LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
nguồn gốc thông tin được trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ
rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Minh
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn thạc sĩ nông nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi còn được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Nông học nói
chung và các thầy cô giáo trong bộ môn Di truyền giống nói riêng thuộc
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Hoan đã tận tình hướng dẫn và tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên Viện
Nghiên cứu lúa – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện về
thời gian và địa điểm để tôi tiến hành thí nghiệm và hoàn thiện đề tài.
Để hoàn thiện được luận văn này, tôi còn có sự giúp đỡ từ bạn bè và
các đồng nghiệp, sự quan tâm động viên từ gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Minh
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
Hoàng Thị Minh i
LỜI CẢM ƠN ii
2.9 Các loại sâu bệnh hại chính trên cây đu đủ 19
2.9.1 Sâu hại 19
2.9.2 Bệnh hại 20
iii
2.10 Các giống đu đủ và khoảng cách trồng trong sản xuất 21
2.10.1 Các giống đu đủ được trồng trên thế giới 21
2.10.2 Một số giống đu đủ phổ biến ở nước ta 22
2.10.3 Khoảng cách trồng đu đủ trong sản xuất 23
PHẦN III 26
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Vật liệu nghiên cứu 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
3.4 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 27
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.5.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh trưởng 27
3.5.2 Nhóm chỉ tiêu về hình thái 27
3.5.3 Nhóm chỉ tiêu về hoa 28
3.5.4 Nhóm chỉ tiêu về quả 28
3.5.5. Tình hình nhiễm sâu bệnh 29
3.6 Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc đu đủ 29
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 30
PHẦN IV 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các tổ hợp đu đủ lai nghiên cứu trong
vụ hè 30
4.1.1 Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp đu đủ lai nghiên cứu 30
4.1.2 Đặc điểm hình thái lá, quả của các tổ hợp đu đủ nghiên cứu 32
4.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng phát triển của các tổ
hợp đu đủ lai nghiên cứu 34
4.3.11 Đặc điểm hình thái của tổ hợp VNĐĐ10 và bố mẹ chúng 59
4.3.12 Đặc điểm quả của tổ hợp VNĐĐ10 và bố mẹ của chúng 60
4.3.13 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của tổ hợp VNĐĐ10 và
bố mẹ của chúng ở vụ hè 61
4.3.14. Tình hình nhiễm sâu bệnh của tổ hợp VNĐĐ10 và bố mẹ 62
PHẦN V 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
4.1. Kết luận 62
4.2 Kiến nghị 63
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 64
66
PHẦN VI 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
v
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐK: đường kính
KL: khối lượng
M1: mật độ 1
M2: mật độ 2
M3: mật độ 3
NSLT: năng suất lý thuyết
NSTT: năng suất thực thu
NST: ngày sau trồng
SRH: sau ra hoa
TB: trung bình
TGST: thời gian sinh trưởng
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các nước sản xuất đu đủ hàng đầu thế giới 6
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của thời điểm thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả của hai dòng
đu đủ bố mẹ nghiên cứu 57
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của số lần thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả của hai dòng bố
mẹ nghiên cứu 58
Bảng 4.19 Đặc điểm kích thước lá của tổ hợp lai VNĐĐ10 và bố mẹ của
chúng 59
Bảng 4.20 Một số chỉ tiêu về cấu trúc cây của tổ hợp đu đủ lai VNĐĐ10 và
bố mẹ của chúng 60
vii
Bảng 4.21 Đặc điểm hình thái và cơ giới quả của tổ hợp đu đủ lai VNĐĐ10
và bố mẹ của chúng 60
Bảng 4.22 Số lượng hạt/quả của các loại quả đu đủ (quả lai, thụ phấn tự do,
thụ phấn bằng tay) 61
Bảng 4.23 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp đu đủ
VNĐĐ10 và bố mẹ của chúng trong vụ xuân 61
viii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 2.1 Tốp 10 nước dẫn đầu về sản lượng đu đủ xuất khẩu 7
Đồ thị 2.2 Tốp 10 nước dẫn đầu về giá trị đu đủ xuất khẩu 8
Đồ thị 4.1 Động thái ra lá của tổ hợp đu đủ lai VNĐĐ10 (giống đại diện) qua
các thời điểm theo dõi 38
Đồ thị 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của tổ hợp VNĐĐ10 (giống
đại diện) qua các thời điểm theo dõi 41
Đồ thị 4.3 Động thái tăng trưởng đường kính tán của tổ hợp VNĐĐ10 (giống
đại diện) qua các thời điểm theo dõi 42
Đồ thị 4.4 Động thái tăng trưởng đường kính thân của tổ hợp VNĐĐ10
(giống đại diện) qua các thời điểm theo dõi 44
Đồ thị 4.5 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của tổ hợp VNĐĐ10 và hai
dòng bố mẹ 51
nhập nội một số giống từ những nước lân cận như: Thái Lan, Đài Loan,
Malaysia, Trung Quốc Như vậy, nguồn giống phục vụ sản xuất không chủ
động. Mặt khác giá thành hạt giống nhập nội rất cao, nếu trong nước tự sản
xuất được thì giá thành hạt giống sẽ thấp hơn. Đặc biệt các giống nhập nội có
1
thích nghi và khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận kém hơn, dễ mắc
bệnh hơn so với các giống đu đủ địa phương.
Những nghiên cứu cơ bản nhằm phát triển sản xuất đu đủ ở quy mô
vườn hộ và trang trại đang là một hướng đi mới đem lại hiệu quả kinh tế cao,
nhanh quay vòng vốn cho người nông dân.
Để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của cây đu đủ, cần phải lựa
chọn được giống tốt và khoảng cách trồng hợp lý. Giống phải cho tiềm năng
năng suất cao, khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh tốt.
Khoảng cách trồng liên quan đến khả năng sử dụng dinh dưỡng trong quần
thể và công tác quản lý dịch hại trên đồng ruộng. Lựa chọn được một số giống
tốt, khoảng cách trồng hợp lý là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại
của sản xuất cây ăn quả nói chung và cây đu đủ nói riêng.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số tổ hợp đu
đủ lai mới và quần thể bố mẹ của tổ hợp lai VNĐĐ10”
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài.
1.2.1 Mục đích
Tuyển chọn được các tổ hợp đu đủ lai cho năng suất cao, ổn định, chất
lượng tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, đáp
ứng được yêu cầu của người sản xuất và thị hiếu người tiêu dùng.
Tìm ra khoảng cách trồng hợp lý nhất cho quần thể đu đủ để có năng
suất cao nhất và hạn chế được sâu bệnh hại.
Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với sâu
bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, đặc biệt là khả năng cho hạt lai của
hai dòng bố mẹ.
quyết định tới năng suất và phẩm chất quả. Nếu trồng với mật độ quá thưa
dẫn tới lãng phí đất, không tận dụng được hết ánh sáng, sản lượng quả trên
một đơn vị diện tích đất không cao, mặt khác cỏ dại phát triển mạnh cạnh
tranh dinh dưỡng với cây trồng chính và là nơi chứa các nguồn sâu bệnh
hại. Ngược lại, nếu trồng đu đủ với khoảng cách quá dày sẽ làm ảnh hưởng
đến khả năng quang hợp của bộ lá, đặc biệt là thời kỳ cây phát triển mạnh,
bộ khung tán rộng các lá che khuất lẫn nhau làm giảm khả năng quang hợp,
giảm tuổi thọ của lá, tăng khả năng nhiễm sâu bệnh, tăng sự cạnh tranh
dinh dưỡng giữa các cây. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xác định khoảng
cách trồng phù hợp cho từng giống đu đủ trong sản xuất có vai trò rất thiết
thực [11].
Để cung cấp hạt lai cho sản xuất thì việc đánh giá con lai và bố mẹ
của chúng là hết sức cần thiết nhằm xác định khả năng cho hạt lai của các
dòng bố mẹ, khả năng trống chịu và tiềm năng năng suất của con lai.
4
2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đu đủ trên thế giới
Bản đồ 2.1 Bản đồ các nước trồng đu đủ trên thế giới
Trên bản đồ cho thấy những nước sản xuất hơn 500.000 tấn đu đủ mỗi
năm có màu đen (Brazin, Ấn độ ), những nước sản xuất từ 100.000 –
499.999 tấn đu đủ mỗi năm có màu xám tối (Trung Quốc, Colombia, Peru ),
các nước sản xuất từ 50.000 – 99.999 tấn đủ đủ mỗi năm có màu xám
(Cuba ), những nước sản xuất từ 10.000 – 49.999 tấn mỗi năm có màu xám
sáng (Hoa Kỳ ), các nước sản xuất dưới 10.000 tấn mỗi năm có màu xám
nhạt ( Argentina ), các nước không sản xuất đu đủ có màu trắng.
Bảng 2.1 cho thấy sản lượng đu đủ của 20 nước dẫn đầu chiếm 96%
tổng sản lượng đu đủ trên thế giới. Nhìn chung, sản xuất đu đủ của các nước
từ năm 2000 – 2008 đều tăng qua các năm. Tính đến năm 2008, tổng sản
lượng đu đủ trên toàn thế giới là 9.095.875 tấn, trong đó Ấn Độ là nước sản
xuất đu đủ lớn nhất với sản lượng 2.685.900 tấn.
Ethiopia
230.540 260.000 260.000 260.000 260.000 260.000
7
Congo
212.180 214.070 215.980 217.900 219.840 223.770
8
Colombia
91.608 103.870 140.346 164.606 223.945 207.698
9
Guatemala
69.000 84.000 99.000 113.277 184.530 184.530
10
Philippines
130.764 133.876 146.628 157.120 164.234 182.907
11
Peru
189.793 193.923 171.055 175.428 157.771 157.771
12
Venezuela
148.030 131.753 118.063 151.353 132.013 132.013
13
Thailand
125.000 125.000 131.000 131.000 131.000 131.000
14
China
164.559 157.620 118.475 151.283 117.914 120.359
15
Bangladesh
47.505 50.615 240.000 105.245 95.785 103.609
16
(tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
2003 365.965 21.8476 7.995.491
2004 373.566 23.3497 8.722.657
2005 385.283 21.1265 8.139.708
2006 382.129 23.4616 8.965.372
2007 393.166 24.0991 9.474.966
2008 412.889 24.2028 9.993.074
2009 420.279 24.9507 10.486.290
Nguồn: FAOSTART, 2010
Đồ thị 2.1 Tốp 10 nước dẫn đầu về sản lượng đu đủ xuất khẩu
7
Đồ thị 2.2 Tốp 10 nước dẫn đầu về giá trị đu đủ xuất khẩu
Theo tổ chức Nông Lương Quốc Tế (FAO), mỗi năm thế giới sản xuất
khoảng 6.634.580 tấn đu đủ, trong đó 95% dùng ăn tươi, số còn lại phục vụ
cho ngành công nghiệp chế biến đồ hộp và sản xuất nhựa mủ [35].
Đu đủ là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của các quốc gia như: Ấn Độ,
Brazil, Mexico, Malaixia, Uganda, Tanzania Hiện nay Mexico là nước xuất
khẩu đu đủ lớn nhất thế giới. Thị trường xuất khẩu đu đủ chính là Hồng
Kông, Singapore, các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và Ả Rập
Xê út [6].
Ở hầu hết các nước trên thế giới, đu đủ được sản xuất tập trung trong
các trang trại. Toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu cho việc sản xuất vào khoảng
99.000USD, lãi suất thu về trên một hecta dao động khoảng 13.000 – 44.000
USD. Giá bán của đu đủ thay đổi qua các năm và phụ thuộc rất nhiều vào
năng suất và thị trường tiêu thụ. Thông thường giá của một thùng carton
(13kg đu đủ) vào khoảng 15USD [35].
Trong sản xuất, xuất khẩu ghi nhận có ba loại giống đu đủ sau:
8
- Giống đu đủ ruột vàng: giống này có nhiều cây đực, nhiều quả hơn,
của người dân được nâng cao, đồng thời do có sự kết hợp của bốn nhà, sản
xuất đu đủ của nước ta đã dần mang tính thương mại hóa. Tổng công ty chế
biến rau quả VEGETEXCO – VIETNAM, công ty chế biến các sản phẩm từ
rau quả VINAMIT đã đầu tư cho người dân ở một số tỉnh thành trong cả nước
về cây giống, kỹ thuật trồng chăm sóc đu đủ. Công ty chịu trách nhiệm bao
tiêu sản phẩm, nhờ vậy mà giá bán đu đủ đã được nâng lên đáng kể. Người
nông dân đã bắt đầu có được thu nhập ổn định từ cây trồng này.
2.3 Nguồn gốc phân bố của cây đu đủ
2.3.1 Nguồn gốc
Cây đu đủ có tên khoa học là Carica papaya L., có nhiều quan điểm
khác nhau về nguồn gốc của loài cây này:
- Cây đu đủ có nguồn gốc từ Trung Mỹ đã được nhà báo Oviedo người
Tây Ban Nha mô tả vào năm 1526 ở bờ biển các nước Panama và Colombia.
Theo Tôn Thất Trình: “Rất có thể đu đủ du nhập vào Việt Nam qua ngả
Philippines”
- Cây đu đủ có nguồn gốc từ miền nhiệt đới châu Mỹ, một số tác giả
cho rằng Mêxico và Costa Rica là quê hương của đu đủ, từ đây được đưa
trồng ở nhiều nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới ẩm trong phạm vi vĩ độ 32
o
Bắc đến 32
o
Nam – những nơi mà nhiệt độ bình quân năm không thấp quá
15
o
C (Nguyễn Hoàng Anh, 2009).
2.3.2 Phân bố
Cây đu đủ được phân bố rộng khắp thế giới, trừ châu Âu ra các châu
còn lại đều có trồng đu đủ.
- Châu Á: có các nước trồng đu đủ như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,
Thái Lan, Philippines, Mianma, Malaysia
rỗng. Gân lá hình chân vịt. Thời gian từ mọc đến lúc lá thành thục khoảng 20
ngày, mùa đông thì dài hơn khoảng 30 ngày.
Trong các tháng có nhiệt độ cao, dinh dưỡng nước đầy đủ, đu đủ có
thể ra 9 – 11 lá. Về mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 tốc độ ra lá chậm đi
nhiều chỉ đạt 1 – 2 lá/tháng. Khi cây được 22 – 27 lá thật cây bắt đầu ra
11
hoa, số lá trên cây nhiều hay ít có liên quan chặt chẽ đến năng suất của
cây. Một cây trung bình đạt 13 – 17 lá xanh hoạt động thì tỷ lệ hoa đậu
quả và quả phát triển bình thường. Nếu đạt được 25 – 30 lá hoạt động thì
năng suất sẽ cao và ổn định.
Trong điều kiện nhiệt đới ở nước ta, nếu có đủ nước thì quanh năm có
thể mọc lá. Trong một năm có thể mọc được 60 lá. Tuổi thọ của lá khoảng trên
dưới 4 tháng. Cũng như rễ, lá rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu bất thuận như
sương muối, nhiệt độ thấp, úng, hạn, biểu hạn bằng các phản ứng như ra lá
chậm, héo rũ, rụng sớm. Người ta tính rằng trên một cây đu đủ sai quả, một lá
đu đủ phải làm nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho hai quả trở lên. Bởi vậy để
đảm bảo được năng suất cao cần giữ cho bộ lá xanh tốt, không rụng sớm.
2.4.4 Hoa và cụm hoa
Đu đủ là cây đồng chu, nhưng hoa có thể phân biệt thành 3 loại: Hoa
đực, hoa cái và hoa lưỡng tính. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính ước
lệ vì ngay trong cùng một loại hoa cũng có rất nhiều dạng hình khác nhau, ví
dụ gọi là hoa lưỡng tính nhưng trong loại hoa này có đến 9 dạng hình hoa
lưỡng tính khác nhau. Đáng chú ý là sự phân hóa và phát triển thành các loại
hoa không chỉ phụ thuộc vào tính di truyền mà còn phụ thuộc rất nhiều vào
tình trạng dinh dưỡng của cây, điều kiện ngoại cảnh và tuổi của cây. Nhiệt độ
càng cao khuynh hướng sản xuất hoa đực càng lớn. Theo dõi sự chuyển đổi
giới tính cũng như khả năng thụ phấn của hoa, khi nghiên cứu các cây đu đủ
trồng trên đảo Hawai tác giả Singha cho rằng: trong số đu đủ trồng ở đây chỉ
có 16,3% số cây ổn định giới tính. Cũng theo Singha, để thụ phấn cho các cây
cái cần 5 – 10% cây đực. Theo Folphe và Linch: để thụ phấn cho 1ha đu đủ
cánh hoa.
Hoa lưỡng tính có cả nhị đực và bầu trong có noãn. Bầu dạng dài và chỉ
nhị gắn trên cánh hoa. Hoa có 10 nhị đực. Bầu có thể có 5 lá noãn hoặc chỉ có
2 đến 3 lá noãn. Quả hình thành từ hoa lưỡng tính có dạng dài, khoảng trống
lòng quả hẹp, quả nặng, thịt dày hơn quả kết từ hoa cái.
13
Quả của cây lưỡng tính được ưa chuộng hơn trên thị trường. Vì vậy
trong sản xuất cần lựa chọn cây cho quả với loại hoa cái hay hoa lưỡng tính
cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng [11].
Đặc điểm cụm hoa đu đủ:
Cụm hoa đu đủ dựa theo phân loại của Oschae và cộng sự (1975), trích
trong tài liệu của I.D.Singh (1990), thì cụm hoa được chia thành 3 nhóm
chính:
- Nhóm A: Cụm hoa đơn tính cái – cụm hoa ngắn, chỉ mang hoa đơn tính cái.
- Nhóm B: Cụm hoa lưỡng tính – cụm hoa ngắn, có thể mang lưỡng tính 5
nhị, lưỡng tính thon dài, lưỡng tính bất dục và lưỡng tính dị hình.
- Nhóm C: cụm hoa đực – cụm hoa có cuống dài, mang chủ yếu là hoa đực,
có thể mang một vài hoa lưỡng tính thon dài ở đầu ngọn cành của cụm hoa
2.4.5 Quả và hạt
- Quả: Quả đu đủ thuộc loại quả thịt có hình dạng thay đổi theo giống và
ngay trong cùng một giống, thường có dạng dài, ôvan, lê, thuôn dài, thuôn hoặc
tròn, khi chưa chín có màu xanh chuyển sang xanh đậm, xanh sữa và khi chín có
màu vàng hoặc vàng da cam, vàng sẫm. Vỏ quả mỏng, ít chịu vận chuyển. Quả
tạo thành bởi 5 lá noãn thế nhưng có thể thấy các thùy quả ít hơn 5, đường kính
đạt được 10 – 25 cm và trọng lượng quả đạt 0,4 – 5,0 kg. Thời gian quả sinh
trưởng và phát triển kéo dài 3 – 4 tháng tùy thuộc vào mùa vụ và giống.
Ảnh hưởng đến sự phát triển của quả bao gồm các yếu tố: nhiệt độ,
nước, phân bón, mức độ thụ phấn thụ tinh của quả Nhiệt độ cao quả phát
triển nhanh, nhiệt độ thấp quả phát triển chậm. Những vùng trồng đu đủ có
nhiệt độ cao, nhiều ánh sáng, khí hậu khô cho quả ngọt, độ đường cao (chủ
cái, cây đực và cây lưỡng tính.
- Cây cái: cây chỉ ra hoa cái, hoa ổn định ít bị ảnh hưởng và chi phối
bởi điều kiện ngoại cảnh. Nếu dùng phấn của hoa lưỡng tính để thụ phấn thì
khả năng cho quả rất tốt. Quả trên cây cái thường là quả đơn, cùi quả mỏng.
Trong điều kiện tự nhiên, nếu dùng bao cách ly bao hoa cái lại không cho thụ
phấn tự do thì quả sẽ không có hạt, trường hợp này gọi là kết quả đơn tính,
quả nhỏ, hạt không chắc, phẩm chất kém.
- Cây đực: có số hoa đực chiếm ưu thế. Chùm hoa ra ở nách lá, dài từ
10 – 90 cm, không có quả. Cá biệt cuối chùm hoa có vài hoa cái kết được 1 –
2 quả nhỏ nhưng quả không dùng được
- Cây lưỡng tính: nở hoa rất đa dạng, chịu ảnh hưởng nhiều của điều
kiện ngoại cảnh và tình trạng của cây như tình hình sinh trưởng, độ tuổi
15
cây Khi đu đủ ra hoa vào đầu mùa xuân đến mùa hạ, nhiệt độ tăng cao dần,
hoa lưỡng tính cái chuyển sang hoa lưỡng tính đực và hoa đực có cuống ngắn.
Khi hoa ra từ đầu mùa thu, nhiệt độ giảm dần, hoa lưỡng tính dạng đực và hoa
đực chuyển thành hoa lưỡng tính dạng quả tròn hay dài rồi tiếp tục chuyển
thành hoa lưỡng tính dạng cái.
Như vậy do ảnh hưởng của thời tiết khí hậu trong năm, trình tự nở của
các loại hoa trên cây đu đủ lưỡng tính không ổn định, do đó khả năng đậu quả
không bằng cây cái, nhưng trọng lượng từng quả lại cao, phẩm chất quả lại tốt
hơn quả ở cây cái [23].
2.6 Cơ chế di truyền tính trạng giới tính của cây đu đủ
Đu đủ trong tự nhiên có thể giao phấn, tự thụ hoặc trinh sinh (không
cần thụ phấn thụ tinh) phụ thuộc vào dạng cây cạnh nó.
Đu đủ là cây có giới tính phức tạp, tuy những hiểu biết về cấu trúc di
truyền của nó chưa được nghiên cứu sâu nhưng một số kết quả nghiên cứu về
cơ chế di truyền của đu đủ đã góp ích rất lớn vào công tác chọn tạo giống.
Các quan sát về nhiễm sắc thể trong phân bào giảm nhiễm của đu đủ cho thấy
đu đủ có 9 NST đơn tương ứng với bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 18, và