TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Viện khoa học & công nghệ môi trường
=== ===
Bài tiểu luận: Nhập môn kỹ thuật môi trường
Đề tài: Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
Nhóm sinh viên thực hiện:
Họ và tên MSSV
Vương Đình Nam 20132720
Phùng Trà My 20132636
Nguyễn Thị Thanh Nga 20132737
Nguyễn Thị Bích Phượng 20133064
Lê Anh Phương 20133013
Vũ Thị Thu Phương 20133054
Trần Văn Quyền 20133199
Nguyễn Như Quỳnh 20133221
Doãn Minh Sang 20133255
Nguyễn Thế Tám 20133412
Lớp: KTMT01-K58
Giảng viên hướng dẫn: Ts Nghiêm Trung Dũng
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
2
PHẦN 1: KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ
I.Khái niệm
1. Khái niệm
-Nhiên liệu hóa thạch là các loại nhiên liệu được tạo thành bởi quá trình phân hủy kỵ
khí của các sinh vật chết bị chôn vùi cách đây hơn 300 triệu năm. Các nguyên liệu này chứa
hàm lượng cacbon và hydrocacbon cao.
II. Nguồn gốc và phân bố.
(Nhiên liệu hóa thạch gồm 3 nhóm chính: than đá, dầu và khí đốt).
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
4
-Nhiên liệu hóa thạch được hình thành:
Từ quá trình phân hủy kỵ khí của xác các sinh vật( thực vật phù du và động vật phù
du) lắng đọng xuống đáy biển (hồ) với số lượng lớn
+Trong các điều kiện thiếu ôxy, cách đây hang triệu năm
+ Trải qua thời gian địa chất, các hợp chất hữu cơ trộn với bùn, và bị chôn vùi bên
dưới các lớp trầm tích nặng.
+Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao , các vật chất hữu cơ bị biến đổi hóa học, tạo
ra kerogen ở dạng sáp.
+Chúng được tìm thấy trong các đá phiến sét dầu và sau đó khi bị nung ở nhiệt cao
hơn sẽ tạo ra hydrocacbon lỏng và khí bởi quá trình phát sinh ngược.
1. Than (coal)
Than đá có nguồn gốc sinh hóa từ quá trình trầm tích thực vật trong những đầm lầy cổ cách
đây hàng trăm triệu năm. Khi các lớp trầm tích bị chôn vùi, do sự gia tăng nhiệt độ, áp suất,
cộng với điều kiện thiếu oxy nên thực vật (thực vật chứa một lượng lớn cellulose, hợp chất
chứa C, O, H) chỉ bị phân hủy một phần nào. Dần dần, hydro và oxy tách ra dưới dạng khí,
Các mỏ dầu và khí thường thấy đi đôi với nhau. Do tỷ trọng nhỏ hơn đá, chúng có xu
hướng di chuyển lên phía trên qua các lỗ rỗng của đá và tích tụ thành các vũng dưới những
lớp đá không thấm. Tầng đá không thấm phía trên và tầng đá thấm bên dưới tạo nên bẫy
dầu hoặc khí.Có nhiều dạng bẫy khác nhau trong tự nhiên. Một khi tầng đá phủ bị mũi
khoan xuyên thủng thì dầu và khí đi theo lỗ khoan lên mặt đất để được chế biến và phân
phối.
2.1. Dầu thô (crude oil)
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
6 Dầu thô là một hỗn hợp lỏng gồm hàng trăm hợp chất hydrocacbon (Từ C5 đến C60).
Từ dầu thô, trải qua quá trình lọc dầu, các hợp chất được phân thành các sản phẩm khác
nhau, tùy theo điểm sôi của chúng :
-Khí dầu mỏ, xăng lấy ra ở đỉnh tháp chưng, làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong.
-Dầu xăng làm nhiên liệu cho động cơ phản lực, máy bay.
-Dầu hỏa được lấy trong khoảng nhiệt độ từ 250-350 độ C, được dùng làm nhiên liệu
cho động cơ diesel và dùng để cracking. (Do xăng thu được từ quá trình chưng cất ở áp suất
thường chỉ là 20% của dầu thô, tiến hành cracking để tạo ra nhiều xăng hơn và chất lượng
xăng cao hơn)
-Mazut được lấy ra ở đáy tháp chưng với nhiệt độ trên 275 độ C. Mazut chiếm tới 40-
50% lượng dầu mỏ đem chưng.Mazut được chế biến tiếp trong tháp chưng chân không để
lấy thêm một số sản phẩm. Quá trình chưng chân không nhằm hạ nhiệt độ sôi của Mazut,
tránh được sự phân hủy. Sản phẩm của quá trình là các loại dầu bôi trơn và nhựa đường.
Dầu bôi trơn (lubricants) có nhiệt độ sôi 250-350 độ C, là sản phẩm quan trọng thứ hai sau
xăng .
-Hắc ín, nhựa đường (asphal) là phần còn lại sau khi chưng, lấy ra ở đáy tháp ở nhiệt
độ khoảng 380 độ C, có thể sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến làm nhựa đường, chất lợp.
Dầu còn chứa các hợp chất hoá dầu (petrochemicals) nên ngoài việc cung cấp nhiên
của nó thấp hơn xăng). Nó cháy với ngọn lửa không nhìn thấy (nguy hiểm).Hàm lượng
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
8
năng lượng của nó chỉ bằng 1/2 xăng, do đó nó chạy được quãng đường ngắn hơn khi so
với cùng một thể tích nhiên liệu.
*Phân bố dầu và khí thiên nhiên trên thế giới.
Trữ lượng khổng lồ đến 63,2% lượng dầu của cả thế giới tập trung ở Vịnh Ba Tư, nhất
là Ảrập Saudi (thành viên số 1 của OPEC :Organization of Petroleum Exporting Countries).
Các mỏ dầu quan trọng còn lại khác nằm ở vịnhư Venezuela, Mehico, Nga, Libi và Mỹ
(Alaska và vịnh Mehico).
Gần 1/2 (49%) trữ lượng khí thiên nhiên của thế giới nằm ở 2 nước Nga và Iran. Các
mỏ khí thiên nhiên quan trọng khác nằm ở Các Tiểu Vương Quốc Arap thống nhất, Arap
Saudi, Mỹ và Venezuela
III. Tầm quan trọng.
- Cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA) ước tính năm 2006 : nguồn năng lượng
nguyên thủy chiếm 86% nhiên liệu nguyên thủy sản xuất trên thế giới.( 36,8% dầu mỏ, than
26,6%, khí thiên nhiên 22,9%)
- Dùng làm chất đốt (bị ôxi hóa thành điôxít cacbon và nước) để tạo ra năng lượng
- Riêng về sản xuất điện, nhiên liệu hóa thạch cũng cung cấp 66% (tăng 2%), trong
khi năng lượng tái tạo mới cung cấp khoảng 5%.
- Các hydrocacbon bán rắn rò rỉ lên mặt đất được dùng làm chất đốt trong thời cổ đại,
hay làm chất chống thấm và ướp xác.
- Chất đốt cho các loại đèn dầu
- Dùng cho các động cơ đốt trong(Xăng ,dầu diesel (phẩm chưng cất từ nhiên liệu hóa
thạch)), nhà máy điện dùng nhiên liệu hóa thạch và các mục đích khác
- Than,dầu hỏa dung vận hành động cơ hơi nước
- Hắc ín -sản phẩm còn lại sau khi chiết tách dầu, dùng làm vật liệu trải đường
- …
Saudia Arabia, nước chiếm 25% trữ lượng dầu mỏ thế giới và là nước sản xuất và xuất
khẩu dầu thô hàng đầu thế giới. Nhưng người ta đang lo ngại rằng trữ lượng dầu của nước
này đang sụt giảm vì phần lớn dầu lửa của Saudia Arabia được khai thác từ một số mỏ dầu
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
10
khổng lồ nhưng các mỏ này đã được khai thác quá lâu, hơn một nửa thế kỷ qua, và thực tế
đang ngày một khó khai thác hơn. Người ta cũng đang lo ngại về thời kỳ hậu dầu mỏ của
khu vực này.
Mặc dù Indonesia có trữ lượng than đá đã được kiểm chứng rất lớn, tới 5,5 tỷ tấn,
trong tổng trữ lượng 860 tỷ tấn của toàn cầu, song cũng chỉ đủ cho khai thác trong vòng 14
năm nữa.
Về khí đốt, trong 10 năm qua, trữ lượng khí đốt đã được kiểm chứng của Indonesia
tăng 12%, so với mức tăng 21% của toàn cầu, đạt 2.900 tỷ m3, tương đương với 19,1 tỷ
thùng dầu quy đổi, song cũng chỉ còn đủ cho khai thác trong 41 năm với mức sản lượng
71,1 tỷ m3 của năm 2012
Không chỉ riêng dầu mỏ; các nguồn cung khí đốt tự nhiên, than và urani có thể bắt đầu
suy giảm sau một đến hai thập kỷ nữa.Nếu muốn khai thác được than người ta càng phải
đào sâu hơn vào trong lòng đất, càng đào sâu càng ngốn nhiều tiền hơn và càng nguy hiểm
hơn. 1. Dầu mỏ
Thống kê của IEO2004 cho thấy, với nhu cầu đòi hỏi về dầu mỏ tăng lên 1,9% mỗi
năm thì trong vòng 24 năm tới, mức tiêu thụ 77 triệu thùng/ngày năm 2001 sẽ tăng lên tới
121 triệu thùng/ngày vào năm 2025, mà nhu cầu lớn nhất sẽ là từ Mỹ và các nước đang
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
13
thiên nhiên trong tổng các loại năng lượng tiêu thụ sẽ tăng từ 23% năm 2001 lên 25% vào
năm 2025.
Trữ lượng khí để sản xuất sản phẩm khí thiên nhiên ước tính sẽ dùng được trong
khoảng 60,7 năm nữa. Trung và Nam Mỹ có trữ lượng khí tự nhiên đủ cho khoảng 68,8
năm; Các nước Cộng hòa thuộc Liên bang Xô Viết cũ khoảng 75,5 năm, châu Phi 88,9 năm
còn riêng Trung Đông thì trữ lượng khí quy đổi khí thành phẩm đủ cung cấp cho hơn 100
năm nữa.
3. Than
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
14
Là nguồn nhiên liệu hóa thạch được sử dụng từ lâu nhất trên thế giới. Tổng trữ lượng
than trên toàn thế giới được ước tính khoảng 1.083 tỷ tấn, đủ cung cấp cho khoảng 210 năm
nữa với mức tiêu thụ như hiện nay.
Hàng năm có khoảng hơn 4,030 triệu tấn than được khai thác, con số này đã tăng 38%
trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở châu Á, trong khi đó chấu
Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Các nước khai thác nhiều nhất không tập trung trên một
châu lục mà nằm rải rác trên thế giới, năm nước khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung
Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiêu dùng
nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất khẩu. Lượng than khai thác
được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, với Trung Quốc chiếm khoảng hơn một
nửa sản lượng.Có thể coi than là một ngành công nghiệp mang tính toàn cầu, lượng than
thương mại được khai thác tại hơn 50 quốc gia và tiêu thụ tại trên 70 nước trên toàn
Xuất khẩu (nghìn tấn)
4,2
5,52
6,5
10,5
14,7
21,3
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
15
Xuất khẩu /sản
lượng(%)
31,35
33,64
33,65
38,39
43,11
54,92
Giá trị sản xuất công
nghiệp theo giá thực
tế phân theo ngành
công nghiệp(tỉ đồng)
4,705
6,740
8,168
12,295
15,589
19,552
Cơ cấu giá trị sản
150
41
4
PHẦN 3: GIẢI PHÁP CHO SỰ CẠN KIỆT NGUỒN NHIÊN LIỆU HÓA THẠCH
1. Giải pháp kinh tế.
Các thách thức đáng quan tâm như:
- Thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt trong
đầu tư phát triển;
- Thách thức giữa cơ sở hạ tầng, kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu với khối
lượng chất thải đang ngày càng tăng lên;
- Thách thức giữa nhu cầu ngày càng cao về nguồn vốn cho bảo vệ môi trường với
khả năng có hạn của ngân sách Nhà nước;
- Sự đầu tư của doanh nghiệp và người dân cho bảo vệ môi trường còn ở mức rất
thấp…
Giải pháp:
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
16
- Trước hết phải trợ cấp kinh phí đẩy mạnh xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với
môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với
thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân. Kinh phí đẩy mạnh tuyên
truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức,
lối nghĩ, cách làm, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Tăng nguồn kinh
phí cho công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý quyết liệt, giải quyết dứt điểm các vụ việc về môi
trường, các vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Lấy chỉ số đầu tư cho môi trường, hoạt
động bảo vệ môi trường, kết quả bảo vệ môi trường cụ thể để đánh giá.
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường bằng cách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với
phát triển kinh tế-xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khắc
phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường; Thực hiện tốt chương trình
định các giải pháp chiến lược và chính sách thực thi, bố trí các nguồn lực cần thiết để tổ
chức và triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia với cạn kiệt nguồn nguyên
liệu hóa thạch
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản quy
phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tài nguyên nước theo hướng xác lập cơ chế quản lý tài
nguyên nước đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy
mạnh xã hội hóa kinh phí, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi
người dân tham gia bảo vệ môi trường, làm kinh tế từ môi trường. Tạo điều kiện, hỗ trợ để
các tổ chức phản biện xã hội về môi trường, các hội, hiệp hội về thiên nhiên và môi trường
hình thành, lớn mạnh và phát triển, đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường.
-Đẩy mạnh thực hiện “kinh tế hóa” trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản theo hướng
giảm cơ chế “xin - cho”, tăng cường áp dụng hình thức đấu thầu quyền thăm dò khoáng
sản, đấu giá mỏ để tăng thu cho ngân sách Nhà nước và lựa chọn được tổ chức, cá nhân có
năng lực, kinh nghiệm tham gia hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; nâng
cao tính thống nhất, tránh chồng chéo trong quản lý; tăng cường phân cấp cho các địa
phương quản lý khoáng sản; chú trọng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật Đồng
thời, tiếp tục giảm xuất khẩu thô, đẩy mạnh chế biến sâu nhằm bảo vệ và nâng cao giá trị
tài nguyên khoáng sản, hướng tới mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp khai khoáng ổn
định, bền vững. Phát triển kinh tế biển, bảo vệ an ninh trên biển.
- Giảm đầu tư vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhằm ủng hộ cuộc chiến chống biến đổi
khí hậu.
-Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm về phát triển nhiên
liệu sạch, giảm thiểu việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch:
- Tăng cường hợp tác song phương, mở rộng hợp tác đa phương với các nước có
ngành công nghiệp nhiên liệu sạch đặc biết là nhiên liệu sinh học phát triển, với các tổ
chức, cá nhân nước ngoài giàu tiềm lực để học hỏi kinh nghiệm trong việc phát triển nhiên
liệu sạch;
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
18
nguyên. Hiện nay, chính sách thuế của nước ta cũng đã có những ưu đãi nhất định khi cho
phép các doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
với mức tối đa 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp và số tiền trích lập quỹ này
Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
19
được giảm trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, với một số đơn vị không
phát sinh thu nhập tính thuế thì ưu đãi này không phát huy được tác dụng. Vì vậy, có thể áp
dụng các biện pháp khác nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát
triển, ví dụ như cho phép khấu trừ gấp đôi hoặc gấp 1,5 lần các chi phí mà doanh nghiệp
chi ra cho hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ khi xác định chi phí
được trừ để tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Với cách này, chi phí được trừ
sẽ tăng lên và số thuế phải nộp vì vậy cũng được giảm đi với tỷ lệ 25% trên chi phí nghiên
cứu và phát triển khoa học công nghệ. Áp dụng phương án này sẽ khuyến khích doanh
nghiệp tích cực trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ.
Song song với việc ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai
thác và sử dụng năng lượng sạch, cần có biện pháp quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động
khai thác tài nguyên như khai thác các loại quặng, than, dầu khí ở dạng thô. Trong trường
hợp này, thuế tài nguyên được xem như một công cụ quan trọng nhất, đang được áp dụng
một cách rộng rãi và có hiệu quả cao nhất.Đối với thuế tài nguyên, nên áp dụng mức thuế
suất cao hơn nữa đối với loại tài nguyên dạng thô, ngược lại, đánh thuế suất thấp hơn đối
với tài nguyên dạng tinh hoặc đã chế biến. Mặc dù những quy định của thuế tài nguyên về
lý thuyết là có tác động tích cực nhất trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy
nhiên, nếu việc quản lý không hiệu quả thì mục tiêu tốt đẹp của thuế tài nguyên cũng không
thể thực hiện được.
*Nghiên cứu, xây dựng thuế các bon.
Về mặt dài hạn, cần có sự nghiên cứu về thuế các bon, đây là thuế đánh vào lượng khí
thải CO2, từ quá trình đốt nhiên liệu chứa các bon.
Thuế các bon được kỳ vọng trở thành một sắc thuế quan trọng để giảm luồng khí thải
sạch.
3. Giải pháp giáo dục.
-Giáo dục tiết kiệm năng lượng trong các trường ở các cấp học, nhằm tạo ý thức cho
các em học sinh ngay từ lúc còn nhỏ. Tổ chức các cuộc thi bảo vệ môi trường trong các
trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao đẳng và các cá nhân tổ
chức khác như thi vẽ tranh cổ động, tiết kiệm năng lượng,
-Tổ chức tuyên truyền tiết kiệm năng lượng, các mối nguy hại của việc khai thác quá
mức nguồn nhiên liệu hóa thạch trong xã hội.
- Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng mô hình hộ gia đình TKNL, tăng cường sử dụng
bình nước nóng năng lượng mặt trời trong các hộ gia đình. Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lá Xanh (2005), “Nhiên liệu hóa thạch”, tham khảo ngày 11/11/2014.