1
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGÀNH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG Ở ĐẠI HỌC CẦN THƠ, VIỆT NAM
- KHẢO CỨU TỪ DỰ ÁN VLIR-E2 -
Lê Anh Tuấn
1*
, Lê Hoàng Việt
1
, Nguyễn Hiếu Trung
1
, Guido Wyseure
21
Bộ môn Kỹ thuật Môi trường và Tài nguyên Nước
Khoa Công nghệ, trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam
Khu II, đường 3/2, Thành phố Cần Thơ, Việt nam
Tel/Fax: 00-84-71-834 539
2
Phòng Quản lý Đất đai
Bộ môn Quản lý đất đai và Kinh tế học
Khoa Kỹ thuật Khoa học sinh học, trường Đại học Thiên chúa giáo Leuven, Bỉ
Celestijnenlaan 200E., B-3001 Leuven, Belgium
*
tác quốc tế
. 2
I. GIỚI THIỆU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở Việt Nam, phần cuối cùng của hạ lưu sông
Mekong, với 4 triệu ha đất nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, được xem là khu vực
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Vùng Đồng bằng (hình 1)
thực tế là một khu đất ngập nước rộng lớn và vùng đất phù sa bằng phẳng, có mật độ
sông rạch và kênh đào dày đặt và một hệ sinh thái đa dạng sinh học phong phú với
nhiều thành phần thực và động vật. Hiện tại, đồng bằng có 2,4 triệu ha đất canh tác
nông nghiệp và hơn 350.000 ha mặt nước dùng cho việc nuối trồng và đánh bắt thủy
sản. Khu vực chỉ chiếm 5% diện tích lưu vực của sông Mekong nhưng cung cấp cho
toàn quốc trên 50% lượng lương thực chính, 60% lượng tôm cá và 70% lượng trái cây
nhiệt đới.
Hình 1: Lưu vực sông mekong và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Vào mùa mưa, một phần vùng Đồng bằng bị ngập lũ. Dọc theo 600 km ven biển, triều
biển ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng nước do sự xâm nhập mặn. Thêm vào đó, 2
triệu ha đất bị nhiễm phèn. Trong mùa khô và đầu mùa mưa, nước ô nhiễm tác động
nặng nề đến canh tác nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt. Tài nguyên thiên nhiên ở
ĐBSCL bị ảnh hưởng gia tăng theo các tác động của con người. Thêm nữa, việc nhanh
chóng công nghiệp hóa và đô thị hóa, việc thâm canh với 2 đến 3 vụ mỗi năm ở các tỉnh
vùng tây - bắc, việc nuôi trồng thủy sản ở các vùng ven biển và các hoạt động khác của
con người đã gây các vấn đề ô nhiễm trong Đồng bằng. Chất lượng nước là một trong
Bảng 1: Ngành học về môi trường ở ĐHCT
Số Ngành học Bằng cấp Đơn vị đảm nhiệm
1 Kỹ thuật Môi trường
(EE)
Cử nhân kỹ thuật
(BEng.)
Bộ môn Kỹ thuật Môi trường và Tài
nguyên nước, Khoa Công nghệ
2 Quản lý Môi trường
và Tài nguyên Thiên
nhiên (ENRM)
Cử nhân Khoa học (BSc.)
Thạc sĩ Khoa học (MSc.)
Bộ môn Quản lý Môi trường và Tài
nguyên Thiên nhiên, Khoa Nông nghiệp II. HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
Một trong các cơ sở lập luận quan trọng để xác định sự thành công của công cuộc hiện
đại hóa và công nghiẹp hóa đất nước là việc bảo đảm tài nguyên nhân lực. Việc này
nhằm đạt chất lượng và mẫu mực đáp ứng nhu cầu và có khả năng ứng dụng khoa học
và công nghệ hiện đại (ĐHCT, 2002). Cốt lõi trong các vấn đề là một đòi hỏi mạnh mẽ
để đầu tư cho nguồn nhân lực để giải quyết nhiều vấn đề môi trường đang phát sinh
như là một hệ quả của sự phát triển kinh tế ở ĐBSCL. Song song với việc mở các
ngành đào tạo về môi trường, ĐHCT luôn luôn đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm cải tiến
chương trình đào tạo, cập nhật giáo trình, huấn luyện giảng viên, lắp đặt và học các
thiết bị và dụng cụ mới, tiến hành nghiên cứu khoa học và trao đổi sinh viên. Từ mười
năm qua, ĐHCT đã hợp tác với nhiều trường đại học và viện nghiên cứu ở Đông Nam Á
(Thái Lan, Mã lai và Phillipines) và Châu Âu (Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch, Đức) qua các dự án
hợp tác quốc tế như MHO, VLIR, SANSED, … (Xem phụ lục 1). Nhiều giảng viên trẻ,
6. Lắp đặt các bộ trình diễn trong các phòng thí nghiệm Kỹ thuật Môi trường cho mục
đích giảng dạy và nghiên cứu.
7. Khởi động các nghiên cứu liên quan về Kỹ thuật Môi trường để nâng cao khả năng
giảng dạy.
Đến năm học 2005-2006, có đến 882 sinh viên ngành Kỹ thuật Môi trường, cả hệ chính
quy và tại chức, được hưởng lợi của dự án như hình 2.
101
262
440
508
606
645
755
882
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
1000
1998 - 1999 1999 - 2000 2000 - 2001 2001 - 2002 2002 - 2003 2003 - 2004 2004 - 2005 2005 - 2006
Academic year
No. of students
Hình 2: Tiến trình phát triển và áp dụng chương trình học
Chương trình Kỹ thuật Môi trường kéo dài 4,5 năm áp dụng cơ chế tín chỉ, phân bố như
hình 3 và tóm tắt ở phụ lục 2. Hình 3. Sơ đồ bố trí môn học
IV. THẢO LUẬN
Trong những năm gần đây, việc thâm canh trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở
ĐBSCL cùng với sự gia tăng dân số đang đe dọa môi trường. Do vậy, cơ hội nghề
nghiệp cho ngành kỹ thuật môi trường đột ngột gia tăng đáp ứng nhu cầu cho các cơ
quan và chính phủ. Để tạo dựng một chương trình đại học ngành Kỹ thuật môi trường,
Học kỳ 3-4:
+ Môn cơ bản
+ Thực hành thí nghiệm
+ Môn hỗ trợ
+ v.v. …
Học kỳ 1-2:
+ Môn cơ bản
+ Thực hành thí nghiệm
+ Môn hỗ trợ
+ v.v. …
Hướng hình thành chương trình đào tạo
Hướng áp dụng chương trình đào tạo