ViÖn nghiªn cøu trung Quèc
Trung t©m nghiªn cøu ®µi loan
=============
®Ò tµi cÊp viÖn
kinh tÕ §µi Loan tríc vµ sau khi
gia nhËp WTO
Ngêi thùc hiÖn: ths. dvl
Hµ néi
mở đầu
I. Lý do nghiên cứu
Ngày 12-11-2001, 24 giờ tiếp theo CHND Trung Hoa, Đài Loan cũng đã
trở thành thành viên của WTO. Điều đáng chú ý là, Đài Loan gia nhập WTO
không phải với t cách một Nhà nớc có chủ quyền mà là Khu vực thuế quan
riêng biệt Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ (gọi tắt là Đài Bắc-Trung
Quốc). Để trở thành thành viên WTO, Đài Loan cũng đã trải qua một quá trình
đàm phán và chờ đợi kéo dài 12 năm ròng rã, trong đó 10 năm đàm phán với
các đối tác, 02 năm chờ đợi theo quy tắc Trung Quốc trớc, Đài Loan sau.
Theo các nhà khoa học Đài Loan, việc Đài Loan gia nhập WTO là một thắng
lợi về ngoại giao, một cột mốc trong việc Đài Loan hội nhập vào xã hội
quốc tế, tuy nhiên về mặt kinh tế-xã hội, Đài Loan sẽ gặp phải nhiều khó khăn
thách thức. Trớc đây, mức độ mở cửa thị trờng của Đài Loan trên một số lĩnh
vực nh nông nghiệp, xe hơi, đồ điện gia dụng, rợu và thuốc lá, ngành xây dựng,
ngành dịch vụ chuyên nghiệp v.v...đều tơng đối thấp. Vì vậy, sau khi gia nhập
WTO, Đài Loan đứng trớc sức ép cạnh tranh rất lớn với các sản phẩm cùng
chủng loại của nớc ngoài, nhất là với Trung Quốc đại lục, tỷ lệ thất nghiệp sẽ
tăng lên. Điều đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo Đài Loan phải có sự điều chỉnh về
mặt chính sách nhằm tái cấu trúc lại nền kinh tế trên 3 phơng diện nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ.
Việt Nam và Đài Loan tuy xa cách nhau về địa lý, nhng lại có nhiều điểm
tơng đồng về lịch sử, văn hoá. Từ khi Việt Nam thực hiện đờng lối đổi mới năm
1986, nhất là từ khi ban hành Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đến nay, mối
kiện chính trị cho phép là gia nhập; phân tích những lợi thế và bất lợi thế của
Đài Loan khi gia nhập WTO.
2. Quá trình đàm phán và cam kết của Đài Loan với các đối tác và với
WTO. Phần này tập trung tìm hiểu và phân tích những cam kết và lộ trình thực
hiện những cam kết đó của Đài Loan, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và một
số ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ.
3. Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với kinh tế, xã hội Đài
Loan.
4. Nhận xét, đánh giá mang tính so sánh nền kinh tế Đài Loan trớc và sau
khi gia nhập WTO.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày rõ lý do, mục tiêu, phơng pháp và những
nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài. Có thể thấy rằng, đây là một đề tài còn
ít đợc tìm hiểu và nghiên cứu ở Việt Nam, duy chỉ có đề tài cấp bộ năm 2005
Sự điều chỉnh chính sách của Đài Loan sau khi gia nhập WTO và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam do TS. Đỗ Tiến Sâm làm chủ nhiệm mà chúng tôi
cũng là thành viên đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này. Dựa trên đề tài
cấp bộ đó chúng tôi đã tiến hành điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với yêu cầu
của một đề tài cấp viện. Còn ở Đài Loan, đây cũng là vấn đề vẫn đang đợc tiếp
tục nghiên cứu và tranh luận với nhiều ý kiến khác nhau. Tuy vậy, trong thời
gian ngắn, tập thể tác giả chúng tôi, đã hết sức cố gắng su tầm tài liệu để bổ
sung và chỉnh lý để hoàn thiện đề tài này. Chúng tôi ý thức sâu sắc rằng, dù có
cố gắng nhng cũng không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế, rất mong nhận đợc
những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu và các bạn đồng nghiệp.
Trung tâm nghiên cứu Đài Loan
Nội dung:
Chơng I
Bối cảnh kinh tế quốc tế
Thế giới đã bớc sang thiên niên kỷ thứ ba với những biến động và chuyển
đổi rất phức tạp. Việc nghiên cứu động thái và chiều hớng phát triển của kinh tế
thế giới trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới không những giúp chúng ta
rằng, năm 2002 kinh tế thế giới không phục hồi tốt nh dự đoán. Tốc độ tăng tr-
ởng của kinh tế thế giới chỉ đạt 2,8%, tăng 0,6% so với mức 2,2% năm 2001,
thấp hơn 1,9% so với mức tăng 4,7% năm 2000. Liên hợp quốc đánh giá nền
kinh tế toàn cầu phát triển chậm lại, với mức tăng GDP đạt 1,7%, giảm 0,1% so
với mức tăng 1,8% đa ra hồi tháng 4-2002. Các nền kinh tế lớn nh Mỹ, Nhật
Bản, EU đều phát triển không vững chắc, cha tạo đợc đà thúc đẩy các nền kinh
tế khác tăng trởng. Tại diễn đàn G-20 (nhóm 20 nớc, bao gồm cả G8) bàn về
việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới hiện nay, IMF, WB và nhiều quan chức của
nhóm G7 (nhóm 7 nớc công nghiệp phát triển chủ chốt) đều thống nhất nhận
định, mảng xám của nền kinh tế thế giới ngày càng bị tô đậm thêm khi mà cả
ba đầu tầu kinh tế: châu Âu, Nhật Bản và Mỹ đều trong tình trạng chết máy.
Tổng giám đốc IMF, ông Horst Koehler đã phải thốt lên rằng, hàng loạt các
định chế tài chính của tổ chức này và WB đang áp dụng cho sự tăng trởng kinh
tế của nhiều nớc chỉ thu đợc một con số không tròn trĩnh.
Khác với năm 2001 và năm 2002, năm 2003 kinh tế thế giới đã không rơi
vào khủng hoảng nh những dự báo đa ra hồi cuối năm 2002 bất chấp cuộc chiến
tranh Irắc, dịch bệnh viêm đờng hô hấp cấp (SARS) và d âm của sự kiện 11-9.
Từ năm 2003, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi và phát triển. Tuy nhiên, do
những nhân tố đặc thù về địa lý, kinh tế và chính trị, sự phục hồi kinh tế ở mỗi
quốc gia, khu vực rất khác nhau, tạo nên bức tranh toàn cảnh của kinh tế thế
giới với những gam mầu sáng đa dạng.
Chiến tranh I-rắc kết thúc nhanh chóng làm các nhà kinh tế thở phào. Giá
dầu trở lại mức bình thờng, nền kinh tế thế giới đã không phải trải qua cuộc
khủng hoảng. Hội nghị Bộ trởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng nhóm G-
20 nhận định, nền kinh tế thế giới đang trong quá trình phục hồi. Các chính
sách kinh tế hiệu quả của nhiều nớc đã góp phần tạo nên sự phục hồi này. Uỷ
ban châu Âu và IMF đánh giá GDP thế giới tăng 3,2% năm 2003 (đúng với dự
đoán đa ra hồi đầu năm), tăng 0,4% so với mức tăng 2,8% năm 2002 và tăng
1% so với mức tăng 2,2% năm 2001. Trong đó, tốc độ tăng trởng kinh tế tại các
nớc đang phát triển khả quan hơn, đạt 5% năm 2003 (WB đánh giá 4%), tăng
khi phục hồi hoàn toàn vào năm 2004. Theo đó, GDP chỉ tăng 2,2%, mặc dù
cao hơn năm 2001 là 1,1%, song vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức tăng trởng
ngoạn mục 5,2% năm 2000 và các năm trớc đó (con số của OECD là 2,3% năm
2002). Thất nghiệp ở mức 5,9% - mức cao nhất trong gần một thập kỷ qua. Tại
cuộc họp nội các vào trung tuần tháng 11-2002, Tổng thống Mỹ G. Bush đã bày
tỏ lo ngại trớc thực trạng phát triển không vững chắc của nền kinh tế Mỹ. Ông
Bush cam kết sẽ thảo luận với các nghị sĩ về cách thức kích thích phát triển nền
kinh tế khi Quốc hội mới khóa 108 do đảng Cộng hòa kiểm soát bắt đầu đi vào
hoạt động từ tháng 1-2003. Trong đó có đề xuất mới, cắt giảm thuế hơn nữa để
kích thích tăng trởng kinh tế.
Sang năm 2003, sau khi tăng trởng chậm lại trong sáu tháng đầu năm do bị
ảnh hởng của cuộc chiến trang ở I-rắc, kinh tế Mỹ đã lấy lại đợc đà tăng trởng
trong sáu tháng cuối năm. Tốc độ tăng trởng GDP đạt 8,2% trong quý III, vợt
xa dự đoán của các nhà phân tích kinh tế và là mức kỷ lục trong 19 năm qua, kể
từ quý I - 1984. Điều đó dẫn tới tăng trởng GDP của Mỹ trong năm 2003 đạt
2,6% (đây là số liệu của IMF). Mặc dù mức tăng trởng này chỉ bằng một nửa so
với mức tăng ngoạn mục năm 2000 (5,2%), song vẫn cao hơn 0,4% so với mức
tăng 2,2% năm 2002 và cao hơn 1,5% so với mức tăng 1,1% năm 2001. Sau gần
hai năm suy yếu và bất ổn, thị trờng lao động ở Mỹ đã và đang có nhiều dấu
hiệu phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp tuy còn ở mức cao, song đã giảm dần. Sự tăng
trởng kinh tế Mỹ khiến nhiều nhà phân tích kinh tế trên thế giới hy vọng nền
kinh tế Mỹ sẽ lấy lại đợc sự phát triển nhanh chóng trớc đây.
III. Kinh tế Nhật Bản
Nền kinh tế Nhật Bản cũng ngày càng khó khăn hơn. Tính đến cuối tháng
3-2001, tổng nợ công của chính phủ Nhật Bản đã lên đến khoảng 5,5 nghìn tỷ
USD, tơng đơng 130% GDP của Nhật. Các khoản vay khó đòi của hệ thống
ngân hàng Nhật Bản đã lên tới 150 nghìn tỷ yên (1,2 nghìn tỷ USD), chiếm 22%
tổng số tiền cho vay, trong đó 1/4 là thuộc về các công ty có nguy cơ phá sản.
Chỉ số Nikkei trung bình giảm 1,35% xuống còn 13.864,76 điểm, mức thấp
nhất trong 16 năm qua, còn đồng yên thì xuống giá tới mức 123,85 yên/USD.
đang tiếp sức cho sự phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản.
Những chính sách kinh tế của chính phủ Nhật Bản bớc đầu đã có hiệu quả
và đợc lòng dân. Tại cuộc họp báo mở đầu một nhiệm kỳ mới, Thủ tớng Nhật
Bản, ông J. Koizumi tuyên bố tiếp tục công cuộc cải cách kinh tế để đa kinh tế
Nhật Bản tăng trởng, giảm bớt một số quy định phiền hà và t nhân hóa một số tổ
chức kinh tế nh bu điện và hệ thống đờng cao tốc, hạn chế chi tiêu cha cần thiết.
Tuy vậy, theo nhận định của các nhà kinh tế, những gì mà Nhật Bản đang phải
đơng đầu không chỉ là sự điều chỉnh mang tính chu kỳ mà là cả một sự quá độ
qua trọng mang tính lịch sử, một kỷ nguyên của sự điều chỉnh hợp chất kinh
tế xã hội, không chỉ ảnh hởng đến nền kinh tế mà còn đến cả hệ thống chính trị
và xã hội nói chung.
IV. Kinh tế Liên minh châu Âu (EU)
Đầu tầu kinh tế Liên minh châu Âu tuy không lao vào vòng xoáy của cuộc
suy thoái nh Nhật Bản, nhng mức tăng trởng của khu vực này cũng giảm mạnh.
IMF, OECD và Ngân hàng Trung ơng châu Âu (ECB) đánh giá, tăng trởng GDP
của EU chỉ đạt 1,1% năm 2002, giảm 0,6% so với mức tăng 1,7% năm 2001 và
2,5% so với mức tăng 3,6% năm 2000. Trong đó, tốc độ tăng trởng GDP của
khu vực đồng EURO là 0,75%. Theo IMF, tình hình kinh tế khu vực đồng
EURO năm 2002 là đáng thất vọng, và khu vực này đã đóng góp thêm vào
những mối lo ngại sẽ xảy ra sự suy thoái kép của thế giới với hoạt động kinh tế
có vẻ đã mất đà sau sự phục hồi đầy hứa hẹn vào đầu năm 2002. ECB đa ra
những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tốc độ tăng trởng kinh tế là do
sự phát triển chậm lại của nền kinh tế thế giới. Xuất khẩu - một yếu tố quan
trọng dẫn đến tăng trởng cũng bị chững lại và điều này dẫn đến giảm sút đầu t.
Thêm vào đó, những vụ bê bối kế toán công ty và các thị trờng chứng khoán sụp
đổ cũng làm xói mòn lòng tin. Tăng trởng kinh tế của các nớc lớn trong EU đều
bị giảm sút mạnh. Trục Đức-Pháp là đầu tầu kinh tế của khu vực này đều gặp
rất nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách lớn.
Tại Đức, tăng trởng GDP chỉ đạt 0,2% năm 2002, thấp hơn 0,55% so với
mức tăng 0,75% năm 2001 và thấp hơn 2,7% so với mức tăng 2,9% năm 2000.
các nớc Asean tiếp tục duy trì đợc tốc độ tăng trởng GDP khá cao 4,5% so với
mức tăng 4,1% năm 2002: Thái Lan đạt tốc độ tăng GDP 6%, Inđônêxia 3,5%,
Malaixia 4,2%, Phillipin 4%. Riêng các NIE châu á đạt tốc độ tăng trởng kinh
tế kém nhất trong khu vực, GDP bình quân chỉ tăng 2,2%, mặc dù cao hơn
nhiều so với mức tăng trởng -0,9% năm 2001, song lại thấp hơn 2 lần so với
mức tăng 4,7% năm 2002: Xingapo do bị ảnh hởng nặng bởi dịch bệnh SARS
nên tăng trởng kinh tế chỉ đạt khoảng 1%, vợt qua mục tiêu chính thức, nhng tỉ
lệ thất nghiệp lại ở mức cao nhất trong hơn 20 năm qua, khoảng 5%; Hàn Quốc
phải đối phó với tình trạng khan hiếm tín dụng, các cuộc bãi công trên toàn
quốc và thiên tai nên GDP chỉ tăng 3,1%; Kinh tế Hồng Kông rơi vào tình trạng
suy thoái với GDP tăng 2,1%. Các nớc Nam á đạt tốc độ tăng trởng GDP bình
quân 5,5%. Trong đó, kinh tế ấn Độ vững mạnh và vẫn duy trì đợc tốc độ tăng
trởng cao.
Trong các nền kinh tế châu á, Trung Quốc đạt tốc độ tăng trởng GDP cao
nhất. Phó Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc, ông Ngô Bang Quốc đánh giá Trung
Quốc vẫn duy trì đợc động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Mặc dù bị ảnh hởng
tiêu cực bởi dịch viêm đờng hô hấp cấp, nhng những nhân tố cơ bản của nền
kinh tế Trung Quốc vẫn không thay đổi. Năm 2003, tăng trởng kinh tế của
Trung Quốc vẫn đạt mức cao 8,5% và đứng đầu khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng. Các ngành công nghiệp trụ cột nh công nghiệp chế tạo thiết bị thông tin
điện tử, cơ điện, chế tạo máy, chế tạo phơng tiện giao thông vận tải... tăng trởng
nhanh và đóng góp tới 50,7% đối với toàn bộ ngành công nghiệp nói chung.
Điều đó cho thấy, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đang bớc vào thời kỳ
mới công nghiệp nặng hóa của công nghiệp hóa. Sự phát triển nhanh chóng
của ngành công nghiệp trụ cột và ngành kinh doanh bất động sản, có liên quan
mật thiết với sự nâng cấp cơ cấu tiêu dùng và cơ chế của thị trờng trong nớc.
Đây sẽ là nguồn lực chủ yếu để kinh tế Trung Quốc tăng trởng liên tục bền
vững trong mời năm tới. Kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc tiếp tục gia
tăng. Trong ba quý đầu năm 2003, xuất khẩu tăng 32,2% đạt 308 tỷ USD, nhập
khẩu tăng 40,5% đạt 299 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2002. Dự trữ ngoại hối
phát hành vào năm 1946 là 5,3 tỷ; năm 1947: 17,1 tỷ; năm 1948: 142 tỷ và
năm 1949 là 527 tỷ Đài tệ
3
. Nền kinh tế Đài Loan khi đó đợc ví nh một cơ
thể ốm yếu, chênh vênh bên bờ vực thẳm, chỉ đôi chút sai lầm là vô phơng
cứu vãn.
Sau khi rời đại lục ra lập chính quyền tại Đài Loan vào tháng 12-1949,
chính quyền Quốc Dân đảng đã thực thi chính sách khôi phục và phát triển
kinh tế đúng đắn, đa Đài Loan thoát khỏi đói nghèo, vơn dậy mạnh mẽ và trở
thành một trong những nền công nghiệp mới phát triển vào thập kỷ 70 thế kỷ
XX. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đài Loan đã tích cực thực hiện
chiến lợc quốc tế hóa, từng bớc hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế toàn
cầu. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng tạo nên kỳ tích kinh tế Đài
Loan. Có thể nói, với chính sách hớng ngoại thiết thực, đầy hiệu quả, nền
kinh tế Đài Loan đã có sự chuẩn bị khá kỹ càng trớc khi gia nhập Tổ chức
Thơng mại thế giới, phù hợp với những yêu cầu nghiêm ngặt của tổ chức này.
I. Các chính sách phát triển kinh tế Đài Loan từ năm
1949 đến năm 2002
2
Chơng Thắng Nham: Lịch sử khai phát Đài Loan. Đại học Không Trung (Đài Loan), 1996, tr.30.
3
Ngô Vinh nghĩa: Sách lợc phát triển công nghiệp Đài Loan. Hội nghiên cứu quốc tế về phát triển kinh tế xã
hội ngời Hoa, 1986, tr.120.
Những thành quả mà Đài Loan giành đợc trong lĩnh vực kinh tế đã chứng
minh rõ tính đúng đắn, sáng tạo của hệ thống chính sách đợc thực thi suốt
chặng đờng dài một phần hai thế kỷ, trớc khi khu vực này chính thức trở thành
thành viên Tổ chức Thơng mại thế giới. Có thể khẳng định, chính quyền Đài
Loan không chỉ xác định đúng đắn chiến lợc phát triển kinh tế lâu dài, mà còn
định ra những bớc đi cũng hết sức hợp lý trong mỗi thời kỳ, phù hợp với yêu
cầu và trình độ xây dựng kinh tế - xã hội từng giai đoạn. Nhìn lại hệ thống
thuế cho nông dân, chính quyền Đài Loan quy định mức thu tô nhất loạt không
đợc vợt quá 37,5% tổng sản lợng thu hoạch nông phẩm chính vụ; những nơi
đang có mức thu tô thấp hơn tỷ lệ đó không đợc điều chỉnh cao hơn. Tính đến
năm 1952 đã có trên 29% đất canh tác đợc giảm tô, với 43% số nông dân có
cuộc sống đợc cải thiện hơn rất nhiều
5
.
Bớc thứ hai: phóng lĩnh đất công
Tính đến năm 1952, diện tích đất công ở Đài Loan có khoảng 181 ngàn
héc-ta, xấp xỉ 21% tổng diện tích đất canh tác toàn đảo
6
. Nhằm từng bớc xác lập
quyền sở hữu ruộng đất của ngời nông dân, tháng 6-1951, chính quyền Đài
Loan ban hành văn bản Biện pháp phóng lĩnh đất công cho nông dân tự
canh, với nội dung cụ thể nh sau: ngoài những phần đất cần giữ lại vì mục đích
bảo vệ nguồn nớc hoặc xây dựng công trình công cộng, số còn lại sẽ bán cho
nông dân; giá đất bán đợc tính bằng giá trị sản phẩm thu hoạch cả năm trên
mảnh ruộng đó nhân với 2,5; ngời mua đất trả tiền trong 10 năm, định kỳ mỗi
năm 2 lần, sau khi trả đủ tiền, quyền sở hữu ruộng đất thuộc về ngời mua. Từ
năm 1951 đến năm 1964, chính quyền Đài Loan đã bán 110 ngàn ha ruộng cho
246 ngàn hộ nông dân, bình quân mỗi hộ đợc quyền sử dụng 0,49 ha.
Bớc thứ ba: thực hiện ngời cày có ruộng
Đây là mục tiêu cuối cùng, cũng là mục tiêu đích thực của công cuộc cải
cách ruộng đất. Tháng 1-1953, chính quyền Đài Loan công bố Điều lệ thực
hiện ngời cày có ruộng, với 3 nguyên tắc cơ bản: đa lại ruộng đất cho nông
dân; chiếu cố lợi ích của địa chủ và chuyển vốn bán ruộng của địa chủ vào các
ngành sản xuất công nghiệp trọng điểm. Giá bán đất và kỳ hạn trả tiền đợc áp
dụng nh quy định phóng lĩnh đất công. Giá đất địa chủ bán cho chính quyền
ngang bằng giá đất bán cho nông dân. Chính quyền Đài Loan trả tiền bán đất
cho địa chủ dới hai hình thức: 70% bằng sản phẩm nông nghiệp thu hoạch hàng
Loan phải báo cáo khối lợng tiền phát hành với chính quyền tỉnh và Uỷ ban
quản lí phát hành tiền tệ
7
. Mặc dù cha thật sự ổn định và vẫn còn nhiều khó
khăn, song nhờ các biện pháp cải cách phù hợp, tình trạng lạm phát đã từng bớc
đợc đẩy lùi ở Đài Loan.
7
Tống Văn Bu: Lịch sử phát triển tài chính tiền tệ Đài Loan. Nxb Hợp tác kim khố, 1994, tr.107-108.
Quản lí ngoại tệ
Đầu thập kỷ 50 thế kỷ XX, cùng với khó khăn tột cùng do lạm phát và tốc
độ gia tăng giá sinh hoạt, Đài Loan còn phải đối mặt với tình trạng thiếu ngoại
tệ nghiêm trọng. Vì thế, quản lí ngoại tệ là khâu quan trọng, nhằm vừa đáp ứng
yêu cầu nhập khẩu mở rộng sản xuất nội địa, vừa tăng tích luỹ ngoại tệ, góp
phần giữ vững sự ổn định về kinh tế. Để quản lí tốt ngoại tệ, chính quyền Đài
Loan đã áp dụng hai biện pháp chủ yếu là cấp giấy chứng nhận thanh toán
ngoại tệ cho các doanh nghiệp và quy định tỷ giá hối đoái. Theo quy định, tất
cả các ngành xuất khẩu, vận tải biển, bảo hiểm và các ngành có thu nhập ngoại
tệ khác đều đợc ngân hàng thanh toán 20% số ngoại tệ thu đợc bằng đồng tiền
Đài Loan theo tỷ lệ 1USD = 5NT; số còn lại sẽ nộp cho ngân hàng để nhận giấy
chứng nhận đã thanh toán ngoại tệ. Cùng với chế độ cấp giấy chứng nhận thanh
toán ngoại tệ là chế độ nhiều tỷ giá hối đoái, dành riêng cho từng đối tợng sử
dụng ngoại tệ. Hai biện pháp trên nhằm khống chế giá cả và quản lí nguồn thu
cũng nh khối lợng ngoại tệ lu thông trên thị trờng, góp phần bình ổn giá cả, cân
đối thu chi. Sau này, do yêu cầu phát triển kinh tế, ngày 12-4-1958, chính
quyền Đài Loan cho công bố Phơng án cải tiến mậu dịch ngoại tệ và Biện
pháp quản lí mậu dịch ngoại tệ - thực hiện cấp giấy phép thanh toán ngoại tệ
cho hầu hết các chủng loại hàng nhập khẩu và từng bớc điều chỉnh, đi đến thực
hiện thống nhất một tỷ giá hối đoái.
Nhờ áp dụng các chính sách, biện pháp hữu hiệu, chỉ sau một thời gian
ngắn (1949-1953), chính quyền Đài Loan đã nhanh chóng đa nền kinh tế thoát
mục lớn cần u tiên. Theo thống kê, thời gian 1954-1956, Đài Loan đã nhập từ
Mỹ và Nhật Bản nhiều loại máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp và những
thiết bị dùng để chế tạo máy nông cụ nh máy cày, máy bừa, máy làm cỏ, máy
gặt... Số lợng máy kéo dùng trong nông nghiệp tăng từ 249 chiếc năm 1952 lên
387 chiếc vào năm 1957; số máy cày tăng từ 3.000 chiếc năm 1952 lên 18.000
chiếc vào năm 1960
8
.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Đài Loan thực hiện chiến lợc phát triển các
ngành thay thế nhập khẩu, nhằm mục tiêu vừa vực dậy các ngành công nghiệp
8
Production yearbook 1960. FAO, Rome, 1961, tr267
truyền thống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trờng nội địa, vừa tiết kiệm tối
đa nguồn ngoại tệ đang còn khan hiếm. Để thực hiện chiến lợc quan trọng này,
chính quyền Đài Loan đã áp dụng một số biện pháp hết sức hiệu quả và phù hợp
với yêu cầu xây dựng kinh tế khi đó. Trớc hết, Đài Loan thi hành nghiêm ngặt
chế độ quản lí nhập khẩu, kiên quyết hạn chế, tạm đình chỉ hoặc cấm nhập một
số mặt hàng cha thực sự cần thiết đối với Đài Loan, hoặc những mặt hàng có
khả năng chế tạo tại chỗ. Đi kèm với chế độ hạn chế nhập khẩu là chế độ thuế
quan nghiêm ngặt đợc áp dụng theo tỷ lệ khác nhau đối với các mặt hàng cho
phép, hạn chế, tạm đình chỉ hoặc cấm nhập trong giai đoạn này. Chẳng hạn,
năm 1955, mức thuế nhập đối với tơ tằm, sợi tổng hợp và sản phẩm sợi tổng hợp
là 140,83%; len và sản phẩm len: 90,56%; thực phẩm: 52,25%; bông vải sợi:
43,24%; đay:34,25%. Nguyên liệu sản xuất và những mặt hàng trung gian chịu
mức thuế thấp hơn - than, nguyên liệu đá, đất sét, các khoáng sản khác:
24,48%; kim loại và các sản phẩm bằng kim loại: 26,37%; hoá chất, nguyên
liệu làm thuốc và chất nhuộm: 27,63%; dầu, nhựa cao su: 27,33%...
9
Biện pháp
thứ hai đợc Đài Loan áp dụng trong giai đoạn này là hạn chế lập các xí nghiệp
khá mạnh mẽ, toàn diện. Nông nghiệp đã phát huy vai trò chủ đạo, đáp ứng nhu
cầu lơng thực cho toàn đảo, đồng thời góp phần rất quan trọng vào tỷ lệ tăng tr-
ởng kinh tế của Đài Loan. Công nghiệp ngày càng tỏ rõ u thế trên thị trờng nội
địa, từng bớc khẳng định vị trí trên một số thị trờng quốc tế. Những năm đầu
thập kỷ 60 này, các mặt hàng tiêu dùng đã có dấu hiệu bão hoà trên đảo, đòi hỏi
các ngành sản xuất công nghiệp (kể cả nông nghiệp) Đài Loan phải nhanh
chóng tìm cách vơn ra thị trờng thế giới. Mặt khác, dù có bớc phát triển rất đáng
kể, song vào thời điểm này, các ngành công nghiệp Đài Loan nhìn chung vẫn
thiếu vốn và kỹ thuật công nghệ hiện đại yếu tố rất quan trọng giúp hàng hoá
Đài Loan cạnh tranh với hàng hoá nớc ngoài. Nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi
Đài Loan phải chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế.
Chính vì vậy, bắt đầu từ năm 1963, Đài Loan chuyển trọng tâm xây dựng kinh
tế sang mô hình hớng ngoại, với một số chính sách và biện pháp nh sau:
3.1. Thu hút đầu t nớc ngoài
Để tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí của nớc ngoài,
đặc biệt là các nớc phơng Tây, Đài Loan đã rất tích cực đẩy mạnh hoạt động thu
hút đầu t nớc ngoài. Hai luồng đầu t chủ yếu đổ vào Đài Loan là của ngời Hoa,
10
Lý Gia Tuyền (chủ biên): Tổng quan nền kinh tế Đài Loan. Nxb Kinh tế Tài chính Trung Quốc, Bắc Kinh,
1995, tr.79.
Hoa kiều và các nớc trên thế giới. Trong luồng đầu t thứ hai, Đài Loan chú
trọng khai thác nguồn vốn, công nghệ của các nớc công nghiệp phát triển nh
Mỹ, Nhật, Tây Âu. Đài Loan đã thực thi nhiều chính sách u đãi, hấp dẫn để thu
hút tối đa nguồn đầu t từ bên ngoài, trong đó đầu t của ngời Hoa và Hoa kiều
chiếm vị trí rất quan trọng. Với tiềm lực mạnh về kinh tế, nhiều kinh nghiệm
trong làm ăn buôn bán, ngời Hoa và Hoa kiều đã đóng góp khá lớn vào sự phát
triển kinh tế của Đài Loan. Theo tính toán, đầu t trung bình hàng năm của ngời
Hoa và Hoa kiều vào Đài Loan trong thập kỷ 50 thế kỷ XX chỉ dừng ở mức 1
triệu USD; sang thập kỷ 60, con số đó là 12 triệu và đến thập kỷ 70 đã tăng gấp
5 lần, đạt 60 triệu USD. Từ một hạng mục đầu t 1 triệu USD năm 1952, năm
vào Tổ chức thơng mại thế giới trong những giai đoạn tiếp theo.
Thập kỷ 50 thế kỷ XX, ngành ngoại thơng Đài Loan phát triển cha đáng
kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1952 chỉ đạt 116 triệu USD. Nhờ một số
biện pháp khuyến khích xuất khẩu vào cuối những năm 50 nên ngay sau khi
thực hiện chiến lợc kinh tế hớng ngoại, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1963 đã
tăng gấp gần 3 lần so với năm 1952, đạt 320 triệu USD. Năm 1964, lần đầu tiên
sau chiến tranh, ngoại thơng Đài Loan đạt tỷ lệ xuất siêu với kim ngạch xuất
khẩu 433 triệu USD
13
. Do một số nguyên nhân nên thời gian 1965-1975, tỷ
trọng xuất nhập khẩu của Đài Loan lên xuống thất thờng. Từ năm 1976, ngành
ngoại thơng Đài Loan đã bớc sang thời kỳ mới tỷ trọng xuất nhập khẩu luôn
luôn đạt mức xuất siêu, kể cả thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng dầu lửa thế
giới lần thứ hai.
3.3. Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề
Từ giữa thập kỷ 60 thế kỷ XX, nền kinh tế Đài Loan đã chuyển sang giai
đoạn mới: công nghiệp thay thế vị trí chủ đạo của nông nghiệp. Giá trị công
nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng từ 23,2% năm 1955 lên 28,2% năm
1962. Trong giai đoạn này, các ngành sản xuất tập trung sức lao động ở Đài
Loan từng bớc đợc nâng cấp, thậm chí có những lĩnh vực mất dần u thế. Sau hai
cuộc khủng hoảng dầu lửa vào năm 1973 và 1979, nền kinh tế thế giới lâm vào
tình trạng khó khăn. Nhiều nớc đã thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch nghiêm
ngặt, hạn chế tới mức thấp nhất khối lợng hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt là hàng
tiêu dùng hàm lợng lao động cao. Trong bối cảnh nh vậy, cùng với những trởng
thành nhất định của nền kinh tế, Đài Loan quyết định thực hiện chiến lợc điều
chỉnh cơ cấu giữa các ngành và trong nội bộ các ngành sản xuất. Việc làm đó
vừa góp phần tháo gỡ khó khăn phải nhập nhiều nhiên liệu, vừa phù hợp với nhu
cầu và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế thế giới. Trong giai đoạn này, các
ngành tập trung lao động kết hợp tập trung công nghệ cao và các ngành công
nghệ mới, hiện đại bắt đầu đợc Đài Loan tập trung khai thác và đa vào kế hoạch
đoạn tiếp theo.
4. Thực hiện chiến lợc quốc tế hoá nền kinh tế (1981-)
Có thể nói, hội nhập quốc tế là một nguyên nhân quan trọng đa nền kinh tế
Đài Loan đến thành công. Là hòn đảo nhỏ bé, Đài Loan sớm xác định không
thể dựa mãi vào thị trờng nội địa chật hẹp để phát triển sản xuất, kinh doanh.
Muốn tồn tại và thịnh vợng, Đài Loan nhất thiết phải tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế, thiết lập các mối quan hệ kinh tế đa phơng, cởi mở
và khẳng định vị thế trên thị trờng các nớc. Để hội nhập, Đài Loan đã thực thi
một số hớng đi cơ bản nh sau:
4.1. Khuyến khích đầu t vào các ngành kỹ thuật cao
Bớc vào thập kỷ 80 thế kỷ XX, Đài Loan xác định rất cụ thể phơng hớng
đầu t và phát triển các ngành kỹ thuật cao, trong đó điện tử và vi sinh là hai
ngành đợc chú trọng đặc biệt. Cũng nh nhiều nớc và khu vực công nghiệp phát
triển khác, Đài Loan hiểu rằng muốn đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập, cần
nhanh chóng làm chủ các ngành khoa học công nghệ mới, các ngành mũi nhọn
mang tính quyết định xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Bắt đầu từ
những năm 80, nền công nghệ thông tin thế giới bớc vào giai đoạn phát triển
mạnh mẽ cha từng thấy, đòi hỏi mỗi quốc gia và khu vực phải nhanh chóng bắt
nhịp với hớng đi chung của nhân loại. Không tiến hành sự nghiệp công nghiệp
hoá, không tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, thì không thể thực
hiện đợc mục tiêu hiện đại hoá và quốc tế hoá nền kinh tế. Từ các ngành công
nghiệp phục vụ nhu cầu nội địa, ngay từ giai đoạn trớc, Đài Loan đã từng bớc
nâng cấp ngành nghề, chú trọng phát triển các ngành hàm lợng kỹ thuật cao.
Chính vì thế, bớc sang giai đoạn thứ t này, Đài Loan đã khá chủ động trong việc
đầu t có trọng điểm vào các ngành kỹ thuật cao, nhất là ngành công nghiệp điện
tử. Theo thống kê, từ năm 1981 đến năm 1986, tổng giá trị sản xuất của ngành
vi tính và các ngành liên quan đến công nghệ vi tính ở Đài Loan đều tăng
100%, riêng năm 1986 đạt 110 triệu NT, tơng đơng 2,5 triệu USD. Giá trị xuất
khẩu các mặt hàng vi tính cũng tăng trởng ở mức 100%, năm 1986 đạt trên 95
triệu NT, tơng đơng 2,4 triệu USD