan tâm đặc biệt. Góc độ khoảng 135
0
đã được mô tả
trong các trường hợp bình thường bởi Downs, nhưng hầu hết các mẫu
bình thường của người da trắng người lớn cho thấy góc răng cửa trung
19

bình khoảng 130
0
. Trong quan điểm bình thường của Humerfelt và
Slagsvold, góc răng cửa trung bình 130
0
– 131
0
ở tuổi 11, trung bình
135
0
–136
0
ở tuổi 25.

nhau. Tuy nhiên, sau khi mọc đầy đủ các răng cửa hàm dưới (có nghĩa
là sau khoảng 9 tuổi) có rất ít thay đổi trong mối quan hệ môi và răng
cửa.
4.3. Bàn luận về giá trị tiên đoán và thực tế
Đánh giá tăng trưởng sọ mặt là yếu tố tiềm năng cho thành công
hay thất bại của chỉnh hình răng mặt. Khả năng dự đoán tăng trưởng sẽ
cải thiện thực sự cho việc thiết lập kế hoạch điều trị đặc biệt là giai đoạn
đầu điều trị
20

Đánh giá mối quan hệ giữa “dự đoán” và các thông số “thực
tế” chung hai giới
Trong nghiên cứu hệ số Pearson tương quan (PPCC) đã được sử
dụng để đánh giá mối quan hệ giữa “dự đoán” và các thông số “thực tế”
chung hai giới, các PPCC phương pháp dự báo tăng trưởng của Ricketts
theo phần mềm V-Ceph 6.0
TM
đã được tìm thấy có một mức độ tương
quan cao r = 0,7 đến dưới 0,9 để dự đoán tốc độ tăng trưởng chung cả
hai giới thể hiện:
Chiều cao mặt toàn bộ (r = 0,834), độ nghiêng của trục răng cửa
hàm trên (r = 0,833), góc mặt phẳng hàm dưới (r = 0,744), độ nhô răng
cửa hàm trên (r = 0,719).
Tương quan kém thể hiện: Góc mặt phẳng khẩu cái (r = 0,282), độ
nhô của răng cửa hàm dưới so với mặt phẳng khớp cắn (r = 0,275),
chiều dài nền sọ trước (r = 0,197) (Bảng 3.17).
Kết quả chúng tôi tương tự Schulhof và Bagha (1975) [109] khi

phương pháp dự đoán của Ricketts theo phần mềm V-Ceph 6.0
TM
như
một công cụ để dự báo tốc độ tăng trưởng trong thời gian điều trị của
các cá nhân trong giai đoạn phát triển, nó có thể có những tác động thực
sự đến quá trình điều trị chỉnh hình răng.
4.4. Phân tích tương quan giữa các đặc điểm nghiên cứu
Qua kết quả về sự tương quan giữa các đặc điểm khảo sát trong
nghiên cứu, chúng tôi rút ra nhận xét như sau: đa số các đặc tính có mối
tương quan chặt chẽ với nhau đó là các đặc tính thể hiện mối tương
quan giữa xương và xương hoặc giữa răng và răng. Bên cạnh đó cũng
có một số mối tương quan đáng lưu ý trong giai đoạn tăng trưởng:
Chiều dài nền sọ sau – khoảng cách từ Po/PtV = 0,68 (14 tuổi)
(Bảng 3.22).
Chiều dài nền sọ sau, số đo này bao hàm lồi cầu và tương quan
khớp hoặc là vị trí lồi cầu đối với hõm khớp, khoảng cách từ Po/PtV
đánh giá sự tăng trưởng của đầu lồi cầu và sự thay đổi của điểm mốc
vào XHD. Khi chiều dài nền sọ sau tăng thì khoảng cách từ Po/PtV tăng
và ngược lại nghĩa là khi chiều dài nền sọ sau tăng thì khoảng cách từ
Po đến mặt phẳng PtV cũng tăng và ngược lại (mối tương quan thuận
chiều). Ricketts lấy khoảng cách từ điểm sau nhất của lồi cầu đến mặt
phẳng chân bướm làm chiều dài nền sọ sau, do sự đắp xương ở bờ sau
cành lên, xương hàm dưới tăng trưởng ra sau và mang theo lồi cầu, làm
tăng khoảng cách từ lồi cầu và mặt phẳng chân bướm, đồng thời kéo
theo sự di chuyển ra sau của lỗ ống tai ngoài (Biểu đồ 1, phần Phụ lục
3).
Tương quan giữa chiều dài nền sọ trước và chiều trước sau xương
hàm trên, xương hàm dưới và chiều cao các tầng mặt trước: chiều dài
nền sọ trước – chiều dài cành ngang xương hàm dưới r = 0,61 (12 tuổi)
(Bảng 3.20).

- Hình thái sọ mặt ở nam và nữ.
 Sự tăng trưởng của phức hợp sọ mặt ở giai đoạn từ 12 đến 15
tuổi diễn ra mạnh. Nam và nữ có cùng hướng tăng trưởng, nhưng khác
nhau về mức độ tăng trưởng.
 Hầu hết các số đo về kích thước ở từng lứa tuổi của nam lớn
hơn nữ theo từng thời điểm (p < 0,05): chiều dài nền sọ sau, khoảng
cách từ khớp thái dương hàm đến mặt phẳng chân bướm, chiều dài cành
ngang xương hàm dưới, độ nhô của môi dưới.
- Tăng trưởng sọ mặt từ 12 đến 15 tuổi theo phân tích Ricketts.
 Các số đo chiều dài nền sọ trước đều tăng tịnh tiến ở nữ, ở nam
tăng từ 12 – 15 tuổi có khuynh hướng tăng đều có ý nghĩa (p < 0,05);
chiều dài nền sọ trước từ 12 – 15 tuổi tăng 2,13mm.
23

 Hướng tăng trưởng chung của mặt tương đối ổn định theo
hướng xuống dưới và ra trước do góc trục mặt thay đổi không có ý
nghĩa (p > 0,05).
 Xương hàm trên duy trì tương quan với nền sọ và với xương
hàm dưới tương đối ổn định góc Ba–N–A không đổi
+ Độ lồi mặt thay đổi trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi không có
sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
+ Mức độ thay đổi góc cành lên do tăng trưởng diễn ra ở giai đoạn
từ 12 đến 15 không có ý nghĩa (p > 0,05).
+ Các răng cửa ngày càng nhô ra trước, giai đoạn 12 – 15 tuổi độ
nghiêng của trục răng cửa hàm dưới tăng trưởng không có ý nghĩa (p >
0,05).

2. So sánh và đánh giá mối tương quan giữa giá trị tiên đoán và thực tế
theo phân tích Ricketts khi sử dụng phần mềm V-Ceph 6.0
TM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status