1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang là xu thế tất yếu,
khách quan và là nhu cầu cấp bách đối với mỗi quốc gia. Đó vừa là quá trình hợp
tác, vừa là quá trình cạnh tranh để cùng phát triển. Trong xu thế đó, sự cạnh tranh
giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng
quyết liệt, gay gắt hơn. Cạnh tranh kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng năng suất lao
động, nâng cao chất lượng hàng hoá và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng.
Trong lĩnh vực kinh tế, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân
lực chất lượng cao. Vì vậy, chú trọng phát triển nguồn nhân lực với chất lượng cao
chính là chìa khoá để phát triển nền kinh tế.
Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có chất
lượng cao nói riêng đang thật sự trở thành yếu tố quan trọng trong sự nghiệp CNHHĐH đất nước, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của đất
nước, tạo sức mạnh cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc
tế.
Trong đường lối phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Đảng và
Nhà nước coi việc phát triển dạy nghề có vị trí quan trọng trong chiến lược phát
triển nguồn nhân lực của đất nước. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với đào tạo
nguồn nhân lực tham gia vào xây dựng và phát triển đất nước. Mục tiêu luật dạy
nghề chỉ rõ dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ
có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện
cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm
hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước1. Việt nam đã lĩnh hội được vai trò to lớn của giáo dục, cho nên
trong sự hội nhập hôm nay, mạng lưới giáo dục ở Việt Nam được mở rộng ra khắp
tỉnh thành, với nhiều loại hình đào tạo khác nhau.
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bình Dương, Đồng
1
trên 95%. Ngoài ra, tỉnh đang triển khai xây dựng Khu Liên hợp Công nghiệp Dịch vụ - Đô thị với quy mô diện tích gần 4.200 ha, trong đó bao gồm các khu trung
tâm dịch vụ và nhà ở đa dạng, cao cấp thích hợp cho nhiều đối tượng khác nhau và
6 khu công nghiệp với hạ tầng cơ sở hiện đại tầm cỡ quốc tế và khu vực. Các khu
công nghiệp mới như Mai Trung, Mỹ Phước 2 và 3, Rạch Bắp, Nam Tân Uyên. . .
Và Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị sẽ là khu vực thu hút đầu tư lớn
2
của tỉnh trong ngành công nghiệp và dịch vụ trong những năm tới. Với chủ trương
“Trải chiếu hoa mời gọi đầu tư” Bình Dương luôn đổi mới, đang và sẽ là điểm đến
lý tưởng của mọi chủ đầu tư trong và ngoài nước.
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Dương thì vai trò
người phụ nữ được cải thiện một cách căn bản, phụ nữ ngày càng tham gia vào các
hoạt động xã hội nhiều hơn trước, họ vừa đi làm vừa đảm trách công việc nhà, nuôi
dạy con cái, chăm sóc gia đình, nấu nướng…… Do vậy, quả là vất vả và khó khăn
khi thu xếp làm sao cho ổn định cả việc nhà lẫn việc ngoài xã hội? Trước thực tế đó
nhu cầu cần người Giúp việc nhà cho các gia đình ở Bình Dương là rất lớn. Thế
nhưng, hiện nay tỉnh Bình Dương chưa có chương trình đào tạo hay tài liệu hướng
dẫn cụ thể nghề “Giúp việc nhà”, người giúp việc chỉ làm theo kinh nghiệm mang
tính tự phát hoặc theo sự hướng dẩn của chủ nhà. Chính vì vậy, người nghiên cứu
thiết nghỉ cần phải có một chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” ngắn hạn,
nhằm trang bị cho người giúp việc những kiến thức, kỹ năng cần thiết, tạo điều kiện
cho người giúp việc tự tin hơn trong công việc của mình và giảm bớt gánh nặng của
người phụ nữ trong công việc gia đình, giúp người phụ nữ an tâm hơn trong công
tác xã hội; nhằm góp phần giải quyết việc làm nói riêng và phát triển nguồn nhân
lực của đất nước nói chung và thực thi một cách hiệu quả mục tiêu của giáo dục
nghề nghiệp đề ra.
Xuất phát từ những ý định trên, người nghiên cứu đã mạnh dạn làm đề tài
“ Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu
3. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà trình độ sơ cấp nếu được xây dựng
và giảng dạy thì sẽ đáp ứng nhu cầu của người học và người tuyển dụng tại tỉnh
Bình Dương.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” trình độ sơ cấp.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghề “ Giúp việc nhà” tại tỉnh Bình Dương.
4.3. Khách thể điều tra
Chương trình đào tạo nghề “Dịch vụ chăm sóc gia đình” của trường trung
cấp nghề Lê Thị Riêng và các trung tâm đào tạo cung ứng người giúp việc
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Người chủ và người lao động đang làm việc tại các gia đình của tỉnh Bình
Dương.
Lãnh đạo các cơ sở dạy nghề trong tỉnh Bình Dương.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phương pháp nghiên cứu cơ bản sử dụng để thực hiện luận văn là:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu cơ sở pháp lý của đề tài, các mô hình xây dựng và phát triển chương trình
đào tạo nghề tiêu biểu trên thế giới, phương pháp tiếp cận đào tạo theo mô-đun.
4
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phương pháp nghiên cứu tài liệu làm cơ sở để
Các kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn có khả năng ứng dụng vào thực
tế đào tạo nghề giúp việc nhà cho các trung tâm đào tạo và cung ứng người giúp
việc, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc luận văn gồm 3 phần:
A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. PHẦN NỘI DUNG
▪ Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo nghề
▪ Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà.
▪ Chương 3: Phát triển chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà trình độ cấp
nghề cho Trung tâm GDTX-KTHN Thuận An-Bình Dương
C. PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm và thuật ngữ về phát triển chương trình
Chương trình (Curriculum)
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về chương trình đào tạo. Tuy nhiên, có thể
nhận thấy những điểm cốt lõi của nó
- Chương trình: là một hệ thống thông tin biên soạn cho giáo viên bao gồm:
Trình tự về nội dung, trang thiết bị, dụng cụ, vật tư tiêu hao, các yêu cầu về
tiêu chuẩn đạt được. [34, tr.ix]
- Chương trình: là tất cả những kinh nghiệm mà cá nhân người học có trong
một chương trình giáo dục mà mục đích là để đạt được những mục tiêu và
liên quan đến từng mục tiêu cụ thể, đó là kế hoạch trong điều kiện của một
khuôn khổ giữa lý thuyết và nghiên cứu hay là sự hành nghề giữa thực tiễn
và truyền thống. [45, tr.3]
Các thành tố của chương trình (Curriculum elements): Một dạng thông tin cụ
thể dưới hình thức của một trong các sản phẩm thuộc về chương trình. (Ví dụ:
Tỉ lệ giáo viên/học viên; các yêu cầu đạt được khi tốt nghiệp; các yêu cầu về
trang thiết bị…). [34, tr.ix]
Xây dựng chương trình (Curriculum Development): Một hệ thống thiết kế thực
tiễn và hợp lý bao gồm các công việc: Thu thập các dữ liệu cần thiết, đi đến
các quyết định, xác định được nội dung tiêu chí và các hoạt động giảng dạy,
thực hiện đánh giá cả về sản phẩm lẫn về quy trình; cũng như sửa chữa, hiệu
chỉnh các chương trình có liên quan đến dạy nghề. [34, tr.xii]
Phát triển chương trình (Curriculum Development): là một quá trình thiết kế,
điều chỉnh sửa đổi dựa trên việc đánh giá thường xuyên liên tục 2
Nghề (Job): Là nghề nghiệp trong phạm vi hẹp, cụ thể và chuyên sâu. [34,
tr.x]
Nghề nghiệp (Occupation): Tên chung đặt cho một nhóm công nhân thực hiện
các nhiệm vụ và công việc tương tự nhau với mục đích hành nghề để kiếm
sống và thăng tiến. [34, tr.x]
Lĩnh vực nghề nghiệp (Occupational area): Việc phân loại các nghề có liên
quan mật thiết với nhau theo phạm vi và cùng có chung một loại sản phẩm,
quy trình hoặc dịch vụ. [30, tr.2]
2
Hoàng Ngọc Vinh (tài liệu dịch từ Milagros Campos Valles): Phát triển chương trình đào tạo giáo dục
chuyên nghiệp theo năng lực thực hiện – Chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý. Hạ Long, 2006, trang 2.
8
Khảo sát nghề (Occupational research): Một phương thức thu thập dữ liệu về
một nghề cụ thể để có thể xây dựng được nội dung đào tạo nghề. Phương thức
Thái độ (Attitude): Các cảm xúc và hành vi bề ngoài của con người đối với
một việc làm hoặc công việc. [34, tr.xi]
Năng lực (Competence): Việc một công nhân thực hiện một công việc bằng
cách thể hiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà công việc đó đòi hỏi. [34,
tr.x]
Sự thành thạo (Proficiency): Mức độ thực hiện một công việc. [34, tr.xi]
Thực hiện công việc (Performance): Một quy trình quan sát được (đòi hỏi phải
có kiến thức, kỹ năng, và thái độ làm việc phù hợp) để làm “một việc gì đó”
theo một tiêu chuẩn chấp nhận được với kết quả là một sản phẩm, một bán
thành phẩm, một quyết định hay một dịch vụ. [34, tr.xi]
Tiêu chuẩn thực hiện (Performance standard): Các tiêu chí được áp dụng
trong một nghề dùng để xác định xem một công việc đã được thực hiện một
cách thỏa đáng hay chưa. [34, tr.xi]
Tiêu chí (Criteria): Tiêu chuẩn đòi hỏi ở người công nhân nhằm đạt tới việc
thực hiện thành thạo một mục tiêu công việc. [34, tr.xi]
Trang thiết bị (Equipment): Một nhóm các thiết bị có liên quan với nhau được
sử dụng trong một mục đích cụ thể nào đó. [30, tr.4]
Vật tư hành nghề (Occupational supplies): Gồm các vật tư có liên quan cụ thể
tới đặc tính của từng ngành nghề, được tiêu thụ trong quá trình giảng dạy. [30,
tr.4]
DACUM: thuật ngữ được viết tắt từ các chữ cái của cụm từ tiếng Anh
“Develop A Curriculum” (Xây dựng một chương trình). Đây là một phương
pháp phân tích nghề, qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành nghề được
tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã được đào tạo để cùng xác định
danh mục các nhiệm vụ và công việc mà các công nhân lành nghề phải thực
hiện trong nghề nghiệp của họ. [34, tr.ix]
Mô-đun (Module): Tập hợp một số công việc có liên quan với nhau nhằm
cung cấp một số kiến thức và kỹ năng để người học có thể hành nghề ngay
-
Một phần không thể thiếu của nền giáo dục nói chung;
-
Môt phương tiện (hoặc cách thức) nhằm chuẩn bị cho các lĩnh vực nghề
nghiệp và tham gia hiệu quả vào thế giới việc làm;
-
Một khía cạnh của học tập suốt đời và chuẩn bị cho tinh thần trách nhiệm
công dân;
-
Một công cụ cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện về môi
trường;
-
Một phương pháp để tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo. [48, tr.7]
Giáo dục kỹ thuật ( Technical Education): là giáo dục để mưu sinh bằng một
nghề nghiệp mà sự thành công phụ thuộc phần lớn vào kiến thức kỹ thuật và
sự hiểu biết về khoa học và công nghệ để ứng dụng vào sản xuất.
Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp: Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị
cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực
hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học
triển lâu dài của đất nước. Nhu cầu đào tạo này thường chọn các mục tiêu đi
trước, đón đầu về khoa học, công nghệ, vượt trước nhu cầu đào tạo của doanh
nghiệp. Nhu cầu đào tạo này có số lượng lớn, có căn cứ và có cơ sở dự doán hàng
năm.
Nhu cầu của doanh nghiệp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao gồm
đào tạo cán bộ quản lý và lao động chuyên môn trực tiếp. Phần lớn nhu cầu của
13
doanh nghiệp là đào tạo nhân lực lao động chuyên môn trực tiếp, đòi hỏi người
học sau khi tốt nghiệp có thể làm việc được, phù hợp với nhu cầu cụ thể của
doanh nghiệp. Nhu cầu đào tạo này phù hợp với các trình độ: đại học theo hướng
trình độ ứng dụng, kỹ thuật viên trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
dạy nghề. Tuy nhiên nhu cầu đào tạo này chưa được tổng hợp, thiếu thông tin dự
báo nhu cầu đào tạo hàng năm.
Nhu cầu của người học là nhu cầu cá nhân của học sinh, sinh viên. Nhu cầu này
thường thay đổi, đa dạng nhưng phải được nghiên cứu và tôn trọng. Đó là nhu
cầu của bản thân người học để nâng cao trình độ, học để tìm kiếm việc làm, để
làm một nghề có thể sống được, học để tìm việc làm cho mình và cho người
khác. Bên cạnh đó là nhu cầu của gia đình và phụ huynh học sinh, hướng con em
họ lựa chọn ngành nghề theo truyền thống gia đình. Nhu cầu của người học
thường thay đổi một cách tự phát, theo nhu cầu của thị trường lao động, rất khó
xác định nhưng cần phải dự báo.
Ba nhóm nhu cầu thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giai đoạn, phụ
thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo ra một tập hợp, có các
vòng giao thoa với nhau. Tùy theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, nhà trường
điều chỉnh số lượng người học, ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp với
xu thế phát triển, thỏa mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp và
nhu cầu của bản thân người học.
1.2.1. Đặc trưng của hệ thống đào tạo nghề hiện đại
Trong thời đại khoa học và công nghệ đang phát triển với tốc độ vũ bão như
hiện nay, hệ thống đào tạo nghề không chỉ tạo điều kiện giúp phát huy hết năng lực
học tập của người học mà còn phải giúp cho họ có đủ năng lực để đương đầu với
những thử thách của một thế giới nghề nghiệp luôn biến động. Theo Nguyễn Minh
Đường thì một hệ thống dạy nghề hiện đại có các đặc trưng sau:
Mềm dẻo, linh hoạt với đa mục tiêu, nhiều loại hình để có thể đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của thị trường lao động cũng như của người học;
Có tính liên thông giữa các cấp trình độ, tạo khả năng cho người lao động có
khả năng học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ để vươn lên đỉnh
cao nghề nghiệp;
Có khả năng chuyển đổi để người lao động có thể đổi nghề trước sự thay đổi
nhanh chóng của sản xuất, của tiến bộ khoa học và công nghệ mà không cần
phải học lại từ đầu;
15
Thừa nhận năng lực của người nhập học, vì đầu vào của dạy nghề rất đa dạng
với nhiều trình độ khác nhau. Do vậy, dạy nghề phải có những chương trình
thích hợp cho từng đối tượng;
Các chương trình dạy nghề phải có tính doanh nghiệp để giúp học sinh có thể
tự tạo được việc làm sau khi tốt nghiệp. [25, tr.18]
16
1.2.2. Xu hướng tiếp cận chương trình đào tạo trên thế giới
Hướng dẫn
phân tích đầu –cuối
Khảo sát thực trạng
Xác định
mục đích đào tạo
Xây dựng
mục tiêu đào tạo cụ thể
Xem xét lại toàn bộ
các giai đoạn
Xác định tiêu chí
thành công của đào tạo
Đánh giá đào tạo
Xây dựng
công cụ đánh giá
Tổ chức
đào tạo
Xây dựng tài
liệu giảng dạy
Thiết kế hoạt
động giảng dạy
lực mà người hành nghề thực hiện.
Xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể (Develop training objectives): là xây dựng
mục tiêu cho mỗi mô-đun, hoặc cho từng kỹ năng. Đây là mục tiêu thực hiện
cuối cùng TPO (Terminal Performance Objective). Mỗi một kỹ năng sẽ được
đánh giá theo quy trình và sản phẩm cuối cùng của người học.
Xác định tiêu chí thành công của đào tạo (Determine training success
criteria): các tiêu chí được xây dựng trên cơ sở phân tích nghề, từ đó xác định
vị trí cụ thể người hành nghề làm việc. Và được viết bằng thẻ kỹ năng, sau khi
đã qua đào tạo, thẻ kỹ năng có sẵn là để xác định tiêu chuẩn thành công của
đào tạo.
Xem xét toàn bộ các giai đoạn (Review/ Rivise all phases): nhóm điều phối
xây dựng chương trình sẽ thực hiện công việc hoàn thiện chương trình, luôn
theo dõi tiến trình xây dựng chương trình, cùng với chuyên gia nội dung và
chuyên gia phương pháp thực hiện theo đúng quy trình. Đồng thời tổ chức các
hội thảo mời chuyên gia đóng góp ý kiến, thẩm định và ban hành chương
trình.
Xây dựng công cụ đánh giá (Develop Evaluation Tool): bộ công cụ đánh giá
nhằm đánh giá năng lực thực hiện cho mỗi kỹ năng. Đó là bảng đánh giá quy
trình thực hiện thông qua các tiêu chí đánh giá.
19
Tổ chức đào tạo (Organize the training) bao gồm: sự giao tiếp, ngân quỹ, giá
cả, quyền lợi và sự thỏa thuận cho lợi ích của nhu cầu.Thiết kế các hoạt động
giảng dạy (Design Intructional Activities): thiết kế bài giảng nên xây dựng cho
mỗi kỹ năng. Mỗi thẻ kỹ năng sẽ được đánh giá. Tất cả các hoạt động nên theo
trình tự cho hiệu quả học.
Xây dựng tài liệu giảng dạy (Design Intructional Materials): tất cả những tài
liệu hướng dẫn phải được chuẩn bị có chất lượng.
và thiết kế bài giảng đều được quan tâm. Mô hình chương trình có liên quan
đến việc phối hợp một chương trình đào tạo cụ thể với các nhu cầu tổ chức.
Tám yếu tố được xem như một quá trình thiết kế gồm có: “Tinh thần sẵn sàng
đào tạo; Bài học; Cấu trúc nội dung; Chuỗi các bài giảng; Ngày dạy; Ôn tập
và thực hành; Củng cố và hiểu biết về kết quả”. Mỗi bài học được chuẩn bị
như là một chuỗi bài học dựa trên phân tích hành vi hoạt động và 8 yếu tố trên.
Phát triển (Develop): Khi xây dựng chương trình, chúng ta viết phần ôn lại cho
mô hình bài học. Chúng ta cần chuẩn bị người dạy và tài liệu dựa trên phương
tiện để bổ sung cho bài soạn giáo án. Phần này cũng bao gồm phần ôn lại kỹ
và kiểm tra tài liệu để đảm bảo chúng đáp ứng được nhu cầu.
1. Phân tích
2. Thiết kế
3. Phát triển
4.Thực hiện
5.Kiểm
soát
1.1 Đánh giá
nhu cầu và đề
xuất
2.1 Thiết kế
chương trình
3.1 Phát triển
tài liệu đào tạo
2.3 Soạn giáo
án
5.3 Theo dõi
sau Đào tạo
1.3 Phân tích
hành vi việc
làm cụ thể
Chấp thuận
các phân tích
Chấp nhận để
tiếp tục đào
tạo
Sơ đồ 1. 2: Mô hình hệ thống công nghệ đào tạo
( Nguồn: Finch, Curtis R and Crunkilton, John R. 1993).
Thực hiện (Implement): Giai đoạn thực hiện là xử lý việc quản lý và phân phối
giảng dạy. Quản lý đào tạo gồm có thời khóa biểu môn học, xúc tiến và quản
lý. Phân phối giảng dạy gồm có sự định rõ một phần ba các phương pháp
21
giảng dạy, một trong số này được các giáo viên sử dụng khi hướng dẫn riêng
cho một đối tượng cụ thể với nội dung và trong ngữ cảnh cụ thể, giúp giáo
viên nhất quán nội dung đã được xác định trong giai đoạn phân tích và có thể
thực hiện được.
Thực hiện phân tích nghề
Sản phẩm cấp I
Danh mục nhiệm vụ và công việc
Thiết kế chương trình
Thành lập nhóm xây dựng chương trình
Phát triển mục tiêu chương trình
Thiết kế cấu trúc chương trình
Phát triển các đặc điểm của chương trình
Sản phẩm cấp II
Đề cương chương trình
Phân tích công việc
Kiểm tra lại tên công việc
Lựa chọn các công việc để đào tạo
Thực hiện phân tích công việc
1.2.3.4. Mô hình hệ thống xây dựng chương trình giảng dạy (The Systematic
Curriculum & Instructional Development – SCID). [51, tr.22]
Thành phần chính
PHÂN TÍCH
A1: Thực hiện phân
tích nhu cầu
A 2: Tiến hành phân
tích nghề
A 3: Tiến hành kiểm
tra các phần công
việc
A 4: Lựa chọn công
việc đào tạo
A 5: Tiến hành phân
tích tiêu chuẩn công
việc
A 6: Tiến hành phân
tích vấn đáp công
việc
THIẾT KẾ
B 1: Xác
định phương
pháp đào tạo
C 4: Kiểm tra thí
điểm/Xem xét
tài liệu
Hoặc
C 2 a: Xây
dựng hướng
dẫn học tập/
Modules
THỰC HIỆN
D 1: Thực thi
kế hoạch đào
tạo
D 2: Tiến hành
đào tạo
D 3: Tiến hành
đánh giá tổng
thể
D 4: Lưu
hồ sơ đào
tạo
23
ĐÁNH GIÁ
E 1: Đánh giá
tư, là lập kế hoạch đào tạo, kế hoạch này phải được lập một cách chi tiết và đề
cập đến nhiều khía cạnh.
24
Giai đoạn 3: Xây dựng hướng dẫn (Instructional development): bao gồm 4
thành tố, thường được sử dụng cho các chương trình giảng dạy dựa trên năng
lực hoặc dựa trên thành tích công việc. Thành tố thứ nhất là xây dựng bảng
mô tả năng lực. Thành tố thứ hai, là xây dựng các hướng dẫn học tập hoặc các
mô-đun học tập. (Đối với chương trình truyền thống thì thành tố đầu tiên là,
xây dựng các chương trình hướng dẫn. Thành tố thứ hai trong chương trình
này là xây dựng giáo án. Thành tố thứ ba, là xây dựng các phương tiện hỗ trợ,
đó có thể là những tấm phim đèn chiếu đơn giản, poster, các slide trình chiếu,
hoặc các băng hình video…. Thành tố cuối cùng, trong giai đoạn này là kiểm
tra thí điểm và xem xét lại tài liệu, bước này rất quan trọng cần đầu tư nhiều
về kinh tế và thời gian để điều chỉnh và cải tiến những điểm cần thay đổi.
Giai đoạn 4: Thực hiện đào tạo (Training Implementation) gồm 4 bước: Bước
thứ nhất, bắt đầu bằng việc thực hiện kế hoạch đào tạo đã được xây dựng ở
giai đoạn thiết kế. Bước thứ hai, sau khi thử nghiệm là việc tiến hành đào tạo.
Bước thứ ba, là tiến hành đánh giá định hình. Bước cuối cùng là lưu hồ sơ đào
tạo.
Giai đoạn 5: Đánh giá chương trình (Program Evaluation): giai đoạn cuối
cùng này bao gồm cả 3 thành tố: sau khi đánh giá sơ bộ đã hoàn tất, Bước Thứ
nhất, là đánh giá tổng thể để thu thập các số liệu sử dụng cho việc duy trì hay
cải tiến chuơng trình đào tạo. Thứ hai, là phân tích và lý giải những thông tin
thu thập sẽ giúp đưa ra các kiến nghị về cải tiến chương trình. Bước cuối cùng
trong giai đoạn này là hiệu chỉnh những hoạt động. Hoàn tất giai đoạn đánh
giá sẽ tạo ra dữ liệu về kết quả hoàn thành công việc trong việc xây dựng bất
kỳ chương trình đào tạo nào.