TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
-----------------
CHUYÊN ĐỀ
MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Tên chuyên đề:
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG TÀI
CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ.
GVHD: TS Hoàng Văn Liêm.
Thực hiện: Nhóm 8 (Lớp tài chính tiền tệ 1_N1)
Danh sách nhóm:
1.Cao Thị Kim Ngân.
2.Trần Thị Ngoan Thoa.
3.Đinh Thị Huệ.
4.Nguyễn Thị Phương.
5.Lê Thị Huê.
6.Nguyễn Thị Quỳnh Trang.
7.Lê Thị Xuân Mai.
8.Nguyễn Thị Khánh Hoà.
9.Nguyễn Văn Tín.
10.Phan Xuân Hoàng.
1.Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nhu cầu về vốn luôn là vấn đề quan
trọng được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu vào một năm tài khóa mới. Để
thấy rằng việc hình thành một thị trường vốn cho phát triển kinh tế xã hội là vô
cùng quan trọng thì việc tìm hiểu thị trường vốn hay thị trường tài chính (TTTC)
ra đời là do đâu và nó có vai trò to lớn như thế nào đối với nền kinh tế nói chung
và nền kinh tế Việt Nam nói riêng là điều hết sức cần thiết. Đó chính là lý do
chung tôi tập trung nghiên cứu chuyên đề:
“Lịch sử hình thành thị trường tài chính và vai trò của nó đối với nền kinh tế”.
cầu phát triển kinh tế. Thông qua TTTC mà hình thành giá mua giá bán các loại
cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn hạn, dài hạn…hình thành nên tỷ lệ
lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn, trung hạn và dài hạn.
Ở Việt Nam, kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường,
đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,gia nhập WTO,
lĩnh vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về
mặt nhận thức và thực tiễn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Lịch sử hình thành và vai trò của TTTC là hết
sức quan trọng, nó sẽ giúp cho các nhà đầu tư hiểu rõ nguồn gốc ra đời của loại
thị trường đặc biệt này, từ đó nắm bắt được tầm quan trọng, ảnh hưởng của nó
đối với hoạt động SXKD để có kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
2.Các khái niệm:
Để dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu TTTC,trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu khái
niệm TTTC và các khái niệm liên quan:
Khái niệm1: “TTTC là tổng hoà các mối quan hệ cung cầu về “vốn”, diễn ra
dưới hình thức vay, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển
dịch vốn từ nơi cung đến nơi cầu về vốn, nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh
tế.”
Khái niệm 2: “TTTC là một loại thị trường đặc biệt nên đối tượng mua bán trên
thị trường tài chính là một loại hàng hóa đặc biệt: đó là quyền sử dụng vốn ngắn
hạn và dài hạn. Người bán quyền sử dụng tài chính có dư thừa nguồn tài chính
đem nhượng quyền sử dụng các nguồn tài chính dư thừa đó nhằm thu được
khoản lợi tức nhất định. Người mua quyền sử dụng nguồn tài chính là những
người đang thiếu nguồn tài chính muốn mua quyền sử dụng nguồn tài chính ở
người khác.”
Khái niệm 3: “TTTC là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động mua bán quyền
sử dụng các nguồn tài chính thông qua các phương thức giao dịch và công cụ tài
chính nhất định”
Thực tế, một hệ thống thị trường tài chính hoàn chỉnh phải bao gồm:
hệ thống thị trường tiền tệ hoạt động chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng
được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định
Thị trường tài chính không chính thức: là bộ phận thị trường tài
chính mà ở đó các hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài
chính được thực hiện theo sự thỏa thuận giữa người cung cấp nguồn tài
chính và người cần nguồn tài chính mà không theo nguyên tắc, thể chế do
nhà nước quy định.
3.Lịch sử hình thành thị trường tài chính.
Cũng giống như các loại thị trường khác, thể chế thị trường phải được duy trì
trong nền kinh tế tài chính. Tức là, các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trên thị
trường tạo ra cung và cầu về sản phẩm tài chính.
Trong cơ chế kinh tế bao cấp,việc kinh doanh do NN điều phối, các chủ thể hoàn
toàn bị động trong ước muốn kinh doanh, dù biết hướng đó là mang lại lợi nhuận
cao. Còn trong sự thông thoáng của nền kinh tế thị trường, các chủ thể chủ động
tìm đường đầu tư có lợi cho mình để đạt được hiệu quả tối ưu, đồng thời, sự phát
triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện các chủ thể thừa vốn và cũng có
cả những người cần vốn.
Các chủ thể cần nguồn tài chính:
Các doanh nghiệp: để có thể hoạt động SXKD mỗi doanh nghiệp điều có một
lượng vốn tự có nhất định, nhưng con số này là có hạn đối với nhu cầu tăng qui
mô sản xuất, đầu tư dự án mới hay đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ…
của doanh nghiệp. Vì vậy, huy động nguồn tài chính là một nhu cầu thường
xuyên của mỗi doanh nghiệp.
Nhà nước thông qua NSNN, cung cấp kinh phí để thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của mình như:
Phân bổ nguồn tài chính quốc gia
Kích thích phát triển sản xuất kinh doanh.
Định hướng hình thành cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: cung cấp
kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng, hình thành các ngành then chốt…
Trợ giá.
Giải quyết các vấn đề xã hội: chi hoạt động bộ máy nhà nước, lực lượng công
hơn.
Nhưng phạm vi lựa chọn các phương án cho vay của Ngân hàng không được
rộng lớn,lãi suất không phải lúc nào cũng hấp dẫn người gửi tiền vào để có tiềm
lực mạnh, việc gửi và rút tiền gặp nhiều phiền hà, việc cho vay không phải lúc
nào cũng dễ dàng với bất kì ai…
Có thể khẳng định rằng: một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động
đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có
hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm. Bắt nguồn từ mối
quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm, một yêu cầu đặt ra là cần có nhiều
hình thức huy động vốn mới, nhanh chóng, linh hoạt hơn, góp phần giải quyết
cân đối giữa cung và cầu về nguồn tài chính trong xã hội.
Các công cụ huy động vốn xuất hiện dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu
đó:
Các giấy tờ ghi nợ: Nhà nước phát hành trái phiếu công trình, công trái..., doanh
nghiệp phát hành thương phiếu, trái phiếu…
Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
=> giấy tờ ghi nợ, cổ phiếu gọi chung là chứng khoán (CK)
Khi CK xuất hiện thì cũng xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các
chủ sở hữu khác nhau: người này có nhu cầu rút vốn đầu tư hoặc di chuyển vốn
cần bán thì có người khác muốn mua CK đó. Chính điều này làm xuất hiện một