Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc - Pdf 24

I. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
1. Vị trí và tiềm năng phát triển
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (KTTĐPB) gồm 8 tỉnh và thành phố là:
Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Bắc Ninh và
Vĩnh Phúc trong đó thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và quan
hệ quốc tế của cả nước. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 15512,1 km2, chiếm 4,68%
diện tích của nước. Dân số toàn vùng năm 2007 là 13,88 triệu dân, chiếm 16,3%
dân số cả nước. Tỷ lệ đô thị hoá của vùng đạt khoảng 27,4 % (cả nước 24,8%).
Vùng KTTĐPB nằm trong lưu vực các sông lớn như sông Hồng, sông Cầu,
sông Đuống, sông Thái Bình; phía Bắc giáp vùng Đông Bắc, phía Tây giáp vùng
Tây Bắc là cửa ngõ thông thương với Trung Quốc; phía Nam giáp vùng Bắc Trung
bộ là cửa ngõ thông thương với Lào và phía Đông giáp biển Đông. Trong vùng vừa
có đồng bằng, trung du, miền núi và duyên hải; là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế về
đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các
tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới.
Tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, khoáng sản, tài nguyên rừng và đa
dạng sinh học trong vùng hết sức đa dạng và phong phú. Hệ thống đô thị phát triển
rộng khắp. Công nghiệp phát triển sớm, tập trung đội ngũ doanh nhân lớn. Nguồn
nhân lực của Vùng KTTĐPB khoảng 7,48 triệu lao động (chiếm 17,6% tổng lao
động – số liệu thống kê năm 2005), là nguồn lao động có chất lượng khá cao so với
mức trung bình của cả nước, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại
học cao nhất so với các vùng khác, chiếm tới 32% cả nước. So với các vùng kinh tế
khác, vùng KTTĐPB là nơi tập trung nhiều nhất các viện nghiên cứu, các trường
đại học, có các trang bị hiện đại nhất cả nước. Đây là trung tâm kinh tế năng động
và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cả nước Việt Nam. Ưu
thế lớn nhất của vùng kinh tế này là nhân lực có đào tạo tốt, có điểm thi vào các
trường đại học cao đẳng cao nhất nước và tỷ lệ sinh viên trên đầu người cao nhất
nước.
Với 8 tỉnh có vị trí địa lý và không gian kinh tế liền kề, các tỉnh trong vùng
có nhiều khả năng tạo ra sự liên kết kinh tế để bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát
triển. Với vị trí địa lý cực kỳ quan trọng, có thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải

nước (640 USD).
Sự tăng trưởng của kinh tế vùng thời gian qua có đóng góp lớn của các
ngành thuộc khu vực phi nông nghiệp. Tỷ trọng các ngành có năng suất lao động
cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ, chất xám cao ngày càng lớn và tỷ trọng các
ngành có năng suất thấp giảm đi trong toàn bộ lao động xã hội, đánh dấu sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu đi vào chiều sâu và ngày càng có chất lượng hơn. Tỷ
trọng ngành sản xuất vật chất tăng lên, năm sau cao hơn năm trước; tỷ trọng ngành
dịch vụ có xu hướng giảm. Điều này chứng tỏ tỷ trọng sản xuất hàng hóa tăng lên
làm cho độ mở của nền kinh tế lớn hơn và mức độ hội nhập kinh tế với bên ngoài
ngày càng mạnh mẽ. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra đồng thời;
tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nước ngoài tăng lên (mặc dù
tương đối mờ nhạt); tỷ trọng của kinh tế nhà nước cũng có thể giảm xuống một
cách tương đối song vai trò bảo đảm an toàn cho toàn bộ nền kinh tế vẫn được duy
trì. Điều này phản ánh môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng hơn và việc cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tuy chậm nhưng đã bước đầu phát huy tác
dụng.
Trong những năm qua, môi trường đầu tư được các tỉnh, thành phố trong
vùng tích cực cải thiện thông thoáng, nhờ đó số lượng doanh nghiệp tăng lên khá
nhanh, bình quân khoảng 17%/năm; nhiều doanh nghiệp ở các địa phương đang dần
lớn mạnh, mở rộng quy mô sản xuất.
(2) Cơ cấu kinh tế của vùng KTTĐPB đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hoá góp phần lôi kéo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
vùng đồng bằng sông Hồng.
Cơ cấu kinh tế của vùng đã có bước chuyển dịch tiến bộ. Trong thời kỳ
1995-2002 tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng thêm được 4,46 điểm, tương
ứng tỷ trọng nông lâm giảm được 4,46 điểm (nông, lâm, thủy sản giảm từ 15,42%
xuống 10,96%; công nghiệp - xây dựng tăng từ 30,46% lên 41,67%; và dịch vụ
giảm từ 54,12% xuống 47,37%.
Công nghiệp phát triển khá nhanh, trong 3 năm qua (2001 - 2003), giá trị gia
tăng đạt mức tăng bình quân khoảng 12%; cơ cấu sản phẩm đã có những chuyển

nước và tăng lên đáng kể (từ 81,8 USD năm 1995 lên 250,9 USD năm 2002).
(3) Mức đóng góp vào thành quả chung của cả nước của vùng KTTĐ Bắc Bộ tiếp
tục tăng. Năm 2002, so với cả nước, vùng KTTĐPB chiếm khoảng 19,4% về GDP,
21,66% về thu ngân sách, 19,58% về kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời nếu so với
năm 1995, tỷ trọng của nhiều chỉ tiêu tổng hợp (về GDP, giá trị gia tăng công
nghiệp, giá trị gia tăng nông nghiệp, giá trị gia tăng dịch vụ,..) của vùng KTTĐPB
tăng hơn được khoảng 1 – 1,5%. Vùng KTTĐPB bước đầu đã phát huy được một
số lợi thế so sánh, phát triển vượt trội và có tác động thúc đẩy cả vùng Đồng bằng
sông Hồng cùng phát triển.
(4) Kết cấu hạ tầng được cải thiện đáng kể, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn (trong thời kỳ 1995 –
2002 chiếm khoảng 43,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) đã tập trung vào một số
công trình then chốt, tạo ra những điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng của vùng.
Về hệ thống đường bộ: quốc lộ 1A là tuyến chiến lược quan trọng đã hoàn
thành việc khôi phục, cải tạo nâng cấp từ Lạng Sơn về Hà Nội đi Ninh Bình đến
Thanh Hoá, đạt tiêu chuẩn cấp III; quốc lộ 18, từ Bắc Ninh đi Bãi Cháy đã hoàn
thành cơ bản việc nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III. Đoạn Bãi Cháy – Mông Dương –
Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV; việc nâng cấp quốc lộ 10
hoàn thành; đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp I. Đã
xây dựng mới các cầu như cầu Bình, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu; đang xây
dựng cầu Yên Lệnh, Thanh Trì, Bãi Cháy...; Các quốc lộ khác như 2B, 38, 39, 183,
12B, 21, 21B và 23 cũng được cải tạo. Giao thông nông thôn được phát triển khá
mạnh (cải tạo khoảng 300 km, làm mới khoảng 150 km).
Về hệ thống các sân bay: trong vùng có 3 sân bay hiện đang khai thác là sân
bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi và sân bay Gia Lâm.
Sân bay Nội Bài đã được đầu tư đạt công suất 4 triệu hành khách/năm, có điều kiện
mở rộng để đạt 6 triệu hành khách/năm.
Sân bay Cát Bi đang là sân bay nội địa hiện đảm nhận vai trò dự bị cho sân
bay Nội Bài; dự kiến sẽ kéo dài đường hạ - cất cánh đạt khoảng 2800 mét dài, mở
rộng nhà ga từ 4000 m2 lên 6000 m2; quy hoạch mở thêm đường bay khu vực và

OECF,... các tỉnh đang triển khai các dự án cấp nước như: ở Hà Nội (100.000
m
3
/ngày đêm), ở Hạ Long hai dự án Đồng Ho và Đồi Vọng (công suất 80.000
m
3
/ngày đêm) và nâng công suất nhà máy nước An Dương ở Hải Phòng (từ 60.000
lên 100.000 m
3
/ngày đêm). Đồng thời, đang nghiên cứu các dự án cấp nước cho hai
thành phố Hà Nội, Hải Phòng.
(5) Một số mặt văn hóa – xã hội có bước phát triển khá
Hệ thống giáo dục phát triển tốt, đa dạng nhiều cấp học cũng như ngành học.
Hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong vùng mà
còn phục vụ cho các vùng khác. Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung tâm dạy
nghề đã được nâng cấp, trong đó một số trường đại học trọng điểm và dạy nghề
trọng điểm đã được hiện đại hoá một bước. Đây là vùng có trình độ dân trí cao nhất
so với các vùng khác trong cả nước, tập trung tới 26 - 27% cán bộ có trình độ cao
đẳng và đại học và 72% cán bộ có trình độ trên đại học của cả nước. Toàn vùng có
50 trường đại học, 20 trường cao đẳng (trên tổng số 139 trường của cả nước), 42
trường dạy nghề, 102 viện nghiên cứu chuyên ngành.
Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển, toàn vùng KTTĐPB
hiện có 104 bệnh viện (chiếm 12,5% so cả nước), hơn 18 nghìn giường bệnh (chiếm
hơn 16,3% so cả nước), có một số cơ sở đầu ngành của cả nước và đạt trình độ
khám chữa bệnh tương đối cao so với khu vực và quốc tế. Trên địa bàn vùng
KTTĐPB tất cả các xã, phường đều đã có trạm y tế, có 51 bệnh viện từ tuyến tỉnh
trở lên (trong đó 42 bệnh viện đã và đang được cải tạo, nâng cấp) có bước tiến bộ
đáng kể về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ khám, chữa bệnh.
Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể (từ 9,6% năm 1995 xuống còn 6,3% năm
2002); mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 12 vạn người, mức sống của người

xu thế này không được khắc phục kịp thời thì sẽ làm hạn chế tốc độ tăng trưởng
chung của vùng.
Trong nông, lâm, ngư nghiệp chủ yếu sản xuất theo kiểu truyền thống, việc
ứng dụng công nghệ sinh học còn hạn chế, sản phẩm xuất khẩu ít.
(2) Trong thời gian qua mới chú trọng thực hiện công nghiệp hoá, nội dung hiện đại
hoá của vùng KTTĐPB có phần còn chậm
Trình độ công nghệ, cơ cấu công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu,
việc đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ cao còn chậm. Trong vùng có khu
công nghệ cao Hoà Lạc, song hình thành rất chậm. Các KCN khác tỷ lệ lấp đầy là
12%, thấp nhiều so tỷ lệ cả nước (43%) và trình độ công nghệ không cao. Công
nghiệp điện tử và sản xuất đồ điện dân dụng là ngành mới phát triển, nhưng trình độ
công nghệ nhìn chung chỉ ở mức trung bình, tập trung chủ yếu vào lắp ráp CKD, chỉ
có khoảng 6 – 7% lắp ráp IKD; sản xuất linh kiện không đáng kể (năm 2002, có 16
doanh nghiệp đang hoạt động, đã sản xuất được: 1,6 triệu tivi, 78 triệu mạch in, 3
triệu tuner, 789 triệu tụ, 7 triệu starter); sản phẩm lắp ráp trong nước tiêu thụ chậm
so với hàng nhập từ Đài Loan, Malaysia, Singapore,... Bước đầu lắp ráp đầu video,
radio – cassette,... nhưng chất lượng chưa cao.
Phần lớn các thiết bị, công nghệ của ngành cơ khí được trang bị cách đây
trên 20 năm nên rất lạc hậu về kỹ thuật, tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao còn rất thấp.
Công nghiệp cơ khí chế tạo động cơ (chủ yếu là sản xuất động cơ điện và máy bơm
nước), công nghiệp sản xuất máy biến thế và thiết bị điện năng lực sản xuất hiện
còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status