BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH
THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Th.S. Lê Thị Lệ Hà, Th.S. Lưu Thanh Tú
Trường CĐSP Nghệ An
Tóm tắt: Bài viết đề xuất định hướng phát triển chương trình đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên giảng dạy Tiếng Anh theo cách tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Abstract: The article presents orientation in the development of curriculum for
teachers of English, which focuses on teachers’ competency, in order to meet the
needs of basic and whole-sided innovation in education and training.
Key words: orientation, curriculum, teacher of English, competency,
innovation.
Chương trình, sách giáo khoa sau năm 2015 sẽ được xây dựng và biên soạn đáp
ứng yêu cầu tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công
dân; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú
trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo,
tự học, khuyến khích học tập suốt đời bảo đảm cho học sinh có tri thức phổ thông nền
tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải
tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến việc phát triển chương trình
đào tạo giáo viên Tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu nội
dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015.
1. Mục tiêu đào tạo
Ngành giáo dục đang triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04
tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hợp lý thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt
ra cho chính người học trong cuộc sống. Năng lực của người học là một cấu trúc động,
có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ
năng,... mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội... thể hiện ở tính sẵn sàng hành động
của người học trong môi trường học tập và những điều kiện thực tế đang thay đổi của
xã hội.
Năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người
ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như: năng lực toán học
của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động
chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy... .
2.2. Năng lực cốt lõi của học sinh phổ thông Việt Nam (Theo Dự thảo đề án
đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015- Bộ GD&ĐT)
129
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
a) Về phẩm chất: Chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát
triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: Sống yêu thương; Sống tự chủ;
Sống trách nhiệm.
b) Các năng lực chung: Chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và
phát triển cho học sinh những năng lực chung chủ yếu sau: Năng lực tự học; Năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực thể chất; Năng lực giao
tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực tính toán; Năng lực công nghệ thông tin và truyền
thông (ICT).
c) Các năng lực chuyên biệt thuộc lĩnh vực học tập, gồm: Tiếng Việt; Tiếng
nước ngoài; Toán; Khoa học tự nhiên, công nghệ; Khoa học xã hội và nhân văn; Thể
họ đạt được năng lực ấy. Giáo dục dựa vào năng lực sử dụng chính các năng lực này
để phát triển các chương trình, đánh giá nhằm xác định mức độ mà các năng lực đạt
tới. Giáo dục dựa vào năng lực nâng cao sự linh hoạt cần thiết về thời gian và tiến độ
của nội dung chương trình học. Khung chương trình được thay đổi từ quan điểm dựa
theo thời gian (niên chế) sang quan điểm dựa theo nhu cầu người học với sự nỗ lực đạt
được các năng lực. Vì vậy, chương trình đào tạo theo năng lực cho phép phát triển một
tiến trình học tập mang tính cá thể hóa cao, trong chương trình đào tạo theo năng lực
người học có cơ hội lựa chọn hoạt động và phương pháp học tập nhằm đạt được các
năng lực mong muốn. Tính linh hoạt của chương trình đào tạo theo năng lực còn thể
hiện ở chỗ bộ chuẩn năng lực đảm bảo cho giáo viên được linh hoạt và chủ động trong
việc sử dụng nhiều phương thức giảng dạy khác nhau nhằm giúp người học đạt các
mục tiêu năng lực.
3.3. Phát triển chương trình đào tạo giáo viên Tiếng Anh theo định hướng
phát triển năng lực người học.
Khái niệm phát triển năng lực ở đây được hiểu đồng nghĩa với phát triển năng
lực hành động hay còn gọi là năng lực thực hiện (kỹ năng). Yêu cầu cơ bản về năng
lực giáo viên tiếng Anh phổ thông bao gồm tập hợp các tiêu chí về kiến thức và kĩ
năng giúp cho giáo viên có căn cứ để phấn đấu nâng cao năng lực nghề nghiệp. Đồng
thời, yêu cầu cơ bản về năng lực giáo viên tiếng Anh phổ thông dùng để kết hợp với
Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên.
Phát triển chương trình đào tạo giáo viên Tiếng Anh trong các trường sư phạm
phải đảm bảo nội dung, yêu cầu trên các lĩnh vực sau (Theo Công văn số 792/BGĐTNGCBQLG ngày 25/2/2014 của Bộ Giáo dục và đào tạo):
Lĩnh vực 1: Kiến thức về môn học và chương trình
- Giáo viên tiếng Anh phải đạt bậc 4/6 (đối với giáo viên tiểu học và trung học
cơ sở), bậc 5/6 (đối với giáo viên trung học phổ thông) theo Khung năng lực ngoại ngữ
6 bậc dùng cho Việt Nam.
- Nắm vững những đặc tả về bậc 1 (đối với giáo viên tiểu học), bậc 2 (đối với
giáo viên trung học cơ sở), bậc 3 (đối với giáo viên trung học phổ thông) trong Khung
năng lực Ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và vận dụng trong dạy học.
- Hiểu và có khả năng lựa chọn các hình thức đánh giá, xây dựng các đề kiểm
tra và thi, tổ chức thực hiện việc đánh giá thường xuyên, định kì kết quả học tập và
năng lực tiếng Anh của học sinh; biết sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh nội dung,
phương pháp dạy và học.
- Có khả năng lựa chọn và khai thác các nguồn tài liệu, học liệu phù hợp và có
tác dụng bổ trợ cho việc học tiếng Anh của học sinh; điều chỉnh nội dung các học liệu
có sẵn cho phù hợp với mục tiêu bài học.
- Biết khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cho
việc dạy và học tiếng Anh.
Lĩnh vực 3: Kiến thức về học sinh
132
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
- Hiểu được sự phát triển về nhận thức, tình cảm và cảm xúc, thái độ học tập
của học sinh để điều chỉnh các hoạt động dạy học cho phù hợp.
- Có hiểu biết về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh theo từng giai
đoạn. Từ đó, điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp với học sinh.
- Vận dụng các hiểu biết về giá trị văn hóa, kinh nghiệm học tập của bản thân
và học sinh vào quá trình giảng dạy nhằm phát huy tiềm năng và khơi dậy hứng thú
học tập tiếng Anh cho học sinh.
- Thực hành tư duy sáng tạo và tư duy phê phán để tự nâng cao trình độ và áp
dụng vào giảng dạy để giúp học sinh phát triển các kĩ năng sáng tạo và tư duy phê
phán phù hợp với cấp học của mình.
Lĩnh vực 4: Giá trị và thái độ nghề nghiệp
- Giáo viên hiểu và truyền đạt được các giá trị của việc học tiếng Anh cho học
sinh; thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong giảng dạy.
- Thể hiện được khả năng làm việc hợp tác, làm việc theo nhóm để thực hiện tốt
(5) Thực hiện giảng dạy và tiến trình đánh giá.
Quan trọng nhất trong phát triển chương trình đào tạo theo năng lực đó là xác
định được chuẩn năng lực. Chuẩn năng lực nhất thiết phải tương thích với hệ thống
đánh giá để người học tự kiểm tra trên hệ thống chuẩn đã được xác định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ giáo dục và đào tạo (2015): Đề án “Đổi mới Chương trình và Sách giáo
khoa phổ thông sau năm 2015”
Bộ giáo dục và đào tạo (2015): Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể.
Bộ GD&ĐT (2014): Đề án Ngoại ngữ 2020.
Trường Đại học Vinh (2015): Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng
đào tạo giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục”.
134