Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THU HÀ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG THUỘC LOÀI PHỤ
JAPONICA TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. TRẦN NGỌC NGOẠN
TS. ĐẶNG QUÝ NHÂN
Thái Nguyên, 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực, chƣa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị
nào. Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc tham
khảo.
Tác giả
Phạm Thu Hà
học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ! Tác giả
Phạm Thu Hà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Đặt vấn đề 8
2. Mục tiêu của đề tài 10
2.1 Mục tiêu tổng quát:…………………………………………………………… 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 11
3. Ý nghĩa của đề tài 11
Chƣơng 1 12
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 12
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 14
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 14
Chƣơng 3 53
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.2. Kết quả thí nghiệm so sánh ở vụ Mùa 2010 và vụ Xuân 2011 55
3.2.1 Sinh trƣởng và phát triển của mạ 55
3.2.2. Các thời kỳ sinh
trƣởng,
phát triển của các giống lúa thí nghiệm 57
3.2.3. Chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm 59
3.2.4. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 61
3.2.5. Khả năng chống chịu sâu bệnh chính hại lúa 63
3.2.6 Tính chống đổ 65
3.2.7 Các yếu tố cấu thành năng suất lúa 65
3.2.7.1. Chiều dài bông 66
3.2.7.2. Số bông/m
2
67
3.2.7.3. Số hạt/bông 68
3.2.7.4. Số hạt chắc/bông 69
3.2.7.5. Khối lƣợng 1000 hạt 69
3.2.7.6. Năng suất lý thuyết 70
3.2.7.7. Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 71
3.3. Phẩm chất và chất lƣợng các giống lúa 72
3.3.1 Chất lƣợng xay xát 74
3.3.2. Chất lƣợng thƣơng trƣờng 74
3.3.3. Chất lƣợng chế biến (chất lƣợng cơm) 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
1.Kết luận 76
2. Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa . L) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá
trình phát triển của loài ngƣời. Từ buổi ban đầu của nền văn minh, cây lúa là
cây đƣợc trồng gắn liền với quá trình phát triển của loài ngƣời và đã trở thành
cây lƣơng thực chính của Châu Á nói chung, ngƣời Việt Nam ta nói riêng và
có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta.
Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu ăn ngon của ngƣời dân ngày càng
tăng vì cây lúa đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
của ngƣời dân trong và ngoài nƣớc.
Diện tích trồng lúa trên thế giới không ngừng tăng, hiện có khoảng 154
triệu ha. Tổng sản lƣợng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp cho cả thế
giới [FAO STAT 2005].
Tại Việt Nam từ khi giành đƣợc độc lập (1945) đến nay, diện tích trồng
lúa gạo không ngừng đƣợc mở rộng, năng suất ngày càng tăng, nhân dân ta có
truyền thống cần cù trong lao động, thông minh sáng tạo trong thực hiện lao
động sản xuất, biết tận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
không ngừng nâng cao năng suất của lúa gạo. Từ những năm đầu thực hiện
công cuộc đổi mới của đất nƣớc (1986) chúng ta vẫn nằm trong các nƣớc
thiếu lƣơng thực trầm trọng, song với đƣờng lối đổi mới của Đảng ngành
nông nghiệp đã có bƣớc khởi sắc, chúng ta từ một nƣớc nhập khẩu lƣơng thực
đã trở thành nƣớc xuất khẩu lƣơng thực đứng thứ 2 thế giới (sau Thái Lan).
Thành phố Yên Bái là đô thị loại 2, là trung tâm chính trị, kinh tế của
tỉnh Yên Bái. Thành phố Yên Bái có dân số 94.915 ngƣời, đời sống vật chất
không ngừng nâng cao, nhu cầu lƣơng thực ngày càng tăng theo xu hƣớng sử
dụng gạo có chất lƣợng trong bữa ăn hàng ngày của ngƣời dân đô thị. Nhƣng
hiện tại mới có vài nơi gieo trồng lúa có chất lƣợng cao với quy mô nhỏ hẹp với
các vùng lân cận, tận dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai
thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa triển vọng cũng góp phần làm
thay đổi tập quán, phƣơng thức sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất
hàng hoá của một bộ phận nông dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà
việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong
nông nghiệp đem lại cho nông dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
Tuy nhiên do bƣớc đầu triển khai thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nhất là giống lúa có triển vọng còn gặp phải khó khăn đó là thay đổi tập
quán lâu đời của ngƣời dân khi họ chỉ biết sản xuất ra các sản phẩm tự cung,
tự cấp, họ ít quan tâm đến sản xuất hàng hoá. Vì vậy ngƣời dân còn đang lúng
túng chƣa tìm ra đƣợc giống lúa có triển vọng về năng suất và chất lƣợng, có
giá trị kinh tế vào sản xuất.
Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho
nông dân trên đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trƣơng chuyển dịch cơ
cấu cây trồng trong vụ Xuân và vụ Mùa tiến tới khai thác các cây trồng vụ
đông. Xây dựng thành công mô hình những cánh đồng đạt và vƣợt 50 triệu
đồng trên 1 ha theo phong trào thi đua mà ngành nông nghiệp phát động.
Để thực hiện chủ trƣơng của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố
Yên Bái về thực hiện chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hƣớng
mở rộng diện tích gieo cây lúa có triển vọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
trên đơn vị diện tích, góp phần cung cấp lƣơng thực lúa gạo chất lƣợng phục
vụ cho tiêu dùng tại chỗ, theo hƣớng đó Thành phố Yên Bái cũng cần có vùng
chuyên canh gieo cấy lúa triển vọng về năng suất khá và chất lƣợng tốt, có
hiệu quả kinh tế, để thoả mãn cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và cung cấp cho 1
số tỉnh bạn, Hà Nội và có thể tham gia vào chƣơng trình xuất khẩu chung của
toàn ngành. Tuy nhiên muốn làm đƣợc điều đó, trƣớc hết cần phải có nghiên
- Lựa chọn đƣợc một vài giống lúa có chất lƣợng, có hiệu quả kinh tế
cao, khuyến cáo nhân rộng mô hình với quy mô hợp lý.
- Góp phần định hƣớng cho nông dân chuyển từ sản xuất tự cung, tự
cấp, sang sản xuất hàng hoá.
- Đa dạng hoá thêm các giống lúa chất lƣợng tại địa phƣơng.
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, đƣợc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất,
góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản
xuất hàng hoá của nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhƣỡng cần có những giống
cây trồng tốt phù hợp với điều kiện canh tác. Vì vậy một trong những biện
pháp kinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, là
bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản xuất nông
nghiệp. Trong việc xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao,
đất đai là một trong những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên
cần phải nắm vững mối quan hệ giữa một nhóm cây trồng với đặc điểm đất
đai thì mới xác định đƣợc cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.
Giống là tƣ liệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp, cũng nhƣ đất đai, phân bón và công cụ sản xuất.Nếu không có giống
thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào. Ngày nay, quan niệm
“nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã không còn phù hợp nữa.
Nếu xếp giống vào hệ thống các khâu kỹ thuật canh tác thì giống tốt phải
đƣợc xếp vào vị trí trung tâm. Trong những năm gần đây, sản lƣợng lƣơng
bảo có năng suất khá, sử dụng nƣớc tƣới và các biện pháp kỹ thuật không
khác nhiều so với tập quán canh tác của địa phƣơng.
Đối với lúa trong sản xuất hiện nay khi đƣa giống mới vào sản xuất
ngƣời ta thƣờng quan tâm đến thị hiếu ngƣời tiêu dùng và việc tiêu thụ sản
phẩm đó ra sao.
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ƣu, nhƣợc điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa nhƣ thế nào để giải quyết đƣợc nhu cầu cấp
bách của ngƣời dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả
kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian,
thời gian nhất định và đƣợc ngƣời nông dân chấp nhận và mở rộng.
Cơ cấu các giống lúa đang đƣợc gieo trồng đƣợc chọn dựa trên lợi ích
cho đa số ngƣời dân, cơ cấu các giống lúa triển vọng phải đƣợc bố trí hợp lý,
có độ an toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh tác của
địa phƣơng, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
Trải qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn
khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo trong những năm qua
cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá. Chỉ thị 100
của ban Bí thƣ (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) đƣợc
triển khai đã đƣa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn
nƣớc ta. (Chủ trƣơng chính sách của Đảng và nhà nƣớc về tiếp tục đổi mới và
phát triển nông nghiệp - nông thôn) [
Website: Faostat.fao.org
]
Ngày nay trong cơ chế thị trƣờng, Đảng và Nhà nƣớc có chủ trƣơng
tƣới tiêu, vùng đất thấp chịu nƣớc trời, vùng đất cao, vùng ngập nƣớc, vùng
đất ngập do thủy triều. Có khoảng 80 triệu ha hoặc 55% diện tích đất trồng
lúa của thế giới đƣợc tƣới tiêu chủ động trong suốt vụ gieo trồng. Ngƣời ta
ƣớc tính khoảng 75% sản lƣợng lúa của thế giới thu từ các vùng đƣợc tƣới
tiêu này. Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm
11% đất gieo trồng của thế giới) [19]. Trên thế giới có khoảng trên 100 nƣớc
đang trồng lúa thì đa số nằm ở Châu Á. Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc
gia thuộc Đông Nam Á và Nam Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản. Trong
số 25 nƣớc sản xuất lúa chính của thế giới có 17 nƣớc nằm trong vùng này và
8 nƣớc nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985). Trên 85% sản lƣợng lúa trên thế
giới phụ thuộc 8 nƣớc mà những nƣớc này đều tập trung ở Châu Á (gồm
Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và
Nhật Bản) [4].
Từ năm 1995 đến nay diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa trên thế giới
có tăng nhƣng với mức độ chậm, thậm chí sản lƣợng năm 2003 thấp hơn năm
1999. Bởi vì giai đoạn này trình độ sản xuất lúa của nhiều nƣớc trên thế giới
đã phát triển tƣơng đối cao, một số nƣớc năng suất đã vƣợt trần, diện tích khai
hoang đã hết, tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tăng, đô thị hoá diễn ra
nhanh chóng. Chúng ta thấy đƣợc điều này qua bảng 1.1.
Cây lúa còn đƣợc trồng ở nhiều nƣớc khác trên thế giới. Riêng khối châu
Âu có 10 nƣớc trồng lúa, với sản lƣợng của tất cả các vùng là 3,2 triệu tấn
(1992), chiếm 0,6% sản lƣợng lúa thế giới, ở Châu Phi ngƣời ta cũng đã tự túc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
đƣợc 2/3 nhu cầu lƣơng thực bằng lúa gạo, với năng suất chỉ bằng 40% năng
suất bình quân của thế giới, số còn lại phải nhập khẩu [12].
Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ngày một tăng nhƣng tốc độ tăng
diện tích chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng sản lƣợng, nhƣ vậy sản lƣợng
154,106
38,8
597,931
2001
151,966
39,3
597,226
2002
147,700
39,1
577,507
2003
149,208
39,0
581,911
2004
151,027
40,2
607,128
2005
153,511
40,0
614,044
2006
156,300
41,2
644,100
2007
156,950
41,5
lúa nƣớc chủ yếu ở các vùng lƣu vực sông Trƣờng Giang, vùng Hoa Nam và
vùng cao nguyên Vân Quý. Năm 2003, Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh cơ
cấu nông nghiệp và nông thôn mang tính chiến lƣợc. Diện tích lúa mạch hè
thu đạt 100 triệu mẫu, tăng 15 triệu mẫu so với năm 2002, diện tích giống lúa
ngắn ngày chất lƣợng cao tăng 70%. Tuy nhiên, dự đoán trong năm 2004
lƣợng gạo trong nƣớc của Trung Quốc vẫn không đủ cầu. Từ tháng 9 năm
2003 tới tháng 6 năm 2004, giá gạo bán liên tục tăng ở đất nƣớc này. Để giảm
áp lực về thiếu lƣơng thực, Trung Quốc đang có chính sách khuyến khích
thúc đẩy nông dân tích cực sản xuất mở rộng diện tích trồng lúa, gia tăng sản
lƣợng và quan tâm đến vấn đề chất lƣợng lúa gạo. Quốc vụ viện Trung Quốc
đã quyết định giao cho Tài chính Trung Ƣơng hỗ trợ cung cấp giống lúa ngắn
ngày chất lƣợng cao cho 7 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Hắc
Long Giang, Cát Lâm và Liêu Ninh với trị giá 450 triệu NDT (đồng nhân dân
tệ) nhằm giúp nông dân có giống tốt để sản xuất. Trung Quốc đang có dự kiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18
mở rộng phạm vi và qui mô thí điểm hỗ trợ lai tạo giống tốt và khởi động
chƣơng trình lƣơng thực chất lƣợng cao.
Năm 2009 diện tích trồng lúa ở Trung Quốc là 29,88 triệu ha, năng suất đạt
65,82 tạ/ha còn sản lƣợng đạt 196,68 triệu tấn[14]
Ở Thái Lan, lúa là cây lƣơng thực quan trọng nhất. Lúa đƣợc trồng rải
rác ở các vùng và phân bố nhƣ sau: Gần 1/2 diện tích đất lúa ở vùng Đông
Bắc, khoảng 1/5 ở miền Trung, 1/5 ở miền Bắc và vùng núi phía Nam chỉ có
6%. Tổng diện tích đất lúa vào khoảng 10 triệu ha, trong đó 1/4 đƣợc tƣới
tiêu. Sản lƣợng lúa bị hạn chế, dao động xung quanh 20 triệu tấn/năm kể từ
1985, đến năm 2009 sản lƣợng đạt 31,46 triệu tấn [14]
Indonesia là nƣớc có diện tích trồng lúa khá lớn trong tốp 10 nƣớc đứng
đầu thế giới. 70% đất trồng lúa đƣợc tƣới tiêu với 2 vụ lúa/ năm. Việc sử dụng
bệnh. Tuy nhiên đến năm 2003 - 2004, Ấn Độ đƣợc mùa và sản lƣợng gạo
của Ấn Độ đã đạt 87,94 triệu tấn, tăng 15,28 triệu tấn so với năm 2002 - 2003.
Đến năm 2008 sản lƣợng lúa của Ấn Độ đạt 148,26 triệu tấn. Nhƣng đến 2009
thì sản lƣợng lúa của Ấn Độ chỉ đạt 133,7 triệu tấn[14].
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa của 10 nƣớc đứng đầu thế giới năm 2009
Tên nƣớc
Diện tích
( triệu ha )
Năng suất
( tạ / ha )
Sản lƣợng
( triệu tấn)
Trung Quốc
29,881
65,82
196,681
Ấn Độ
41,850
31,94
133,700
Indonexia
12,883
49,98
64,398
Băngladesh
11,354
42,03
47,72
Việt Nam
7,440
nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã đƣợc thành lập, nhiệm vụ chính là thu
nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng. Tổ chức Lƣơng thực và
nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra
phƣơng hƣớng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ
gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại.
Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế,
đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp
nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng [11]
Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế với tên tiếng Anh là
International Rice Research Institute (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã
bắt đầu chƣơng trình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống cổ truyền và
các cây lúa dại từ năm 1962. Từ khi thành lập IRRI đã tiến hành thu thập
nguồn gen cây lúa, năm 1977 chính thức khai trƣơng ngân hàng gen, tại đây
đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sƣu tập
có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó các giống lúa trồng ở châu Á (O. sativa)
chiếm đến 95% [32]. Khoảng 90.000 giống lúa trồng trên khắp thế giới đã
đƣợc tồn trữ ở IRRI và cùng một số lƣợng giống lúa này đƣợc IRRI gửi bảo
quản ở Phòng Khảo nghiệm tồn trữ hạt giống quốc gia Mỹ (US. National Seed
Storage Laboratory) tại Fort Collins thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ, Colorado - Mỹ
và ở Viện Quốc gia Tài nguyên Nông sinh (National Institute of Agrobiological
Resources) ở Nhật Bản. Nhƣng sự bảo quản tại các phòng lạnh hiện nay có thể
làm ngăn trở sự tiến hóa của các giống lúa này với môi trƣờng. Vì vậy, bảo quản
các giống lúa ngoài ruộng rất cần thiết nhƣng tốn kém.
Trong hơn 40 năm tồn tại và phát triển IRRI đã lai tạo, chọn lọc
hàng trăm giống lúa tốt phổ biến khắp thế giới, tiêu biểu nhƣ các giống
IR, Jasmin. IR8 mở đầu cho cuộc cách mạng xanh ở các nƣớc Nam Á và
Đông Nam Á. Tiếp theo là sự ra đời của các giống lúa, mà sự ra đời của
các giống này đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, phẩm chất lúa nhƣ: IR5,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Nhƣng việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa không chỉ dừng lại ở đó, sự miệt
mài của các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc
hàng trăm giống lúa tốt đƣợc gieo trồng phổ biến trên thế giới. Các giống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
22
lúa IR5, IR6, IR8, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt
về năng suất. Các viện khác nhƣ IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc
ra nhiều những giống lúa tốt phục vụ sản xuất.
Hiện nay ngƣời ta ứng dụng ƣu thế lai trong sản xuất lúa. Trong lịch
sử phát triển lúa lai, Trung Quốc là nƣớc đầu tiên sử dụng thành công ƣu thế
này. Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp
lai có ƣu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt
lai hệ "3 dòng" đƣợc hoàn thiện và đƣa vào sản xuất năm 1975. Năm
1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng"
và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng
năng suất và sản lƣợng lúa gạo của đất nƣớc [35]. Cụ thể nhƣ sau: năm
1973 Shiming Song phát hiện ra đƣợc dòng bất dục mẫn cảm với ánh
sáng ngày ngắn (PGMS) từ giống Nongken 58. Nhiều kết quả nghiên cứu
khác về lúa lai hai dòng cũng đã đƣợc công bố. Năm 1991 các nhà khoa học
Nhật Bản đã áp
dụng phƣơng pháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra dòng bất
dục đực mẫn cảm
với nhiệt độ [29].
Chƣơng trình phát triển lúa lai giữa các
loài phụ indica và japonica đƣợc bắt đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử
dụng gen tƣơng hợp rộng, mở ra tiềm năng về năng suất cao cho các giống lúa lai
hai dòng [34]. Những tổ hợp giữa các loài phụ nhƣ: Chen 232/26 Zhazao;
3037/02428 và 6154S/vaylava đƣa ra ở Trung Quốc nhƣng không đƣợc sử dụng
lúa lai của thế giới lên tới khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm
20% tổng sản lƣợng lúa gạo toàn thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là
Việt Nam và Ấn Độ. Lúa lai đã thực sự mở ra hƣớng phát triển mới để nâng
cao năng suất, sản lƣợng lúa cho xã hội loài ngƣời.
Ấn Độ là một nƣớc đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” và thành công
lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới
vào sản xuất. Trong công tác nghiên cứu giống lúa, Viện nghiên cứu giống
lúa trung ƣơng của Ấn Độ đƣợc thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang
Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất.
Ngoài ra tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các
cơ sở quan trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây
trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT). Nhờ vậy Ấn Độ là nƣớc có nhiều giống
lúa chất lƣợng cao nổi tiếng trên thế giới nhƣ: Basmati, Brimphun trong
đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trƣờng tới 850 Đô la Mỹ/tấn, trong
khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
24
Đô la Mỹ /tấn [9].
Mặt khác, Ấn Độ cũng là nƣớc nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã
đạt đƣợc một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt đƣợc sử dụng
ở Ấn Độ nhƣ; IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161,
ORI
136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 Một trong những giống
lúa chất
lƣợng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công đƣợc nhập về
Việt Nam là giống BTE-1, giống này đã đƣợc Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt
Nam công nhận năm 2007 [9].
Thái Lan là nƣớc xuất khẩu lúa gạo đứng đầu thế giới. Với những
hàm lƣợng Protein cao tới 13%, hàm lƣợng Lysin cũng rất cao [Nguyễn
Hữu Hồng (1993) [8]. Ngoài ra, thành công trong công tác giống lúa của
Nhật Bản còn đƣợc đánh dấu bởi giống Tongil đã tạo ra bƣớc nhảy vọt về
năng suất lúa.
Các nƣớc Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan chủ yếu nghiên cứu
và sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp
với thị hiếu tiêu dùng của ngƣời dân khu vực này. Các giống lúa nổi tiếng
của khu vực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang
chan gi, Đee- Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen
là một vật liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [26].
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát
triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dƣỡng. Các giống này không
phải là biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau nhƣ đen, đỏ và vàng mà
màu sắc phụ thuộc vào hàm lƣợng dinh dƣỡng nhƣ Beta-carotene và
anthocyanins - một chất chống ôxy hoá. Đây là kết quả nghiên cứu gần 9
năm thí nghiệm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác
nhân hoá học. Nhƣ trên ta thấy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con
ngƣời các nhà chọn giống không những chọn tạo ra đƣợc những giống lúa có
năng suất cao mà còn chọn tạo ra những giống có chất lƣợng cao, hàm
lƣợng dinh dƣỡng lớn. Đây cũng là một giải pháp để giảm áp lực cho y
học. Vì vậy, một số viện nghiên cứu quốc tế đang tập trung vào giống lúa
mới “gạo vàng 2” để chống lại nguy cơ bệnh mù do thiếu vitamin A đang
tăng lên trên thế giới. So với giống "gạo vàng" phát triển vào năm 2000,
“gạo vàng 2” này có hàm lƣợng beta-
carotene cao gấp 23 lần.
Theo ông Jagadish Mittur - giám đốc Trung tâm nghiên cứu