PHÂN VÙNG SINH THÁI lâm NGHIỆP ở VIỆT NAM - Pdf 24


BÁO CÁO CUỐI CÙNG

PHÂN VÙNG SINH THÁI LÂM NGHI
ỆP
Ở VIỆT NAM

Cơ quan thực hiện: RCFEE
Chủ trì và ñiều phối: Vũ Tấn Phương
Thư ký: Nguyễn Thuỳ Mỹ Linh
Các chuyên gia tham gia:
GS.TS. Nguyễn Ngọc Lung
GS.TSKH. ðỗ ðình Sâm
GS.TS. Nguyễn Xuân Quát
PGS.TS. Trần Việt Liễn
PGS.TS. Ngô ðình Quế
PGS.TS. Trần Văn Con
PGS.TS. Nguyễn ðình Kỳ
TS. Lại Vĩnh Cẩm
TS. ðỗ Hữu Thư
ThS. Ngô Tiền Giang
ThS. Hoàng Việt Anh
ThS. ðinh Thanh Giang
ThS. Phạm Ngọc Thành


3.3.5 Phân loại HSTR tự nhiên theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp 27
3.3.6 Các kiểu rừng sử dụng trong phân vùng STLN 28
4 Cơ sở khoa học của các tiêu chí cho phân vùng STLN 29
4.1 Khí hậu - thủy văn 30
4.1.1. Kinh nghiệm quốc tế 30
4.1.2. Phân vùng lãnh thổ theo khí hậu 31
4.4.3. Phân vị 31
4.4.3. Tiêu chí và các khuyến nghị phân vùng STLN 31
4.2 ðịa hình-ñịa mạo 33
4.2.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 33
4.2.2 Phân loại 33
4.2.3 Phân vị 34
4.2.4 Tiêu chí và khuyến nghị phân vùng STLN 35 iii
4.3 Thổ nhưỡng - lập ñịa 35
4.3.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 35
4.3.2 Phân loại 36
4.3.3 Phân vùng ñịa lý thổ nhưỡng 37
4.3.4 Phân vùng lập ñịa 37
4.3.5 Tiêu chí và khuyến nghị phân vùng STLN 37
4.4 Phân vùng STLN 40
4.4.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 40
4.4.2 Phân loại 42
4.4.3 Luận giải về lựa chọn phân vị 42
4.4.4 Tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp 43


Danh mục các bảng Bảng 1. Sự thay ñổi diện tích rừng Việt Nam, 1943 - 2009 10
Bảng 2. Trữ lượng rừng gỗ theo các vùng sinh thái (1000m
3
) 11
Bảng 3. Các kiểu rừng chính ở Việt Nam 29
Bảng 4. Tiêu chí về khí hậu cho mỗi phân vị phân vùng STLN 32
Bảng 5. Tiêu chí về ñịa chất/ñịa mạo ñể phân vùng STLN 35
Bảng 6. ðề xuất tiêu chí phân chia thổ nhưỡng trong phân vùng STLN 39
Bảng 7. Tổng hợp bộ tiêu chí phân vùng STLN ở Việt Nam 45
Bảng 8. Sự khác biệt giữa phân vùng sinh thái nông nghiệp và lâm nghiệp 48
Bảng 9. Tên và diện tích vùng và tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp 51
Bảng 10. Tóm tắt ñặc trưng của các vùng và tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp. 53
gia trong việc tham gia ñóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện báo cáo này.
Mặc dù Nhóm nghiên cứu ñã có nhiều cố gắng, song do hạn chế về thời gian và nguồn lực,
nên chắc chắn báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong sự ñóng góp
của các cơ quan và các chuyên gia ñể việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp ngày càng ñược
hoàn thiện. vi
Các từ viết tắt

C & I Bộ tiêu chí và chỉ số sinh thái ñể phân vùng
COP Hội nghị các bên
ðDSH ða dạng sinh học
ðTQHR ðiều tra quy hoạch rừng
FAO Tổ chức Nông lương thế giới
FSIV Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
GHG Khí nhà kính
HST Hệ sinh thái
HSTR Hệ sinh thái rừng
IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến ñổi khí hậu
IUCN Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
KHNN Khí hậu nông nghiệp
LHQ Liên hợp quốc
MRV ðo ñếm, lập báo cáo và thẩm ñịnh
NN-PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
REDD Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng
REL Mức phát thải tham khảo

sau khi giai ñoạn cam kết ñầu tiên của Nghị ñịnh thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012.
REDD là viết tắt cụm từ tiếng Anh Reducing Emission from Deforestation and Forest
Degradation in Developing Countries – nghĩa là Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái
rừng ở các nước ñang phát triển.
Ở Việt Nam, REDD ñược thực hiện thông qua 3 tổ chức của Liên hiệp quốc là UNDP, FAO
và UNEP và ñược gọi tắt là chương trình UN-REDD. Một trong những mục tiêu chính của
UN-REDD Việt Nam là hỗ trợ Tổng Cục Lâm Nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn và các cơ quan ñầu mối thiết lập ñược và quản lý các công cụ ñể thực hiện một
chương trình REDD hiệu quả, minh bạch, công bằng. ðảm bảo rằng các cơ quan ñầu mối có
khả năng ño lường giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng một cách chính xác và tuân
thủ ñúng các tiêu chuẩn quốc tế.
Trong các hoạt ñộng liên quan ñến tính toán giảm phát thải thì việc xây dựng mức phát thải
tham khảo (Reference Emision Level = REL) và hệ thống ño ñếm, lập báo cáo và thẩm ñịnh
(Measurement, Reporting and Verification = MRV) là hết sức quan trọng. Ở cấp ñộ ñánh giá
mức quốc gia (Tier 1), các tính toán về hấp thụ và phát thải chủ yếu dựa trên số liệu về phân
vùng sinh thái của các kiểu rừng cơ bản của Việt Nam. Trên cơ sở các kiểu rừng trong một
phân vùng sinh thái có năng suất sinh học tương ñối ñồng nhất, chúng ta có thể tính toán sơ
bộ mức hấp thụ/ phát thải toàn quốc cho lĩnh vực lâm nghiệp.
Cho tới nay chưa có hệ thống phân vùng sinh thái lâm nghiệp nào tại Việt Nam. Có chăng
chỉ là các hệ thống phân loại rừng, hay phân chia các kiểu thảm thực vật rừng, mà không
ñịnh vị ñược các kiểu ñó ñược phân bố tự nhiên tại ñâu? trung tâm vùng phân bố, phạm vi
phân bố, và dự báo tiềm năng năng suất của mỗi vùng, ứng với mỗi kiểu rừng ra sao ? Các
câu hỏi này chính là nội dung của việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp nhằm mục ñích làm
cơ sở cho việc xây dựng các Mức phát thải tham khảo (REL), và ño ñếm, lập báo cáo, thẩm
ñịnh (MRV). 3
Những cơ sở pháp lý ñầu tiên của nhà nước về phân vùng lãnh thổ của các ngành kinh tế, các
ngành chuyên môn từ những năm 60,70 của thế kỷ trước là thông tư 193/UB/VP ngày
11/2/1963 của Ban phân vùng kinh tế thuộc Ủy Ban Kế hoạch nhà nước, và Quyết ñịnh
270/CP ngày 30/9/1977 của Hội ñồng Chính Phủ, nay là Chính phủ ñã hướng dẫn và thực 4hiện việc phân vùng kinh tế theo các chuyên ngành cụ thể dưới ñây:
1. Kinh tế
2. ðịa lý tự nhiên
3. ðịa chất công trình
4. Kinh tế ngành
5. ðịa lý kinh tế
6. Sinh thái nông nghiệp
7. Các chuyên ngành kinh tế khác
Các chuyên ngành ñã tiến hành phân vùng dựa trên một hoặc nhiều phương án mục tiêu, và
sử dụng kết quả phân vùng trong nhiều năm nay. Dưới ñây mô tả một số phân vùng có liên
quan ñến nghiên cứu này.
1) Phân vùng kinh tế ngành: Phân chia lãnh thổ ñất nước theo chiều dọc thành các vùng
kinh tế ngành, làm căn cứ cho nhà nước, tổ chức, quản lý theo ngành.
Phân vùng kinh tế ngành nhằm mục ñích xác ñịnh hợp lý phương hướng phát triển chủ yếu
của ngành trong vùng, hiện tại cũng như tương lai, kết hợp ñúng ñắn giữa các ngành trong kế
hoạch hóa và trong tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân theo ngành và theo lãnh thổ, phân
vùng kinh tế ngành còn là cơ sở cho quy hoạch vùng kinh tế.
Có hai dạng phân vùng kinh tế ngành là phân vùng công nghiệp và phân vùng nông nghiệp.
Mỗi dạng lại chia ra các phân ngành như trong công nghiệp có phân vùng khai thác than, dầu
mỏ, hơi ñốt, phân vùng luyện kim ñen… còn trong nông nghiệp có phân vùng trồng trọt,
chăn nuôi…

yếu tố ñặc trưng khác: Các hiện tượng và quá trình ñịa chất ñộng lực công trình, ñịa chất
thủy văn, tính chất cơ lý của ñất ñá.v.v.
Xét tổ hợp các ñiều kiện ñịa chất công trình ñể ñánh giá mức ñộ thuận lợi của từng phân vị
ñối với xây dựng. Tùy theo tỷ lệ bản ñồ ñược thành lập và ñặc ñiểm của lãnh thổ, có thể
phân nhỏ hơn nữa các phân vị trên, hoặc gộp chúng lại. Bản ñồ phân vùng ñược lập riêng
hoặc biểu thị chung trên bản ñồ ñịa chất công trình.
5) Phân vùng khí hậu thủy văn: Hệ thống phân vị sơ ñồ phân vùng khí hậu dựa trên hai
ñặc trưng, một là phân hóa về tài nguyên nhiệt, hai là phân hóa về tài nguyên ẩm. Hiện nay
ñang sử dụng phổ thông phân vị hai cấp là miền khí hậu và vùng khí hậu (Nguyễn ðức Ngữ,
2008).
• Miền khí hậu: phân ñịnh theo tài nguyên nhiệt (biên ñộ/năm, tổng bức xạ/năm); hiện
có hai miền là miền bắc và miền nam.
• Vùng khí hậu: Trên mỗi miền, theo chỉ tiêu mưa ẩm (mùa mưa, ba tháng mưa cao
nhất) ñã phân vùng lãnh thổ thành 7 vùng khí hậu thủy văn sau ñây: vùng Tây Bắc,
vùng ðông Bắc, vùng ðồng bằng Bắc Bộ, vùng Bắc trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ,
vùng Tây nguyên, vùng Nam bộ.
6) Phân vùng sinh thái nông nghiệp: Bộ NN&PTNT phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 7
vùng ñể phục vụ cho việc quy hoạch, phát triển nông nghiệp. Các vùng sinh thái nông
nghiệp gồm: Trung du và miền núi phía Bắc; ñồng bằng sông Hồng; duyên hải bắc Trung
bộ; duyên hải Nam Trung bộ; Tây Nguyên; ðông Nam bộ và ðồng bằng sông Cửu Long.
Như vậy có sự khác nhau trong việc phân chia lãnh thổ theo ngành chuyên môn so với phân
vùng sinh thái nông nghiệp, hoặc vùng sinh thái lâm nghiệp mà chúng ta ñang nghiên cứu kể
cả tên gọi của phân vị cơ bản là vùng, ví dụ vùng ðồng bằng Bắc bộ hay vùng ðồng bằng
Sông Hồng, vì trong vùng còn có hệ thống sông Thái Bình.
2.1.2 Cấp phân vị và tên gọi
Hiện chưa có sự nhất quán trong tên gọi, số lượng và khái niệm của các cấp phân vị không
phải chỉ do mục ñích của sự phân vùng, mà còn tùy thuộc vào quan niệm và phương pháp
của tác giả hay nhóm tác giả phân vùng.
sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi;…
Trong tổng quan này sẽ tổng hợp các hệ thống phân vùng lâm nghiệp từ trước ñến nay làm
cơ sở lựa chọn các tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở Việt Nam. Trước hết, cần phải
tìm hiểu một số khái niệm làm cơ sở cho việc phân vùng sinh thái:
• Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan ñịa lý và có chức 7năng sinh thái của hệ sinh thái (HST) ñang tồn tại và phát triển ở trên ñó.
• Cấu trúc của cảnh quan sinh thái gồm có cấu trúc của cảnh quan và cấu trúc của HST
lồng vào nhau trong một thể thống nhất. Ví dụ về cấu trúc cảnh quan: nền ñá, ñịa hình,
thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu…; về cấu trúc HST: vật chất vô cơ, hữu cơ, sinh
vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy.
• Dạng cảnh quan sinh thái ñược ñặc trưng bởi sự ñồng nhất nền ñá và các thể hình thái về
tiểu hoặc trung ñịa hình ñơn giản; tiểu hoặc khí hậu ñịa phương; các ñặc ñiểm thủy văn
quy mô tương ứng; các ñơn vị ñất; các quần xã thực vật.
• Chức năng sinh thái là sự vận ñộng và biến ñổi vật chất, năng lượng và hình thái của các
thành phần cấu trúc trên. Ví dụ: ngọn núi, ñồng bằng, các mô hình sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, v.v.
• Vùng sinh thái là một ñơn vị lãnh thổ có cấu trúc ñồng nhất tương ñối bởi tính trội phát
sinh của một kiến trúc ñịa chất thuộc một ñới ñịa chất; Tập hợp các thể hình thái ñại ñịa
hình ñược ñặc trưng tổng hợp tất cả các hợp phần tự nhiên: khí hậu, thủy văn, thổ
nhưỡng, sinh vật, v.v, ví dụ: vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, v.v.
• Khu sinh thái ñược hình thành bởi một ñới cấu trúc ñịa chất có chung lịch sử phát triển
và ñặc ñiểm kiến tạo là tập hợp các thể hình thái ñại ñịa hình lớn hơn vùng sinh thái, có
cùng ñặc ñiểm về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, v.v, ví dụ: vùng kinh tế, tỉnh,
v.v.
• Miền sinh thái ñược hình thành trong miền ñịa chất hay khu vực ñịa chất có chung ñặc

Phân vùng phải bảo ñảm các nguyên tắc: i) Có sự ñồng nhất tương ñối của sự phân hóa các
chỉ tiêu phân vùng; ii) Có sự lựa chọn các nhân tố trội trong khi xem xét các biểu hiện mang
tính ổn ñịnh của HST tự nhiên; iii) Bảo ñảm toàn vẹn lãnh thổ tiện cho việc khai thác, bảo vệ
và quản lý vùng.
2.2.2 Những công trình phân vùng sinh thái ở Việt Nam
1) Phân vùng sinh thái ñất trồng ngô (Trần An Phong và nnk, 2000). Lãnh thổ ñất liền Việt
Nam ñược chia thành 3 miền và 9 vùng.
2) Phân vùng sinh thái thủy lợi Miền trung (Viện thủy lợi miền Nam, 2008) ñã phân chia
miền trung thành 4 vùng sinh thái là: Cát ven biển, ñồng bằng, gò ñồi trung du, núi cao.
3) Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ñồng bằng sông Hồng (Cao Liêm, 1990). Trong 3
loại ñất là bạc màu, chua mặn, úng trũng, ñã phân chia 8 vùng, 13 tiểu vùng, thể hiện trên
bản ñồ tỷ lệ 1/250.000.
4) Phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản 8 tỉnh ven biển ñồng bằng sông Cửu Long
(ðHQG TP HCM) trên bản ñồ tỷ lệ 1/250.000 ñến 1/100.000 v.v.
5) ðược sử dụng hiệu quả và rộng rãi nhất là công trình “Phân vùng sinh thái nông nghiệp”.
Sự phân chia lãnh thổ thành các vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở các
ñiều kiện sinh thái như ñất, nước, khí hậu khác nhau. Phân vùng sinh thái nông nghiệp tạo cơ
sở cho việc sử dụng tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả tối ưu, phát huy ñầy ñủ tiềm năng
của từng vùng nhằm lựa chọn ñúng các loại hình sử dụng ñất nông -lâm nghiệp. 9Việt nam ñã hoàn thành việc phân vùng sinh thái nông nghiệp, toàn lãnh thổ ñược chia thành
7 vùng là: miền núi và trung du Bắc bộ, ñồng bằng sông Hồng, duyên hải Bắc Trung bộ,
Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, ðông Nam bộ và ñồng bằng sông Cửu Long.
Phân vùng sinh thái nông nghiệp ở Việt nam ñã làm cơ sở tốt cho việc xây dựng quy hoạch
tổng thể các vùng kinh tế cũng như quy hoạch sử dụng ñất của các tỉnh trong toàn quốc.
Phân vùng sinh thái nông nghiệp gắn kết rất chặt chẽ với phân vùng sinh thái lâm nghiệp, và

10Trong khi nhân tố vĩ ñộ, và nhân tố ñịa ñới ảnh hưởng không rõ rệt ñến các hệ sinh thái rừng
và năng suất sinh học của chúng, thì sự chênh lệch theo ñộ cao lại có ảnh hưởng lớn tới việc
hình thành các hệ sinh thái ôn ñới núi cao (các kiểu phụ theo ñộ cao), và năng suất sinh học
của chúng, thông qua nhiệt ñộ, lượng mưa, giờ chiếu sáng, thổ nhưỡng, ñịa mạo. Mô tả chi
tiết về các kiểu rừng ñược nêu trong mục 3. Ba phần tư diện tích lãnh thố Việt Nam là ñồi
núi, trong ñó phân bố thực vật từ ñộ cao 1.000 m là có thay ñổi rõ nét, trong khi các dãy Bi-
ñúp, Chư-yang-sin, Ngọc Linh ở miền Nam có ñộ cao trên 2.000 m, còn ở miền Bắc thì
nhiều dãy núi tương tự hoặc cao hơn và cao nhất là dãy Hoàng Liên, có ñỉnh Phan-xi-păng
cao khoảng 3.143 m.
Năm 1943 số liệu diện tích rừng Việt Nam ñầu tiên ñược công bố là 14,3 triệu ha (P.
Maurant, 1943), khi ñó toàn bộ diện tích rừng là rừng tự nhiên và ña số là rừng nguyên sinh.
Qua hai cuộc chiến tranh 1945 -1954, và 1965-1975 diện tích Việt Nam ñã giảm xuống còn
11,2 triệu ha. Tốc ñộ giảm diện tích rừng nhanh nhất là 15 năm sau khi ñất nước thống nhất
(1975) và ñến năm 1990 diện tích rừng ñạt mức thấp nhất là 9,17 triệu ha, chiếm khoảng
64% diện tích rừng thống kê vào năm 1943. Từ năm 1990 trở ñi, thông qua các chương trình
327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và ñiều kiện giảm thiểu sức ép lương thực, củi ñốt, nên
diện tích rừng ñã tăng lên 11,3 triệu ha vào năm 2000 và 13,3 triệu ha năm 2009, ñạt xấp xỉ
93% diện tích rừng ban ñầu. Tuy nhiên, diện tích rừng tăng chủ yếu là 3 triệu ha rừng trồng,
còn rừng tự nhiên phục hồi chậm hơn, các hệ sinh thái nguyên sinh chỉ còn lại trong vùng lõi
của các khu bảo tồn hoặc các vườn quốc gia. Bảng 1 chỉ rõ xu thế thay ñổi diện tích rừng
của Việt Nam trong 60 năm qua.
Bảng 1. Sự thay ñổi diện tích rừng Việt Nam, 1943 - 2009
Diện tích rừng, triệu ha Thay ñổi so với
1990
Năm
Tự nhiên Trồng Tổng
Rừng bao

ánh khối lượng hiện trạng của rừng, chứ chưa thể dự báo tiềm năng năng suất của các hệ
sinh thái sẽ ñược phục hồi. Bảng 2 là kết quả kiểm kê năm 2005 về trữ lượng gỗ của các loại
rừng theo 8 vùng sinh thái.
Bảng 2. Trữ lượng rừng gỗ theo các vùng sinh thái (1000m
3
)
Hạng
mục
Toàn
quốc
Tây
Bắc
ðông
Bắc
ðồng
bằng
sông
Hồng

Bắc
Trung
Bộ
Nam
Trung
Bộ
Tây
nguyên
ðông
Nam
Bộ


183.274

130.436

285.663

63.186

770

% RTN

93,4

96,0

76,5

66,2

95,3

89,5

99,0

95,7

14,0


1,0

4,3

86,0

Nguồn: Bộ NN-PTNT, Qð 1267 ngày 05-05-2009.
3.1.2 Tài nguyên ðDSH rừng
ðiều kiện sinh thái có ảnh hưởng quyết ñịnh ñến tính ña dạng của HSTR. Lãnh thổ lục ñịa
Việt Nam trải dài từ vĩ tuyến 8
O
35’ Bắc ñến vĩ tuyến 23
O
24’ Bắc, phía Nam tiếp cận gần với
vùng xích ñạo, phía Bắc giáp với ñai Á nhiệt ñới. Việt Nam có khí hậu nhiệt ñới gió mùa, có
mùa ñông lạnh và cận xích ñạo. Bờ biển dài 3.260 km từ Móng Cái ñến Hà Tiên, nơi có rừng
ngập mặn, nơi có rừng phi lao trên cát. ðịa hình ñồi núi chiếm ba phần tư lãnh thổ, từ vùng
ven biển ñến ñồng bằng, trung du, cao nguyên, vùng núi. Chính ñiều kiện ñịa hình này ñã
làm cho Việt Nam không chỉ có khí hậu nhiệt ñới gió mùa mà còn có cả khí hậu á nhiệt ñới
và ôn ñới núi cao. Không kể miền khí hậu biển ðông, khí hậu lục ñịa có 3 miền khí hậu
(phía Bắc, ðông Trường Sơn, phía Nam) với 10 vùng khí hậu ñặc trưng cho các vùng sinh
thái khác nhau (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất ðắc, 1978). ðiều kiện ñịa hình và khí hậu trên
ñây ñã tạo nên nhiều quá trình hình thành ñất khác nhau. Việt Nam không chỉ có những lớp
ñất nhiệt ñới ñiển hình như ñất Feralit, ñất nâu và ñất ñen nhiệt ñới, v.v. mà còn có cả lớp ñất
á nhiệt ñới, lớp ñất phụ á nhiệt ñới vùng núi và cả ñất vàng alít pốtzôn hoá trên núi cao.
Tính ðDSH của rừng Việt Nam ñược ñánh giá là rất cao, không chỉ trong vùng mà cả trên
thế giới. Về khu hệ thực vật, ngoài những yếu tố bản ñịa, ñặc hữu, Việt Nam còn là nơi hội
tụ của 3 luồng thực vật di cư từ Trung Quốc, Ấn ðộ - Himalaya, Malayxia - Inñônêxia và
các vùng khác kể cả ôn ñới.

sát và 295 loài thú.
3.2 Các hệ sinh thái rừng, cơ sở khoa học của phân loại và áp dụng
3.2.1 Khái niệm về HSTR
Sinh thái học (Ecology), theo ðỗ Hữu Thư (2010), bắt nguồn từ chữ Hy Lạp “Oikos”có
nghĩa là nơi sống, nhà ở, “Logos” là môn học, khoa học. Theo nghĩa này nó là khoa học về
nơi ở của sinh vật.
ðã từ lâu trong ý thức của nhiều nhà khoa học và trong một số công trình của mình ñã có nội
dung sinh thái học. Ví dụ trong công trình của Conrad von Gesner (1555), công trình của
J.Ray (1717), A.v.Haller (1732), J.P.de Tournefort (1727) ñã chỉ ra ảnh hưởng của ñộ cao và
vĩ ñộ ñến phân bố của các loài thực vật. J.G. Gmelin (1750) ñã so sánh sự giống nhau và
khác nhau của hệ thực vật vùng Siberi với vùng núi Châu Âu. P.S. Pallas (1741) ñã chỉ ra sự
phụ thuộc của một số thảm thực vật vào khí hậu. C.L. Willdenow (1792) ñã chỉ ra mối quan 13hệ giữa thực vật với môi trường. Ông ñã tìm cách chia Châu Âu thành các tỉnh hệ thực vật
khác nhau, nhưng mãi ñến năm 1823 J.F. Schouw mới hoàn thành công trình chia thảm thực
vật trên trái ñất thành các vựng (tỉnh).
Công trình ñịa thực vật (Geobotanik) của A.F. Humboldt (1807) “Ideen zu einer Geographie
der Pflanzen” ñã ñề cập rất sâu về mối quan hệ giữa thảm thực vật với các yếu tố môi
trường. Công trình của J.Liebig (1840, 1843) ñã chỉ ra mối quan hệ giữa phân bón với năng
suất một số cây trồng. Từ công trình này tác giả ñã ñưa ra ñịnh luật tối thiểu, một trong
những ñịnh luật cơ bản của sinh thái học hiện ñại. Tuy nhiên thuật ngữ sinh thái học
(Ecology) chỉ mới xuất hiện lần ñầu tiên vào năm 1858 trong bức thư của nhà văn người Mỹ
Henry David Thoreau và ñến năm 1866 nó mới ñược E.Haeckel ñưa ra ñịnh nghĩa trong
cuốn sách về “hình thái chung của các cơ thể”. Theo tác giả thì sinh thái học là khoa học
chung về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường. Từ năm 1870 tác giả chỉnh lý bổ sung
làm sáng tỏ thêm ñịnh nghĩa sinh thái học.


143.2.2 Các cấp bậc (hợp phần) của sinh thái học
Từ bậc cơ thể trở lên, các nhà sinh thái học kinh ñiển ñã chia sinh thái học thành 5 cấp (theo
R.Schubert 1986, H.J. Mueller 1988) theo trình tự từ thấp ñến cao:
• Cá thể (Autecology) thuật ngữ do J. Schroeter ñưa ra năm 1896.
• Quần thể (Populationecology = Demecology) do F.Schwerdtfeger, 1968
• Quần xã (Biogeocenos = Synecology= community) do Schroeter, 1902.
• Quần hệ hay Hệ sinh thái (Ecosystem= Biome)
• Sinh quyển (biophere).
Do tiếng Việt ñược biên dịch từ tiếng hán, nên khó nhớ, khó phân biệt các cấp bậc. ðiều cần
nhớ ở ñây là ñơn vị cấp quần xã (biogeocenos hoặc community), và cấp bậc quần hệ hay hệ
sinh thái, là các ñơn vị ñược sử dụng thường xuyên.
ðiều khác biệt giữa sinh thái học cá thể và sinh lý học cần ñược nhấn mạnh là: STH cá thể
nghiên cứu phản ứng của toàn bộ cơ thể sinh vật với môi trường, cũng ngược lại, sinh lý học
nghiên cứu phản ứng của từng bộ phận cơ thể sinh vật (theo Dương Hữu Thời, 1998). Tất
nhiên sinh lý học luôn gắn với nhau.
Hiện nay cũng có nhiều tác giả cho rằng chỉ có khái niệm môi trường, chứ không có khái
niệm môi trường sinh thái. Thế nhưng H.J.Mueller (1988) ñã phân biệt rất rõ khái niệm môi
trường (Umwelt, Environment) với môi trường sinh thái (Oekologische Umwelt).
3.2.3 Các HSTR chủ yếu ở Việt Nam
Trừ các HSTR thuần loài có cấu trúc giản ñơn, chiếm tỷ trọng diện tích nhỏ trên lãnh thổ
như rừng lá kim, rừng tràm, rừng tre nứa, và nay có thêm các HST rừng trồng, ña số rừng
nhiệt ñới là rừng hỗn loài, rừng hỗn loài nguyên sinh hoặc ít bị tác ñộng, rất cần cho nghiên
cứu dự báo năng suất sinh học ñều chỉ còn phân bố trong các khu Bảo tôn thiên nhiên, vườn
quốc gia, những nơi chưa mở mang ñường xá, và vùng sâu, vùng xa, núi cao hẻo lánh. Dưới
ñây tổng hợp các hệ sinh thái rừng tự nhiên ñiển hình:
1. Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt ñới (Evergreen closed tropical humid

(Melastomaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), v.v.
• Tầng cỏ quyết (Climber storey) C: cao không quá 2 m. thuộc các họ Ô rô
(Acanthaceae), họ Gai (Urticaceae), họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng
(Zingiberaceae), họ Hành tỏi (Liliaceae) và những loài dương xỉ, v.v.
Các kiểu phụ miền thực vật trong HSTR này gồm:
• Khu hệ thực vật Nam Việt Nam – Malaixia – Inñônêxia (Flora of Sothern Vietnam –
Malaysia and Indonesia), ưu hợp họ Dầu (Dipterocarpaceae):
ðặc trưng cơ bản dễ nhận biết của kiểu phụ này là ñộ ưu thế của các loài cây họ Dầu
(Dipterocarpaceae) ở các tầng trên. Phần lớn các loài cây rừng ñều thường xanh như
Sao ñen (Hopea odorata), Kiền kiền (Hopea pierrei), Săng ñào (Hopea ferrea ), Táu
mặt quỉ (Hopea mollissima), Táu lá nhỏ (Vatica tonkinensis), Táu muối (Vatica
fleuryana), Chò ñen (Parashorea stallata), v.v. Ở miền Nam, ñặc biệt là Tây
Nguyên, loài cây tiêu biểu cho họ Dầu là Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Dầu ñồng
(Dipterocarpus turberculatus).
Ngoài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), còn có những loài cây bản ñịa thường xanh
thuộc các chi: Gụ (Sindora), Ràng ràng (Ormosia), Muồng (Cassia), v.v, thuộc họ
ðậu (Leguminosae); Dẻ ñá (Lithocarpus), Dẻ (Castanopsis), Sồi (Quercus) v.v,
thuộc họ Dẻ (Fagaceae); Trâm (Syzygium), Eugenia thuộc họ Sim (Myrtaceae); Trà
(Camellia), Huỳng nương (Terstoemia), Vối thuốc (Schima) thuộc họ Chè
(Theaceae); Bứa (Garcinia), Vắp (Mesua), Cà lồ (Calophyllum) thuộc họ Bứa
(Clusiaceae); Sấu (Dracotomelum), Xoài mủ (Bouea), v.v, thuộc họ Xoài
(Anacardiaceae); Gội (Aglaia), Gội gác (Aphanamixis), Chặc khế (Dysoxylon),
Quyếch (Chisocheton) thuộc họ Xoan (Meliaceae).
Các ưu hợp (dominant groups) chính bao gồm: ưu hợp Sao ñen (Hopea odorata); ưu
hợp Kiền kiền (Hopea pierrei); ưu hợp Chò chỉ ( Parashorea chinensis); ưu hợp Chò
nâu (Dipterocarpus tonkinensis); ưu hợp Dầu rái (Dipterocarpus alatus); các ưu hợp
táu (Vatica sp.); ưu hợp Vên vên (Anisoptera costata). 16

pasquieri) . Ngoài ra còn có nhiều loài cây rụng lá khác như các loài dẻ (Quercus
acutissima, Quercus serrata, Quercus griffithii), Bồ ñề (Styrax tonkinensis), Xoan ta
(Melia azedarach), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis). Có quần thể tổ thành loài
cây rụng lá gần như thuần loài như Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) ở Con Cuông
(Nghệ An), Sau sau (Liquidamba formosana ) ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và Biển ðộng
(Bắc Giang) Khu hệ thực vật Việt Nam có nhiều loài cây rụng lá thuộc các họ: họ
Dầu (Dipterocarpaceae), họ ðậu (Leguminosae), Bàng (Combretaceae), ða tích
(Datiscaceae), Trôm (Sterculiaceae), ðào lộn hột (Anacardiaceae), Xoan
(Meliaceae), Nhãn (Sapindaceae), ðinh (Bignoniaceae), Du (Ulmaceae), Dâu tằm
(Moraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
• Kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản ñịa Bắc Việt Nam - Nam Trung
Hoa và khu hệ di cư Ấn ðộ - Myanma: Kiểu phụ miền này có các loài cây rụng lá
thuộc các họ Xoan (Meliaceae), Nhãn (Sapindaceae), ðậu (Leguminosae), Xoài 17(Anacardiaceae), Dẻ (Burseraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
3. Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi ñá vôi (Evergreen broad leaved forests on
limestone)
Núi ñá vôi phân bố trong 24 tỉnh và thành phố nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc
và Bắc Trung Bộ. Các tỉnh có núi ñá vôi là: ðiện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà
Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Có thể phân vùng núi ñá vôi thành 5 vùng như sau: vùng
Cao Bằng - Lạng Sơn; vùng Tuyên Quang - Hà Giang; vùng Tây Bắc - Tây Hoà Bình -
Thanh Hoá; vùng Trường Sơn Bắc và vùng quần ñảo.
Phân bố theo vĩ ñộ thì HSTR này phân bố từ Hà Tiên ñến Cao Bằng (23
o
B), chủ yếu từ

• Tầng thảm tươi (C): gồm các cây thân thảo thấp (dưới 2 m) thuộc các họ: Araceae,
Acanthaceae, Urticaceae, Zingiberaceae, Begoniaceae, Convallariaceae, v.v. Thực
vật ngoại tầng gồm dây leo thuộc các họ: Nho (Vitaceae), ðậu (Fabaceae), Mồng gà
(Connaraceae) và các cây bì sinh, kí sinh thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Tầm gửi
(Loranthaceae), họ Ráy (Araceae),v.v. 18b) Rừng thường xanh sườn núi ñá vôi (Evergreen forests on limestone slopes):
Các loài cây của rừng thường xanh sườn núi ñá vôi gồm có: Ruối ô rô (Streblus ilicifolius),
Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Quất hồng bì (Clausena lansium), Lòng tong (Walsura
sp.), Arytera sp, Sếu (Celtis sp.), Trai (Garcinia fagraeoides), Phoebe sp, Lát hoa (Chukrasia
tabularis), Táo vòng (Drypetes perreticulata), An phong (Alphonsea sp.), Mại liễu (Miliuisa
balansae), cơm rượu (Glycosmis sp.), Thị (Diospyros sp.), Búng báng (Arenga pinnata),
Máu chó (Knema sp.), Cách hoa (Cleistanthus sumatranus), nhọc (Polyalthia sp.), Bình linh
(Vitex sp.), gội (Aglaia gigantea), Dâu da xoan (Spondias lakonensis), v.v.
c) Rừng kín thường xanh ñỉnh núi ñá vôi (Evergreen forests on top of limstones)
Cấu trúc rừng ñơn giản thường chỉ 1 ñến 2 tầng gồm những cây cao từ 8 - 15m như: Chân
chim (Schefflera spp.), Sầm (Memecylon spp.), Sến ñất (Sinosideroxylon sp.), Bông mộc
(Boniodendron sp.), Bì tát (Pistasia cucphuongensis.), Cánh kiến (Mallotus philippensis).
Thực vật tầng thấp là những loài cây bụi như Mua (Melastoma spp.), Trâm (Syzygium spp.)
và lớp thảm tươi như Ráng cánh bần (Dryopteris spp.), Ráng cổ lí (Colysis cucphuongensis),
Ráng yểm dực (Tectaria spp.), Quyển bá (Selaginella spp.), Riềng (Alpinia spp), Thu hải
ñường (Begonia spp), Bóng nước (Impatiens spp.), thuốc bỏng (Kalanchoe sp.) với các loài
cây thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthus spp.), dây leo như Vằng
(Jasminum sp.), Mảnh bát (Coccinia grandis), ðại hái (Hodgsonia macrocarpa), v.v.
3.2. Rừng núi ñá vôi ở ñai cao 700 - 1.000 m (Forests on limstones with elevation of 700 –
1000m)

các loài như: các loài Tuế (Cycas spp.), Hoàng ñàn (Cupressus torulosa), Hoàng ñàn giả
(Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri),
Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Du sam ñá vôi (Keteleeria davidiana var. davaniana),
Sam bông sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), Sam bông sọc trắng (Amentotaxus
yunnanensis), Thông ñỏ (Taxus chinensis), Sam kim hỷ (Pseudotsuga chinensis), Bách vàng
(Xanthocyparis vietnamensis). Tầng thấp chủ yếu là các loài cây như Thanh hương (Pistacia
weimanifolia), Cồng (Calophyllum bonii), Mắc mật (Clausena indica), Huyết giác
(Dracaena cambodiana), Han (Laportea sp.), Thu hải ñường (Begonia sp.), Mã hồ (Mahonia
nepalensis), Cỏ lá tre (Setaria palmifolia), v.v.
d) Rừng lùn cây lá rộng ñỉnh núi ñá vôi (Short broadleave forest on top of limestone)
Cấu trúc rừng chỉ có một tầng với những cây gỗ nhỏ chiều cao khoảng 6-10 m. Các loài ñặc
trưng như: Tuế (Cycas spp.), Thiết sam giả (Pseudotsuga chinensis), Thiết sam giả lá ngắn
(P. brevifolia ), Thiết sam ñông bắc (Tsuga chinensis), Hồi núi (Illicium griffithii), các loài
Ngũ gia bì (Schefflera spp), Dẻ (Quercus spp., Lithocarpus spp.), Chè núi (Ternstroemia
japonica), Pistacia weimanifolia), ðỗ quyên (Ericaceae) như: Rhododendron spp.,
Vaccinium dunalianum và các loài re (Cinnamomum sp.), Lài núi (Jasminum lanceolarium),
Câng (Tirpitrzia sinensis), v.v.
4. Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên (Natural needle leave forests)
Hệ sinh thái rừng lá kim gồm 2 dạng: hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt ñới núi thấp phân bố
chủ yếu ở vùng núi như Yên Châu, Mộc Châu (Sơn La), Nghệ An, Hà Giang, ðà Lạt (Lâm
ðồng), v.v, và hệ sinh thái rừng lá kim ôn ñới núi cao trung bình phân bố chủ yếu ở Sa Pa
(Lào Cai), Tuần Giáo (Lai Châu) Hà Giang, Tây Côn Lĩnh (Cao Bằng), Chư Yang Sinh
(Nam Trung Bộ), Lâm ðồng, v.v. Các hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên gồm:
a) Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt ñới núi thấp (Lowland sub-tropical needle leave forest)
Ở miền Nam, tầng cây gỗ chủ yếu Thông nhựa (Pinus merkusii), Thông ba lá (Pinus kesiya)
mọc lẫn với Trà beng (Dipterocarpus obtusifolius). Ở miền Bắc, ñiển hình là cây Du sam
(Keteleeria davidiana), Thông nhựa (Pinus merkusii). Có 2 kiểu phụ thuộc hệ sinh thái này:
• Kiểu phụ miền thân thuộc với khu hệ thực vật Ấn ðộ - Myanma: Ở miền Nam ñặc
trưng rừng thông nhựa (Pinus merkusii) tự nhiên với các loài mọc xen lẫn như Dầu
trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dẻ ñá (Lithocarpus harmandii), Giổi bà

m. mọc hỗn loài với Actinodaphne sinensis, Phoebe sp, Litsea baviensis v.v… thuộc họ Re
(Lauraceae), và dẻ gai (Castanopsis hickelii) thuộc họ Dẻ (Fagaceae). Tầng A
2
cao từ 10 -
20 m bao gồm một số loài cây thuộc họ Re (Lauraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Máu
chó (Myristicaceae) và họ Du (Ulmaceae). Tầng B gồm một số loài cây Blastus sp, Cau rừng
(Pinanga baviensis ), loài Lasianthus sp, dương xỉ thân gỗ (Gymnosphoera podophylla ),
Sặt (Arundinaria sp).
5. Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu (Dry dipterocarp forest)
Rừng khộp phân bố tập trung ở tỉnh ðắc Lắc, Gia Lai. Ngoài ra còn có ở Di Linh (Lâm
ðồng) và những ñám rừng khộp nhỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Sông Bé, Tây
Ninh. Về vĩ ñộ, rừng khộp phân bố từ vĩ ñộ 14
o
B (Gia Lai) ñến vĩ ñộ 11
o
B (Tây Ninh). Về
ñộ cao so với mực nước biển, rừng khộp phân bố tập trung ở ñộ cao từ 400 - 800 m.
Khu hệ thực vật rừng khộp có liên quan ñến khu hệ thực vật Malaixia - Inñônêxia với tổ
thành loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế. Khu hệ thực vật rừng khộp bao
gồm 309 loài cây thuộc 204 chi, 68 họ, trong ñó có hơn 90 loài cây gỗ với 54 loài cây gỗ
lớn, gỗ trung bình.
Ngoài những loài cây họ Dầu chiếm ưu thế còn có: Cẩm xe (Xylia xylocarpa) thuộc họ
Trinh nữ (Mimosaceae), Lọng bàng (Dilleniahe terosepala) thuộc họ Dilleniaceae, ðẻn
(Vitex pendencularia) thuộc họ Verbenaceae, Mà ca (Buchanania arborescens) thuộc họ

Trích đoạn Tiêu chắ và các khuyến nghị phân vùng STLN Phân loại Thổ nhưỡng lập ựịa Phân vùng lập ựịa Phân vùng STLN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status