1
GIỚI THIỆU
Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vùng Nam Trung bộ Việt Nam, có hơn 300 km bờ biển
chạy dài từ 11
0
40 đến 12
0
50 vĩ độ bắc. Từ lâu biển Khánh Hòa đã nổi tiếng với những
cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, hải đặc sản ngon, phong phú như: Cá,Yến sào, Tôm
hùm, Bào ngư, Hải sâm, Ốc… Sở dĩ như vậy là do tỉnh Khánh Hòa được thiên nhiên ưu
đãi với khí hậu thuận lợi, địa hình và chất đáy bờ biển khá đa dạng với nhiều đầm, vịnh
và các đảo tạo những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các hệ sinh thái như hệ sinh
thái rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, cửa sông, đầm vịnh… Có thể nói ít có
vùng biển nào trong cả nước cùng tồn tại đầy đủ các hệ sinh thái nói trên và những mối
liên kết giữa chúng như ở Khánh Hòa. Đây là những hệ sinh thái đặc trưng của vùng
biển nhiệt đới, có tính đa dạng sinh học và năng suất cao. Rừng ngập mặn, thảm cỏ biển
đang thực hiện các chức năng và vai trò sinh thái quan trọng ở vùng biển ven bờ, như
làm ổn định tầng đáy chống xói lở bờ, cung cấp nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ, tạo nguồn thức
ăn và là nơi ươm nuôi ấu trùng, con non các loài hải sản có giá trị. Nguồn lợi thủy sản
khai thác trong rừng ngập mặn, thảm cỏ biển duy trì sinh kế và đời sống của bộ phận
lớn cộng đồng cư dân sống trong khu vực phân bố của chúng.
Trong những năm gần đây sức ép của sự tăng nhanh dân số, phát triển kinh tế xã
hội, quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường chưa hợp lý ở Khánh Hòa đã
đe dọa thật sự đến các tài nguyên và môi trường biển. Các hệ sinh thái vùng ven bờ
đang đứng trước các nguy cơ bị hủy hoại, suy thoái hoặc mất cân cân bằng sinh thái,
giảm sút nguồn lợi và tính đa dạng sinh học gây nên những ảnh hưởng xấu cho mọi
chiến lược bảo vệ, khai thác bền vững và phát triển kinh tế biển.
Rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở Khánh Hòa vẫn còn chưa được điều tra,
nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, trong khi đó những họat động kinh tế- xã hội
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (RNM) là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của
các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong rừng ngập mặn chỉ có một số loài cây sống
được, đó là các cây ngập mặn bao gồm những cây gỗ, cây bụi và cây thân cỏ thuộc
nhiều họ khác nhau nhưng có một số điểm giống nhau về mặt sinh thái, sinh lý thích
nghi với môi trường lầy, mặn, thiếu oxy. Cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt
trên các các bãi bùn lầy ngập nước mặn, nước lợ ở cửa sông, ven biển và dọc theo các
sông, rạch, chịu tác động trực tiếp của thủy triều lên xuống hàng ngày, khác với cây
rừng trong đất liền và cây nông nghiệp chỉ sống được ở nơi có nước ngọt.
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học và năng suất cao ở vùng
nhiệt đới. Rừng ngập mặn thường thấy phân bố ở vùng cửa sông và ven bờ của đầm,
vịnh tạo nên môi trường thuận lợi cho sự duy trì và phát triển nguồn lợi sinh vật không
chỉ tại chổ mà còn cho cả vực nước lân cận.
Rừng ngập mặn không những cung cấp cho nhân dân trong vùng các loại lâm
sản như gỗ, củi, tanin, thức ăn, thuốc chữa bệnh mà còn là nơi cư trú, sinh sản và
kiếm ăn của nhiều loài thủy sản có giá trị, các loài chim nước, chim di cư và một số
Mỹ đã phá hủy nhiều khu rừng rộng lớn ở bán đảo Cà mau và Cần Giờ ( T.P Hồ Chí
Minh). Sau chiến tranh mặc dù ngành lâm nghiệp cố gắng phục hồi rừng, nhưng nhiều
cơ quan và nhân dân lại phá rừng làm đầm nuôi tôm nên RNM ở nước ta bị thu hẹp
nhanh chóng. Năm 1962 còn 290.000ha, đến năm 1982 còn 252.000 ha ( Viện ĐTQH
rừng). Đến nay diện tích rừng ngập mặn còn đang tiếp tục bị giảm sút nghiêm trọng.
Rừng ngập mặn là nơi có tính đa dạng sinh học cao. Ở vùng cửa sông ven biển
Quảng Ninh đã phát hiện 193 loài với 86 loài có giá trị kinh tế, vùng nước lợ ở các cửa
sông Gành Hào, Bồ Đề, Bảy Háp ở Cà Mau đã phát hiện 69 loài cá với 40 loài có giá
trị kinh tế (Sở Kế hoạch Công nghệ và Môi trường Cà Mau). Các loài giáp xác trong
đó có tôm, cua, còng, ghẹ… phát triển ở vùng cửa sông Hồng là 59 loài, các loài thân
mềm, chân bụng có 30 loài và hai mảnh vỏ là 25 loài. Ở vùng cửa sông dọc Quảng
Ninh các loài giáp xác thống kê là 66, các loài chân bụng là 104 loài, hai mảnh vỏ 111
loài.
Các loài chim rất phong phú ở vùng RNM và hình thành một số sân chim lớn
như ở khu Ramsar Xuân Thủy, Bạc Liêu, Đầm Dơi - Mũi Cà Mau với nhiều loài quý
hiếm như Cò lao xám, Cò quăm lớn, Cò nhạn…
Tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái RNM đã tạo nên giá trị kinh tế to lớn của
rừng. RNM còn là nơi trú ngụ, bãi đẻ của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế. Hệ sinh
5
thái RNM đã cung cấp nguồn sinh kế quan trọng và dồi dào cho người dân sống cạnh
rừng, đặc biệt là người nghèo. Ý nghĩa kinh tế-xã hội của RNM được khai thác dưới
dạng du lịch sinh thái, như thể hiện ở các dự án: Khu RNM Cần Giờ; vùng RNM Mũi
Cà Mau; Lâm ngư trường 184 huyện Ngọc Hiển (Cà Mau)… Tương lai nhiều khu bảo
tồn thiên nhiên khác hoặc vườn quốc gia RNM sẽ trở thành những khu du lịch sinh
thái hấp dẫn.
Về mặt môi trường hệ sinh thái RNM có vai trò to lớn trong việc cố định phù sa,
lấn biển, chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của sóng, gió, bão. Điều đó thấy rõ tác
dụng các giải rừng phòng hộ ven biển ở các tỉnh phía Bắc và đặc biệt ở vùng đồng
bằng Sông Cửu Long, vai trò lấn biển bởi cố định phù sa của RNM (rừng Mắm trắng
loài cây ngập mặn thường phân bố ở vùng triều trung bình cho đến vùng triều cao. Ở
vùng triều trung bình thấp thường gặp loài Mắm biển (Avicennia marina) phân bố tạo
thành đai hẹp, tiếp theo phía sau, cao hơn là vùng phân bố của các loài Đước
(Rhizophora apiculata), Đưng (Rhizophora murconata), Mắm trắng (Avicennia alba)
chiếm ưu thế. Ở vùng triều cao ít ngập nước trong năm thường gặp các loài cây Giá
(Excoecaria agallocha), Xu ổi (Xylocarpus granatum) và những loài cây thân thảo
tham gia rừng ngập mặn như Cúc hai hoa (Wedelia biflora), Lức (Pluchea indica)…(
Nguyễn Xuân Hòa, 1997).
Rừng ngập mặn ở xóm Tuần Lễ (huyện Vạn Ninh) có diện tích khoảng 10 ha với
hơn 10 loài cây ngập mặn. Trong đó ưu thế nhất là những cây Bần trắng (Sonneratia
alba), Đưng (Rhizophora mucronata), và nhiều loài Mắm (Avicennia spp.). Tuy nhiên,
cũng do hệ thống ao, đìa bao quanh, đắp đê, bờ, đổ đất làm nhà đang đe dọa nghiêm
trọng sự tồn tại của khu rừng này (Nguyễn Xuân Hòa, 2001).
Trước đây trong đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh cũng là nơi phân bố quan
trọng của rừng ngập mặn. Các dải rừng ngập mặn thấy phân bố nhiều nhất ở vùng đỉnh
đầm và bờ đông của đầm Thủy Triều. Do bị phá hủy để hình thành các khu dân cư, nhất
là phá rừng ngập mặn để xây dựng các ao, đìa nuôi tôm phát triển mạnh trong nhựng
năm gần đây nên rừng ngập mặn ở đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh đã bị suy giảm
nghiêm trọng. Hiện nay, chỉ còn thấy các dải cây ngập mặn nhỏ hẹp phân bố rãi rác dọc
theo bờ đông của đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh như Cam Hải đông, Cam Hòa,
vùng Cam Thịnh. Thành phần loài cây ngập mặn ở đây cũng khá phong phú với
khoảng hơn 20 loài. Tuy nhiên, phổ biến và chiếm ưu thế nhất vẫn là các loài thuộc Chi
Mắm (Avicennia) và Đước (Rhizophora), (Nguyễn Xuân Hòa, 2007).
7
2. Hệ sinh thái thảm cỏ biển
Cỏ biển là những thực vật bậc cao (có hoa, thân, rễ, lá và hệ thống mạch dẫn
8
đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản trong thảm cỏ biển ở Phú Quốc rất phong phú
với 91 loài cá, 71 loài Thân mềm, 26 loài Giáp xác, 15 loài Da gai, 113 loài rong biển.
Các thảm cỏ biển ở Phú Quốc, Côn Đảo còn là nguồn thức ăn của các loài động vật
quý hiếm như Bò biển (Dugong dugon) và Rùa biển. Các kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy các thảm cỏ biển cũng là nơi sinh sản của nhiều loài hải sản có giá trị và là nơi
ươm nuôi ấu trùng con non của chúng. Nguồn lợi hải sản có giá trị kinh tế cao được
khai thác chủ yếu trong các thảm cỏ biển như Cá, Ghẹ, Tôm, Cá Ngựa, Ốc nhảy, Hải
Sâm…Vì vậy, các thảm cỏ đem lại những lợi ích và sinh kế quan trọng cho cộng đồng
dân cư ven biển.
Báo cáo đầu tiên nghiên cứu cỏ biển (Dawson, 1954) đã mô tả 4 loài cỏ biển thu
thập ở vùng biển Nha Trang: Halophila beccarii, H. ovalis, Diplanthera uninervis,
Thalassia hemprichii.
Trong những năm gần đây Viện Hải Dương học đã có một số công trình nghiên
cứu về hệ sinh thái thảm cỏ biển ở tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Xuân Hòa và cs (1996)
bước đầu nghiên cứu thảm cỏ biển ở tỉnh Khánh Hòa đã thu thập và xác định 9 loài cỏ
biển: Enhalus acoroides (cỏ lá Dừa), Thalassia hemprichii (cỏ Vích, cỏ Bò biển),
Halophila ovalis (cỏ xoan), H. beccarii (cỏ xoan gân song song, cỏ nàn nàn), H. minor
(cỏ xoan nhỏ), Cymodocea rotundata (cỏ kiệu), C. serrulata (cỏ kiệu răng cưa),
Halodule uninervis (cỏ hẹ ba răng), Ruppia maritima (cỏ kim). Các kết quả khảo sát đã
cho thấy vùng biển ven bờ Khánh Hòa là nơi phân bố quan trọng của các loài cỏ biển.
Diện tích các thảm cỏ biển ở Khánh Hòa rất lớn so với cả nước, ước khoảng 1.300 ha.
Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số vùng phân bố quan trọng của cỏ biển trong
các đầm, vịnh và vùng ven biển tỉnh Khánh Hòa như: Xuân Tự- Xuân Hà, Hòn Bịp,
Tuần Lễ- Xóm Mới, Hòn Khói, Mỹ Giang- Ninh Tịnh, đầm Nha Phu, Bãi Tiên- Hòn
Chồng, Cửa Bé- Sông Lô, đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh (Nguyễn Xuân Hòa và
cs, 1996).
Nhìn chung, những vùng nước nông ven biển, đầm, vịnh là nơi có điều kiện rất
thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển các loài cỏ biển, tạo nên những cánh "đồng
cs, 1997) với ưu thế là Cỏ lá Dừa. Đây là loài có kích thước lớn nhất trong các loài cỏ
biển, có chiều dài lá từ 0,7- 1,2m, mật độ thảm cỏ lá Dừa dao động từ 60- 100 cây/m
2
,
sinh lượng từ 56- 306g.khô/m
2
, độ phủ từ 20- 80% phụ thuộc vào mùa vụ sinh trưởng
và địa điểm phân bố. Những loài cỏ biển khác như Halophila ovalis, H. minor,
Halodule uninervis tuy có kích thước nhỏ ( từ 0,5- 10cm) nhưng mật độ của chúng rất
lớn, có khi lên đến 3.000 cây/m
2
.
Ngoài những vùng cỏ biển phân bố tập trung tạo nên các “cánh đồng” cỏ biển
rộng lớn kể trên, các thảm cỏ biển còn thường thấy phân bố trong các ao, đìa nước
mặn, các kênh, rạch nhỏ dẫn nước mặn nhưng diện tích không lớn.
Các thảm cỏ biển ở Khánh Hòa là nơi có tính đa dạng sinh học cao. Đã thu thập
37 loài Thân mềm, 8 loài giáp xác, 12 loài Da gai, 88 loài cá sống trong vùng phân bố
10
của cỏ biển. Các thảm cỏ biển ở Khánh Hòa còn là nơi sinh sản và ươm nuôi ấu trùng,
con non quan trọng của nhiều loài thủy sản có giá trị như tôm, ghẹ, cá (Nguyễn Hữu
Đại và cs 1999, Nguyen Huu Dai et al., 2000).
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã nêu lên
được bức tranh cơ bản về thành phần loài, đặc điểm phân bố, đa dạng sinh học và một
số vai trò sinh thái của thảm cỏ biển ở tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, các kết quả nghiên
cứu chưa nêu đầy đủ hiện trạng phân bố, thành phân loài, diện tích chính xác của các
thảm cỏ biển và nhất là còn thiếu sót nhiều thông tin về các thảm cỏ biển phân bố ở độ
sâu lớn. Đồng thời các nghiên cứu cũng chưa đưa ra được các giải pháp quản lý và sử
dụng bền vững hệ sinh thái cỏ biển ở tỉnh Khánh Hòa.
Khánh Hòa. Kết hợp với bản đồ viễn thám, tại mỗi địa điểm có rừng ngập mặn, xác
định tọa độ và lập các tuyến khảo sát dọc theo đường bờ. Ở những nơi rừng ngập mặn
có bề ngang rộng, lập thêm các tuyến khảo sát thẳng góc với đường bờ. Trên các tuyến
khảo sát ghi chép thành phần cây ngập mặn và những nhận xét, đánh giá về hiện trạng,
đặc điểm phân bố. Các kết quả khảo sát thực địa được cung cấp cho bộ phận viễn thám
để chỉnh lý và tính toán chính xác diện tích phân bố của rừng ngập mặn.
Định loại cây ngập mặn dựa theo các tài liệu của Viên Ngọc Nam, Nguyễn Sơn
Thụy (1999), Shozo et al. (1998).
Thiết lập bản đồ phân bố và tính diện tích rừng ngập mặn dựa trên kết quả phân
tích ảnh viễn thám và điều tra thực địa.
- Khảo sát thảm cỏ biển:
Khảo sát sự phân bố và cấu trúc của thảm cỏ biển được tiến hành dựa theo các
tài liệu “ Hướng dẫn điều tra nguồn lợi biển nhiệt đới” (English et al., 1994) và “các
phương pháp nghiên cứu cỏ biển” ( Philips and McRoy,1990). Công việc thực địa
được thực hiện chủ yếu bằng phương tiện ghe thuyền máy kết hợp với lặn có khí tài
(SCUBA). Tại mỗi điểm khảo sát cỏ biển tiến hành lặn điểm theo các tuyến thẳng góc
đường bờ từ vùng triều đến hết độ sâu phân bố của cỏ biển để xác định sự phân bố và
thành phần loài cỏ biển. Sử dụng các khung vuông có diện tích 1/16 m
2
( 25cm X
25cm) để thu mẫu sinh lượng và mật độ của cỏ biển. Tại mỗi điểm khảo sát lấy từ 3
12
đến 5 khung sinh lượng tùy theo diện tích phân bố của thảm cỏ. Đánh giá độ phủ cỏ
biển theo cấp bậc từ 1- 5 (English et al., 1994). Mật độ cỏ biển là số lượng thân đứng
trung bình của cỏ biển trong khung được quy ra đơn vị 1 m
2
(cây/m
2
). Sinh lượng cỏ
biển là trọng lượng trung bình của cỏ biển trong khung được quy ra đơn vị 1 m
Một cảnh Landsat MSS (60m) chụp ngày 16/5/1973 ở khu vực Quy
Nhơn – Bình Thuận
Một cảnh Landsat TM (30m) chụp ngày 05/07/1992 ở khu vực
Quy Nhơn – Nha Trang
13
Một cảnh Landsat TM (30m) chụp ngày 19/06/1989 ở khu vực
Nha Trang – Phan Rí
Một cảnh Landsat ETM+ (30m) chụp ngày 04/04/2002 ở khu vực
Quy Nhơn - Nha Trang
Một cảnh Landsat ETM+ (30m) chụp ngày 14/01/2002 ở khu vực
Nha Trang – Phan Rí
o Nguồn tư liệu ảnh viễn thám SPOT4,5 thu thập từ các đề tài trước
đây, bao gồm
Một cảnh SPOT4 (20m) chụp ngày 13/8/2000 ở khu vực Văn
Phong – Nha Trang.
Một cảnh SPOT5 (10m) chụp ngày 11/03/2004 ở khu vực Nha
Trang – Cam Ranh.
o Nguồn tư liệu ảnh viễn thám AVNIR2 thu thập từ các đề tài trước
đây, bao gồm
Một cảnh AVNIR2 (10m) chụp ngày 14/10/2006 ở khu vực Văn
Phong – Nha Trang.
Hai cảnh AVNIR2 (10m) chụp ngày 17/07/2007 ở khu vực Văn
Phong – Nha Trang và Nha Trang – Cam Ranh
Hai cảnh AVNIR2 (10m) chụp ngày 19/05/2008 ở khu vực Văn
Phong – Nha Trang và Nha Trang – Cam Ranh.
o Nguồn tư liệu ảnh viễn thám Formosat2 thu thập từ các đề tài trước
đây, bao gồm
4 cảnh Formosat2 (8m) chụp tháng 5 tháng 6 năm 2008 từ tuần tự
từ vịnh Văn Phong đến vịnh Cam Ranh
o Nguồn ảnh tổ hợp màu thật (True color composit) của ảnh Quickbird
o
15’ E.
b) Hiệu chỉnh bức xạ: là phép chuyển ảnh từ giá trị thô (DN – Digital number)
trên ảnh sang bức xạ phổ. Phương trình chuyển đổi từ giá trị DN (0 ÷ 255) sang bức
xạ phổ ở đầu dò biểu diễn ở dạng
Rad = a * DN + b (a: gain – độ dốc; b: offset – kinh độ gốc)
Gain và offset của từng băng phổ của ảnh AVNIR2 được thể hiện trên leader file
đi kèm theo ảnh.
c) Hiệu chỉnh khí quyển: cho phép hiệu chỉnh giá trị bức xạ phổ sau khi loại trừ
các ảnh hưởng của khí quyển, chuyển đổi bức xạ phổ sang phổ phản xạ trên bề mặt
nước.
Ở đây chúng tôi đã sử dụng bộ công cụ “dark substract” trong phần mềm ENVI
4.2 nhằm hiệu chỉnh khí quyển. Nguyên lý và các thuật tóan cụ thể của phương pháp
lọai bỏ ảnh hưởng khí quyển theo phương pháp lọai trừ điểm tối đã được chúng tôi
15
giới thiệu cụ thể trong báo cáo tổng hợp “Sử dụng công nghệ viễn thám trong giải
đóan phân bố rạn san hô ở ven bờ Ninh Thuận” (Tống Phước Hoàng Sơn, 2004).
d) Hiệu chỉnh cột nước: cho phép chuyển đổi phổ phản xạ bề mặt về phản xạ nền
đáy. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong phép xử lý ảnh nhằm giải đoán phân bố
rạn san hô và các hợp phần nền đáy khác.
Quan hệ tuyến tính (logarit) giữa phổ phản xạ bề mặt của băng thứ i và băng thứ
j theo các điểm nền đáy cát chọn ngẫu nhiên ở các độ sâu khác nhau là cơ sở của phép
tính chỉ số bất biến theo độ sâu (D.I.I – Depth Invariance Index).
D.I.I
ij
= a * Ln(i) - Ln(j) + b
Trong đó:
i, j : là phổ phản xạ bề mặt của cặp băng (i,j) lấy từ các điểm nền đáy cát.
a, b : là hệ số góc và kinh độ gốc thu được từ đường hồi quy tuyến tính thể hiện
quan hệ giữa phổ phản xạ bề mặt giữa băng i và băng j.
- Chuyển đổi hệ chiếu từ UTM, WGS84 đới 49 về hệ tọa độ địa phương (VN
2000, múi 3
o
, kinh tuyến trục 108
o
15’ E)
- Biên tập bản đồ, tính diện tích.
1.2.2.3. Phương pháp gộp ảnh (Fusion method) sử dụng kết hợp giữa ảnh
Formosat2 đa phổ (8m) và ảnh Formosat2 toàn sắc (2m) trong nhận dạng các mảng
cây ngập mặn ở Khánh Hòa.
Rất tiếc, mạng Google Earth không phủ toàn bộ khu vực Khánh Hòa, ở đỉnh
Vịnh Bến Gỏi do thiếu ảnh chụp.chúng tôi phải phân tích bổ sung bằng kết hợp
phương pháp gộp (Fusion) ảnh đa phổ Formosat (8m) kết hợp ảnh Formosat toàn sắc
(2m), theo một kỹ thuật đặc biệt như sau:
- Fusion PC Sharperness giữa ảnh Formosat đa phổ 8m và toàn sắc 2m (ảnh
Formosat chụp ngày 19 -5 -2008).
- Chọn băng PC1 và PC2 từ ảnh gộp.
- Tạo ảnh tổ hợp màu giữa PC1, PC2 và băng hồng ngọai (băng 4) của ảnh
Formosat ta sẽ thấp rõ các mảng rừng ngập mặn tương phản hoàn toàn với vùng nước,
đất nuôi trồng thủy sản và cả các đối tượng khác.
- Số hóa, biên tập lớp bản đồ GIS
1.2.2.4. Đánh giá biến động lịch sử của rừng ngập mặn ở Khánh Hòa từ tư liệu
ảnh Landsat lịch sử: Sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn là điều quan tâm của các
nhà quản lý, các nhà nghiên cứu môi trường học và sinh thái học. Cho đến nay, chưa
ai xác định chính xác được rừng ngập mặn ở Khánh Hòa bị tàn phá nhiều do đâu
17
(chiến tranh, nuôi trồng thủy sản, khai thác làm gỗ ), chúng xãy ra ở khu vực nào và
phạm vi bị tàn phá ở mức độ ra sao?
Bằng sử dụng nguồn tư liệu ảnh viễn thám cũ do hiệp hội địa chất Hoa Kỳ
(USGS – US Geologic Survey ) cung cấp như đã nêu ở phần tài liệu sử dụng, chúng
75%.
Phân tích mẫu vật được thực hiện trong phòng thí nghiệm Viện Hải Dương Học
với sự trợ giúp của các trang thiết bị (kính lúp, kính hiển vi…)
Tài liệu sử dụng cho việc phân loại: Banner and Banner (1975), Dai Ai-yun and
Yang Si-liang (1991), Gurjanova (1972), Holthuis (1980, 1993, 2002), Nguyễn Văn
Chung (2003), Nguyen Van Chung và cs (2000), Poore Gary (2004).
2.3. Phương pháp điều tra thành phần loài động vật thân mềm
Mẫu Thân mềm được thu thập tại hai khu vực có cỏ biển phân bố nhiều đó là
Vịnh Vân Phong và Vịnh Cam Ranh năm 1996 và 2009 (chỉ thu mẫu định tính ở đầm
Thủy Triều và vịnh Cam Ranh).
Mẫu định lượng được thu bằng phương pháp lặn, khung thu mẫu có diện tích là
0,25 m
2
. Mỗi khu vực điều tra được thu 05 điểm. Ngoài ra, mẫu định tính cũng được
thu trong khu vực điều tra nghiên cứu.
Toàn bộ mẫu vật được thu thập được ngâm trong cồn 70
o
và đưa về phòng thí
nghiệm. Việc phân tích mẫu và sử lý số liệu được dựa vào " Qui phạm điều tra biển -
Phần Sinh vật đáy".
Việc giám định tên loài Động vật Thân mềm được dựa vào các tài liệu: Kira
(1962); Habe & Kosuge (1966); Cernohorsky (1972); Kay (1979) Hirase (1984);
Springsten & Leobrera (1986); Abbott & Dance (1986); Abbott (1991).
3. Phương pháp điều tra nguồn lợi thủy sản
Điều tra nguồn lợi thủy sản và hiện trạng khai thác nguồn lợi liên quan đến
rừng ngập mặn, thảm cỏ biển bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp cộng đồng ở các
xã ven đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh gồm: Cam Hòa, Cam Hải đông, Cam Hải
tây, Cam Đức, Cam Phúc bắc, Cam Phúc nam, Cam Nghĩa. Những ngư dân được mời
phỏng vấn gồm đại diện cho các nghề khai thác thủy sản ven bờ như lưới cước, rớ,
chài, lờ dây, lặn hoạt động chủ yếu trong vùng phân bố cỏ biển. Các số liệu điều tra
3
đậm đặc
(1ml/lmẫu).
Mẫu trầm tích được giữ lạnh ở nhiệt độ -5
o
C.
Mẫu cỏ biển được để mát trong tủ lạnh.
Các chỉ tiêu phân tích gồm :
Mẫu nước: pH, Nhiệt độ, Độ muối, DO, BOD, COD, Vật lơ lửng, Ammonia,
Nitrite, Nitrate, Phosphate, Silicate, N hc, P hc, Fe, Zn, Cu, Pb và Coliform
Mẫu trầm tích: Độ hạt, C hữu cơ, N hữu cơ, P tổng số, Fe, Zn, Cu, Pb và
Coliform.
- Phân tích mẫu
* Phân tích mẫu nước:
- pH được đo bằng máy đo chuyên dùng.
- TSS: phương pháp khối lượng (dùng màng lọc 0,45µm).
- DO: phương pháp chuẩn độ (Winkler).
- COD bicromate: oxi hóa bằng hỗn hợp sunfochromic, lượng bicromate thừa
được chuẩn độ bằng dung dịch muối Mohr.
- Ammonia:phương pháp xanh indophenol (trắc quang phức màu xanh của
amonia với hypoclorit và phenol, đo ở bước sóng 630 nm).
- Nitrite: phương pháp trắc quang phức azo màu hồng (sử dụng axit sunphanilic
và α-naptylamin ở pH 2,0 đến 2,5), đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 543 nm.
- Nitrate: khử nitrate thành nitrite qua cột khử Cd mạ Cu, nitrite tạo ra được xác
định bằng phương pháp trên.
- Phosphate: ammoni molybdat và kali antimonyl tartrat phản ứng với
phosphate tạo thành axit dị đa phosphomolybdic, axit này bị khử bằng axit ascorbic
tạo ra sản phẩm màu xanh, đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 885 nm (phương pháp
xanh molibden).
- Silicate: phương pháp xanh molibden.
22
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn ở tỉnh Khánh Hòa
1.1. Thành phần loài cây ngập mặn
Kết quả khảo sát đã thu thập và xác định 34 loài cây ngập mặn ở tỉnh Khánh
Hòa, trong đó có 20 loài cây ngập mặn chủ yếu và 14 loài cây tham gia rừng ngập mặn
(bảng 1). Các loài cây ngập mặn mọc phổ biến là Đước (Rhizophora apiculata), Đưng
(Rhizophora mucronata), Bần trắng (Sonneratia alba), Mắm trắng (Avicennia alba),
Mắm biển (Avicennia marina), Giá (Excoecaria agallocha)
Đặc biệt cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) được thấy phân bố ở vùng Cam Lập
và Mỹ Ca (vịnh Cam Ranh) là loài cây ngập mặn quý hiếm, có tên trong sách đỏ Việt
Nam cần được bảo tồn.
Bảng 1: Thành phần loài cây ngập mặn ở tỉnh Khánh Hòa
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Các loài ngập mặn chủ yếu (true mangroves)
Họ Rau đắng (AIZOACEAE)
Họ Bần (SONNERATIACEAE)
19 Sonneratia alba J. Sm in Rees Bần trắng
20 Sonneratia caseolaris (L.) Engl Bần chua
Những loài tham gia rừng ngập mặn (associate mangroves)
Họ Na (ANNONACEAE)
21 Annona glabra L. Na biển
Họ Thiên lý (ASCLEPIADACEAE)
22 Gymnanthera nitida Lõa hùng
Họ Cúc (COMPOSITAE)
23 Pluchea indiaca (L.) Leres Cúc tần, Lức
Họ Cói (CYPERACEAE)
24 Cyperus malaccensis Lam Cói
Họ Đậu (FABACEAE)
25 Derris trifoliata Lour Cốc kèn
Họ Đinh (BIGNONIACEAE)
26 Dolichandrone spathacea Quao nước
Họ Bông (MALVACEAE)
27 Thespesia populnea (L.) Sd.ex.Corrs Tra lâm vồ, Tra biển
24
28 Hibiscus tiliaceus L. Tra, Tra nhớt
Họ Bìm bìm (CONVOVULACEAE)
29 Ipomoea pes-caprae (L.) Rau muống biển
Họ Sim (MYRTACEAE)
30 Melaleuca cajeputi Powell Tràm
Họ Cỏ roi ngựa (VERBENACEAE)
31 Clerodendron inerme (L.) Gaertn. Ngọc nữ, Chùm gọng
Họ Gai me (SALVADORACEAE)
32 Azima sarmentosa (Bl.) Benth.& Hook. Chùm lé
Họ Dứa dại (PANDANACEAE)