đánh giá thử nghiệm lâm sàng cắt bè củng-giác mạc có sử dụng thuốc chống chuyển hoá 5-fluorouracil - Pdf 24

Đặt vấn đề
Glôcôm là một nhóm bệnh mắt rất nguy hiểm, có khả năng dẫn đến mù
loà nếu không được phát hiện và điều trị sớm. nguyên nhân và cơ chế bệnh
sinh khác nhau nhưng đều có ba triệu chứng khi bệnh toàn phát: nhãn áp cao,
thị trường thu hẹp, toe lâm gai thị [3].
Trên thế giới có khoảng 66,8 triệu người mắc bệnh Glôcôm trong đó có
khoảng 6,7 triệu người bị mù loà (10%) do bệnh gây ra [16].
Ở Việt Nam chưa có thống kê nào về tình trạng mắc bệnh Glôcôm trong
phạm vi toàn quốc nhưng theo thống kê tại Bệnh viện Mắt Trung ương có
khoảng 15% số bệnh nhân nhập viện mắc Glôcôm [3].
Điều trị Glôcôm nhằm mục đích hạ nhãn áp (NA) đến mức không thể
gây lõm gai thị, có nhiều phương pháp điều trị như điều trị nội khoa, sử dụng
laser, phẫu thuật. Trong đó phẫu thuật cắt bè củng – giác mạc là phương pháp
kiểm soát nhãn áp tốt nhất, nhưng cũng với thống kê thì sau 5 năm tỷ lệ phẫu
thuật thất bại là 30% (Theo Dall K. Heuer 1991). Phẫu thuật này còng có tiên
lượng xấu do khả năng tạo sẹo xơ xao [21]. Để tăng tỷ lệ thành công ở những
trường hợp này từ lâu người ta đã sử dụng các thuốc chống tăng sinh nguyên
bào xơ, đó là: 5-FU và Mitomycin. Đầu những năm 1980 nhóm nghiên cứu
FFSS (Fluorouraci Filtering Surgery Study Group) đã tiến hành mổ cắt bè củng
– giác mạc kết hợp tiêm 5-Fluorouracil (FU) sau mổ và đã thu được kết quả
thành công cao (70% - 100%) ở những bệnh nhân có nguy cơ thất bại cao.
Năm 1987 J.R. Edward đã tiến hành nghiên cứu trên 100 bệnh nhân gồm
148 mắt được chia làm hai nhóm ngẫu nhiên bằng nhau, nhóm I được phẫu
thuật cắt bè củng – giác mạc không sử dụng 5-FU áp trên nắp củng mạc trong
1
mổ. Kết quả cho thấy tỷ lệ tái phát sau 9 tháng của nhóm không sử dụng 5-FU
cao hơn nhóm có sử dựng 5- FU 19,7% [18].
Do có khả năng chống phân bào mạnh, 5- FU làm tăng tỷ lệ thành công
của phẫu thuật cắt bè củng- giác mạc nhưng cũng có thể gây ra các biến
chứng như: tổn thương biểu mô giác mạc, viêm đốm dưới biểu mô, dò sẹo
bọng [26]. Tuy nhiên những biến chứng này không nặng nề và có thể phục

vòng Schwalbe chỉ có 3 đến 4 lớp lá bè, nhưng ở cựa củng mạc có đến vài
chục lớp. Mỗi lá bè có chiều dài từ 30 đến 40µm, dày gần µm và trên đó có
những lỗ nhỏ đường kính từ 2 đến 12µm. Khoảng cách giữa những lá bè cũng
khác nhau khi đi từ trong ra ngoài, ở phần trong nơi tiếp giáp với bè màng bồ
đào chúng rộng từ 5 đến 6µm và chỉ rộng khoảng 2µm ở phần ngoài nơi tiếp
với vùng bè cạnh ống Schlemm.
3
+ Bè cạnh ống Schlemm (Juxtacanalicular mesh- work): dày khoảng 15
µm, là lớp ngoài cùng của lưới bè, tiếp giáp với thành trong của ống
Schlemm, cấu tạo bởi hai đến năm lớp tiếp bào tương đối biện hoá, sắt xếp
thành mạng lưới. Những tế bào này có phần bào tương tượng đối dài, chứa
nhiều vị sợi và có bộ máy Gôlgi cũng như hệ thống không bào rất phát triển.
1.1.1.1. Èng Schlemm:
- Èng có hình vòng, chạy song song với vùng rìa, bao quanh phái ngoài
vùng bè. ống dài khoảng 40mm và đường kính trung bình 0.282mm. Về tổ
chức học, ống có nhiều lỗ nhỏ, thành ngoài có khoảng 17 đến 35 ống có kích
thước như mét mao mạch nhỏ, nối chắp với nhau như một đám rối trong củng
mạc. Từ đám rối này lại có những nhánh thông đến đám rối thượng củng mạc
và kết mạc. [1].[3].[6].
1.1.1.2. Chỗ nối mống mắt – thể mi.
Chân mống mắt dính vào đáy của thể mi ở ngay phía sau cựa củng mạc,
phái trước cơ thể và vòng động mạch lớn của mống mắt. Vị trí của chỗ dính
có thể cao hay thấp tuỳ theo từng cá thể và quyết định độ sâu của tiền phòng.
Chân mống mắt tạo nên thành trong của góc tiền phòng. Đây là một thành di
động, nó bị ảnh hưởng bởi gradien áp lực [1].[3].[6].
1.1.1.3. Vùng rìa củng – giác mạc
Vùng rìa là nơi tiếp nối giữa giác mạc trong suốt ở phía trước và vùng
giác mạc trắng đục ở phía sau. Vùng rìa có hình nhẫn, rộng hơn ở phía trên
(1.5mm) và phái dưới (1mm), còn hai bên thì hẹp (0.8mm). Về mặt tổ chức
học vùng rìa có bốn lớp đi từ nông đến sâu [1].[3].[6]:

acid ascorbic (gấp 15 lần ở huyết tương máu động mạch).
Năm 1980 Jonathan Herschler làm thực nghiệm nuôi cấy tế bào trong
môi trường thuỷ dịch thì tế bào không phảt triển nhưng chỉ cần thêm một chút
môi trường nuôi cấy thì tế bào lại phát triển bình thường. Năm 1991 Henry
Jampel đã chứng mình acid ascornic kích thức sự sản sinh ra Hydrogen
peroxide – một chất gây độc tế bào, tại nồng độ 1,1 mmo1/1 của thuỷ dịch,
90% tế bào xơ bị chết.
- Như vậy thuỷ dịch bình thường có khả năng ức chế sự pháp triển của tế
bào là do thuỷ dịch bình thường có rất Ýt protein và rất cao nồng độ acid
ascorbic. Sau bất kỳ một thủ thuật nào can thiệp vào nội nhãn cũng làm phá
vỡ hàng rào máu – thuỷ dịch dẫn đến thuỷ dịch có nhiều protein và giảm nồng
độ acid ascorbic.
1.2.3. Lưu thông của thuỷ dịch sau phẫu thuật cắt bè củng – giác mạc:
- Cairns (1968) đã đề xuất cắt bè củng – giác mạc:
Có nhiều giả thuyết cùng lý giải sự hoạt động của lỗ dò và hình thành
bóng thấm trong phẫu thuật cắt bè củng – giác mạc. Các đường thoát cảu thuỷ
dịch từ tiền phòng ra ngoài nhãn cầu qua:
- 2 đầu cắt của ống Schlemm.
- Tách thể mi thuỷ dichk thoát vào khoang thượng hắc mạc.
- Thấm qua kênh nhỏ ở vát củng mạc.
- Thấm qua ôm liên kết của vát củng mạc.
6
- Thấm xung quanh bờ của vát củng mạc.
1.2.4. Cơ chế hoạt động của lỗ dò và sự hình thành bọng thấm:
- Tengchi và Katzin (1959) cho rằng thuỷ dịch có tác dụng ức chế
collagen và ngăn cản hình thành nguyên bào sợi. Sự tăng sinh của tế bào nội
mô sẽ tạo điều kiện hình thành một ống dẫn lưu (tế bào nội mô phủ vào bờ
cắt)và nhờ đó lỗ dò không bị lập đầy [32].
- John E. Cáin (1968) gợi ý rằng khi vùng bè được mở ra một lỗ thủng thì thuỷ
dịch có thể qua đó ngấm trực tiếp vào ống Schlemm từ thành bên của ống [32].

- Trong trường hợp không có bóng thấm, kết mạc mỏng, trong suốt
thường liên quan tới dò bọng thấm hoặc tắc nghễn lỗ dò.
Tuy nhiêun, theo Buskirk, biểu hiện lâm sàng của bọng thấm không phản
ánh đầy đủ, toàn diện về chức năng của nó và dựa trên hình ảnh lâm sàng ta
chỉ có thể dự đoán phần nào chức năng của bọng thấm [14].
1.2.5. Sự thất bại của phẫu thuật lỗ dò:
1.2.5.1. Nguyên nhân thất bại của phẫn thuật lỗ dò:
Phần lớn các phẫu thuật lỗ dò hình thành được bọng thấm có chức năng
tốt, NA điều chỉnh và bảo vệ được chức năng thì giác. Tuy nhiên ở một số
mặt có những yếu tố nội tại khiến nguy cơ thất bại cảu phẫu thuật lỗ dò tăng.
Glôcôm thứ phát (đặc biệt là sau viên màng bồ đào, Glôcôm tân mạch hoặc
sau một phẫu thuật nội nhãn khác) có tiên lượng xấu hơn Glôcôm tiên phát.
8
Những mặt không có thuỷ tinh thể, đã mổ bong vòng mạc hoặc đã qua một
phẫu thuật gây sẹo kết mạc rộng thường có tiên lượng xấu hơn nữa [14], [28].
Ngoài ra một số kỹ thuật trong phẫu thuật cũng có thể gây tăng sẹo xơ
và dẫn dến thất bại nh động tác phẫu thuật tồi, đốt cầm máu rộng [14].
Theo E. Michiael Van Búkurk (1992), sự thất bại của phẫu thuật lỗ dò
được chia làm hai loại:
• Thất bại do bản thân sẹo bọng (màng dưới kết mạc):
- Xuất hiện khoảng 6 tuần sau phẫu thuật.
- Tại vị trí lỗ dò xuất hiện màng xơ không thấm nước gồ cao hình vòm
có ranh giới rõ, trên mặt có nhiều mạch máu, kết mạc căng, phía rìa như bị
gắn dính vào lớp thượng củng mạc phía dưới.
• Thất bại tại lỗ dò:
Lỗ dò có thể bị tắc nghẽn tại 4 vị trí:
- Màng thượng củng mạc
- Vạt củng mạc khép chặt
- Xơ bít tại đường dò củng mạc (hiếm gặp)
- Bít miệng trong lỗ dò

vào củng mạc, tăng tính thấm của vùng sẹo xơ, kết quả đạt tốt 92% [36].
10
- Năm 1995, F. Shi, H. Shi và Z. Li tiến hành tiêm dưới kết mạc sau mổ
một liều nhỏ Homoharrigtonie (một dạng dược chất của Trung Quốc) nhằm
ngăn chặn sẹo xơ, kết quả có được 90,9% bệnh nhân có sẹo bọng tốt [27].
11
1.3. Đại cương về 5-FU và sự hàn gắn về thương sau phẫu thuật lỗ dò:
1.3.1. Bản chất về tác dụng của 5-FU:
- Bản chất: là chất chuyển hoá, dẫn chất của Pirimidine có gắn fluo.
- Tác dụng:
+ Tác dụng đặc hiệu trên chu kỳ phát triển của tế bào pha S và G2 đặc
biệt là pha S.
+ Tác động chủ yếu gây ức chế men trong quá trình tổng hợp AND.
+ Có khả năng kết hợp với ARN gây rối loạn quá trình tổng hợp Protein.
1.3.2. 5-FU trong cơ chế hình thành sẹo sau phẫu thuật lỗ dò:
- Từ những năm 80 của thế kỷ trước, 5-FU được sử dụng trên lâm sàng
nhãn khoa để phối hợp trong phẫu thuật cắt bè điều trị Glôcôm. Rất nhiều tác
giả đã nghiên cứu hiệu lực của 5- FU trong cơ chế hình thành sẹo sau phẫu
thuật cắt bè, 5-FU có tác dụng ức chế sự tăng sinh của nguyên bào xơ, trên tế
bào nuôi cấy cũng như trên thực nghiệm.
- Khaw P.T và công sự (1992) từ thực nghiệm và lâm sàng chỉ ra rằng
sau 5 phút tiếp xúc, 5-FU làm ngừng sự tăng trưởng và tác dụng kéo dài trên
tế bào xơ non Tenon nuôi cấy. Năm 1993 Khaw P.T đã áp 5- FU lên củng
mạc trong phẫu thuật lỗ dò mắt thỏ, ông nhận xét rằng các mắt NA trung bình
sau mổ thấp hơn NA trung bình của nhóm chứng (mổ lỗ dò thông thường) và
bọng thấm tạo được dẹt đi.
- Năm 1999, Gros R. L trong một nghiên cứu của mình lấy tế bào Tenon
trong phẫu thuật Glôcôm của các bệnh nhân (khác nhau về lứa tuổi, chủng
tộc, hình thái Glôcôm, về các phẫu thuật kết mạc trước đó. dùng thuốc chống
Glôcôm) nuôi cấy trong môi trường có 5- FU và Mytomycin- C. Nghiên cứu

- Các bệnh nhân nghiên cứu (NC) được chia làm hai nhóm: Nhóm I -
nhóm can thiệp (CT) (phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc có sử dụng 5- FU) và
nhóm II - nhóm đối chứng (ĐC) (phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc không sử
dụng 5-FU).
2.2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu:
Tất cả các bệnh nhân bị Glôcôm tái phát sau phẫu thuật cắt bè củng -
giác mạc Ýt nhất là một lần có NA ≥ 25mmHg được điều trị tại khoa Tổng
Hợp Bệnh viện Mắt Trung Ương từ tháng 03/2009 đên tháng 03/2010.
2.2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân nghiên cứu:
- Mắt Glôcôm tân mạch hoặc Glôcôm trên mắt không có TTT.
14
- Mắt Glôcôm tái phát có nguyên nhân do bít tắc miệng trong lỗ dò (do
mống mắt, thể mi, dịch kính, mạch máu )
- Mắt Glôcôm có kết mạc xơ sẹo, mủn mỏng không thể tạo được vạt kết
mạc.
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trong đó:
+ Nhóm can thiệp được phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc có sử dụng
thuốc chống chuyển hoá 5 - FU (nhóm I).
+ Nhóm đối chứng được phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc không sử
dụng thuốc chống chuyển hoá 5 - FU (nhóm II).
2.2.3. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu:
2.2.3.1. Cỡ mẫu:
2
21
2
221112/1
21
)(
)1()1()1(2

2
= 112 mắt, được phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm nghiên cứu.
2.2.3.2. Chọn mẫu
- Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chọn vào mẫu nghiên cứu. Để
đảm bảo tính ngẫu nhiên của nghiên cứu thì với mọi bệnh nhân đủ tiêu chuẩn
15
nhập viện vào ngày chẵn được chọn vào nhóm can thiệp, với mọi bệnh nhân
nhập viện vào ngày lẻ đủ tiêu chuẩn được chọn vào nhóm đối chứng.
- Chọn bệnh nhân từ 03/2009 cho đến 03/2010 (dự kiến khoảng 250
bệnh nhân)
2.2.4. Phương tiện thu thập thông tin:
2.2.4.1. Các máy móc dụng cụ khám và công cô thu thập số liệu:
- Bảng thị lực vòng hở Landolt và bộ kính thử khúc xạ.
- Bộ đo NA kế Maklakov, sử dụng quả cân 10g.
- Máy soi đáy mất cầm tay của hãng Karl - Zeiss.
- Thị trường kế Maggiore.
- Máy sinh hiển vi đèn khe.
- Kính soi góc tiền phòng Goldmann một mặt gương.
- Hồ sơ bệnh án theo dõi bệnh nhân, mẫu bệnh án nghiên cứu Glôcôm,
sổ sách ghi chép theo dõi bệnh án.
2.2.4.2. Phương tiện phục vụ phẫu thuật
- Máy sinh hiển vi phẫu thuật đồng trục.
- Bộ dụng cụ vi phẫu.
- Gelasponge.
- Thuốc: 5 Fluorouracil lọ 5ml (hãng Roche).
2.2.5. Kỹ thuật thu thập thông tin:
2.2.5.1. Phỏng vấn: Sử dụng biểu mẫu để thu thập các thông tin về:
- Họ tên, tuổi, giới, đã phẫu thuật glôcôm mấy lần? thời gian tái phát,
tiền sử gia đình
16

+ Khám toàn thân: đánh giá thể trạng bệnh nhân và làm các xét nghiệm
thường quy phục vụ cho phẫu thuật như xét nghiệm thời gian máu chảy, máu
đông, công thức máu, nước tiểu, X - quang tim phổi.
2.2.5.3. Phương pháp phẫu thuật
- Phương pháp phẫu thuật của nhóm can thiệp:
+ Chuẩn bị bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân đều được giải thích về cách
thức điều trị và tiên lượng sau điều trị.
+ Tiến hành phẫu thuật:
. Gây tê cạnh nhãn cầu bằng Lidocain 2% x 6 - 10ml
+ Các thì phẫu thuật chính:
. Cố định mi và cơ trực trên.
. Tách kết mạc cách rìa 7 - 8mm, cầm máu, cắt bớt bao Tenon.
. Rạch củng mạc hình trhang 4 x 6mm, sâu khoảng 2/3 chiều dày củng mạc.
. Đặt một miếng Gelaspone kích thước 3 x 4mm có thấm 5 - FU (nồng
độ 50mg/ml) lên nắp củng mạc, phủ kết mạc lên miếng Gelaspone. Sau 5 phút
lấy bỏ miếng Gelaspone.
. Rửa sạch 5 - FU bằng Ringerlactat (khoảng 20ml).
. Tiếp tục tạo nắp củng mạc.
18
. Cắt mẩu bè kích thước 1 x 2mm.
. Cắt mống mắt ngoại biên.
. Khâu nắp củng mạc bằng 2 mũi chỉ 10 - 0 khâu vắt kết mạc và bao
Tenon bằng chỉ 10 - 0.
. Tiêm Gentamycine 80mg 1/2ml và Hydrocortison 125mg x 1/2ml cạnh
nhãn cầu.
- Phương pháp phẫu thuật của nhóm đối chứng: Giống tất cả các thì phẫu
thuật của nhóm can thiệp chỉ khác là không sử dụng thuốc chống chuyển hoá
5 - FU.
2.2.5.4. Điều trị sau mổ
- Kháng sinh: Zinnat 250mg x 4 viên/ngày.

Giới Nam/Nữ Hái Bệnh án mẫu
Thị lực (TL) ĐNT - 10/10 Đo Bảng thị lực vòng
hở Landolt
Nhãn áp
(NA)
mmHg Đo Nhãn áp kế
Maklacov
Thị trường
(TT)
Độ (
0
) Đo Thị trường kế
Maggiore
Sẹo bọng Theo mức độ
(không
có/xấu/khá/tốt)
Khám Sinh hiển vi đèn
khe
Lâm gai Chia theo mức độ
(C/D)
Khám Máy soi đáy mắt
Xẹp tiền
phòng (TP)
Có/Không Khám Sinh hiển vi đèn
khe
Xuất huyết
tiền phòng
(XHTP)
Chia theo mức độ
(Độ 1/Độ 2/Độ 3)

* Kết quả thị lực: dựa vào bảng phân loại thị lực của tổ chức Y tế thế
giới (1997), thị lực bệnh nhân sau mổ được đánh giá theo các mức độ sau:
- Thị lực < đếm ngón tay (ĐNT) 3m
- Thị lực từ ĐNT 3m - 3/10
- Thị lực 3/10 - 7/10
- Thị lực > 7/10
Dùa theo phương pháp đánh giá thị lực của J.C Cheng (1997) trong
nghiên cứu n ày, chúng tôi đánh giá biến đổi thị lực có ý nghĩa khi: Thị lực
trên ĐNT: biến đổi Ýt nhất là 2 hàng theo bảng thị lực Landolt. Thị lực từ
ĐNT trở xuống: bất cứ một biến đổi thị lực nào so với trước mổ.
* Kết quả thị trường: đánh giá theo 3 mức độ ( > 50
0
, 50
0
- 15
0
, < 15
0
)
* Kết quả NA: Trong nghiên cứu chúng tôi đánh giá kết quả NA sau
phẫu thuật như sau:
- NA < 25mmHg: NA điều chỉnh tốt
- NA từ 25 - 32mmHg: NA bán điều chỉnh
- NA > 32mmHg: NA không điều chỉnh
* Kết quả về tình trạng lõm gai: được đánh giá với các biểu hiện:
- Lâm gai: < 3/10
- Lâm gai: 23/10 - 7/10
- Lâm gai: > 7/10
22
* Kết quả về sẹo tạo sau phẫu thuật:

95%CI.
- So sánh các biến chứng theo tuổi, giới
2.2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
- Nghiên cứu đã được sự đồng ý của Ban Giám đốc và Khoa tổng hợp
bệnh viện Mắt Trung ương.
- Chúng tôi đã giải thích cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trước
phẫu thuật và đã được chấp thuận.
24
Chương 3
Dự kiến kết quả
Các kết quả nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau:
3.1. Tình hình bệnh nhân trước phẫu thuật
3.1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Nhóm
Tuổi
Nhóm CT Nhóm ĐC
RR 95%CI
Nam Nữ Nam Nữ
< 20
20 - 29
30 - 39
40 - 49
50 - 59
60 - 69
> 69
Tổng
3.1.2. Tình trạng thị lực trước phẫu thuật
Bảng 3.2. Tình trạng thị lực trước phẫu thuật
Nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status