1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ôtô, máy kéo trong vận chuyển
gỗ ở nước ta hiện nay
Đất nước ta đang tiến dần tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bây giờ sẽ không
còn là điều ngạc nhiên khi cạnh những vùng đất trước kia là cát là nắng, là gió, hay
là những vùng nông thôn yên ả thanh bình, bây giờ là những nhà máy, những xí
nghiệp, những khu công nghiệp hiện đại, quy mô lớn mang tầm vóc của khu vực.
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể nói đang "thay da đổi thịt đất
nước, hàng ngày, hàng giờ" có được điều này có sự đóng góp rất lớn của nhiều
ngành nhiều nghề, trong đó, nghề khai thác chế biến gỗ cũng góp công rất lớn. Từ
nhiều thập kỷ qua nghề khai thác chế biến gỗ đã có rất nhiều đóng góp xứng đáng
vào việc khắc phục hậu quả sau chiến tranh cung cấp nhiều sản vật cho phát triển
kinh tế, ngành khai thác, chế biến gỗ đã cung cấp cho nhu cầu trong đời sống hành
ngày, cho ngành nông nghiệp, cho công nghiệp và hàng hóa cho xuất khẩu.
Để có gỗ cho sản xuất cần có khai thác và vận chuyển . Vận chuyển là một
khâu quan trọng trong quá trình khai thác gỗ.
Để tăng năng suất lao động, giảm chi phí, tăng tính an toàn và hiệu quả trong
khai thác vận chuyển gỗ…vv các đơn vị khai thác đầu tư rất nhiều máy móc trang
thiết bị vào vận hành, đối với một số địa hình thuận lợi người ta đã tiến hành cơ giới
hoá khâu công việc này bằng các loại máy móc thiết bị hiện đại nhằm giải phóng
sức lao động nặng nhọc, nguy hiểm và tăng tỷ lệ tận dụng gỗ.
Vận chuyển gỗ từ rừng về khu chế biến hiện nay phổ biến gồm hai bước: vận
chuyển cự ly ngắn và vận chuyển đường dài.
Vận chuyển cự ly ngắn: đưa gỗ từ các bãi gỗ nhỏ trong rừng ra các bãi gỗ trung
chuyển ven đường quốc lộ hoặc cạnh bờ sông với cự ly trung bình 10 ÷ 15 km. Vận
chuyển gỗ từ các bãi trong rừng chuyển về nhà máy chế biến, nhà máy giấy được
2
thực hiện bằng đường sông và đường bộ. Việc bốc dỡ gỗ cho các phương tiện vận
chuyển được thực hiện bằng lao động thủ công hoặc bằng các phương tiện bốc dỡ
kiểu rơ moóc một trục lắp sau máy kéo MTZ150 có thiết bị tời cáp và cơ cấu nâng
gỗ thuỷ lực vừa gom gỗ từ xa vừa tự bốc cho rơ moóc.
Còn có rất có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng các loại ôtô, máy kéo
trong vận chuyển gỗ ở nước ta hiện nay Tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả thì chưa
có công trình nào nghiên cứu về xe ô tô tải Thaco Foton FC500 5 tấn trong vận
chuyển gỗ.
4
1.2 .Tổng quan về nghiên cứu dao động ôtô máy kéo
Do độ êm dịu chuyển động là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của
ôtô, cho nên các nhà khoa học, các nhà sản xuất ô tô trên thế giới cũng như trong
nước đã đầu tư rất nhiều cho việc nghiên cứu vấn đề dao động của ôtô, hướng
chung của các nghiên cứu đó là:
- Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động của ôtô.
- Thiết lập mô hình dao động của ôtô, giải các bài toán về dao động của ôtô.
- Tìm mối tương quan giữa các thống số trên ôtô của hệ thống treo với các chỉ
tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động.
- Nghiên cứu nguồn gây dao động của ôtô.
- Nghiên cứu, chế tạo những phần tử của hệ thống treo có những tính năng cho
phép nâng cao độ êm dịu chuyển động của ô tô.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo trên thế giới
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dao động của ôtô, máy kéo
như :
+ Công trình của Barski I. B [53], đã nghiên cứu động lực học máy kéo. Tác
giả đã nghiên cứu đầy đủ động lực học của máy kéo bánh hơi, máy kéo bánh xích
và độ êm dịu chuyển động của máy kéo.
+ Các công trình nghiên cứu của Gaichev L.V [57], Viện Hàn lâm khoa học
Liên Xô là nền tảng cho các nghiên cứu khác về ôtô và máy kéo với các mục đích
khác nhau. Tuy nhiên các mô hình toán học trong các công trình này chỉ xét đến dao
động theo phương thẳng đứng có kể đến các biến dạng của lốp, chưa tính đến ảnh
hưởng của dao động theo phương ngang và quay quanh trục thẳng đứng.
truyền lực và bánh xe, mômen quán tính của các phần tử chuyển động, sự dao động
của lực kéo và tác động qua lại giữa bánh xe và đất, tác giả đã chỉ ra rằng trong các
điều kiện hoạt động nhất dịnh, sự dao động của lực kéo gây ảnh hưởng lớn hơn so
với sự ảnh hưởng của tải trọng thẳng đứng đến một số tính chất động lực học của
máy. Mô hình nghiên cứu này đã cho phép đánh giá một cách khái quát những tác
động của các yếu tố ảnh hưởng tới dao động của máy kéo khi cày đất. Tuy nhiên
6
công trình này chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu mô hình trong điều kiện gần như
tuyệt đối hóa các yếu tố ảnh hưởng, chưa có những thực nghiệm để chứng minh sự
đúng đắn của các giả thiết đưa ra.
+ Các công trình nghiên cứu của Antônốp Đ. A [52], đã xây dựng cơ sở lý
thuyết và tính toán ổn định chuyển động của ôtô nhiều cầu trong trường hợp chuyển
động dừng và chuyển động không dừng. Trong các công trình này, tác giả chỉ xét
đến các kích động động lực, chưa xét đến các ảnh hưởng động học do sự mấp mô
của mặt đường gây nên.
+ Trong công trình nghiên cứu của Wendebom J. C [51], bằng lý thuyết và
thực nghiệm, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu tính chất động lực học của
dao động thẳng đứng máy kéo, tác giả không quan tâm đến chuyển động quay và
các dao động khác. Do vậy công trình này cũng chưa đánh giá và thể hiện được đầy
đủ các tính chất động lực học của máy kéo cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới sự
chuyển động của máy kéo nói riêng và liên hợp máy nói chung.
Như vậy trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dao động của ôtô,
máy kéo, các công trình này chủ yếu tập trung giải quyết dao động của ôtô và máy
kéo chạy trên đường, các công trình nghiên cứu dao động của ôtô chạy trên đường
lâm nghiệp là rất hạn chế.
1.2.2.Tình hình nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo ở Việt Nam
Trên thế giới ngành công nghiệp ô tô đã ra đời đã hơn 100 năm công nghệ sản
xuất ô tô của thế giới có thể nói đã cực kỳ hiện đại ,ô tô bây giờ rất tiện nghi và hiệu
quả vận tải đã đạt đến tối ưu, ôtô bây giờ đã có thể vận tải với trọng lượng hàng lớn,
đi được ở các địa hình phức tạp và rất êm dịu khi chuyển động .
dụng tại Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương trình không gian trạng thái và phần
mềm Matlab – Simulik để khảo sát dao động của ôtô khách dưới tác dụng của hàm
kích động mặt đường là dạng xung và kích động ngẫu nhiên.
+ Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tiến Đạt [6], đã xây dựng được mô hình
dao động của máy kéo khi vận xuất gỗ theo phương pháp kéo nửa lết. Trong mô
8
hình này tác giả đã đưa ra hàm tác động của mặt đường là hàm ngẫu nhiên. Tác giả
đã nghiên cứu đặc tính động lực học của máy kéo DFH 180 trong miền tần số, tìm
ra được các biên độ dao động của trọng tâm máy kéo theo phương thẳng đứng và
góc xoay quanh trục vuông góc với mặt phẳng thẳng đứng dọc đi qua trọng tâm
máy kéo ứng với các loại đường có độ mấp mô khác nhau, khối lượng gỗ vận xuất
khác nhau và với các vận tốc chuyển động của máy kéo khác nhau. Tuy nhiên tác
giả cũng chỉ nghiên cứu dao động của máy kéo trong mặt phẳng thẳng đứng dọc.
+ Công trình của tác giả Triệu Quốc Lộc [19], nghiên cứu về ghế của máy kéo
và đã có thiết kế dùng cho máy kéo Việt Nam và bao tay dùng cho công nhân lái
máy kéo.
+ Công trình của Phạm Đinh Vi [34], đã nghiên cứu ứng dụng hệ thống treo
có điều khiển để nâng cao chất lượng độ êm dịu chuyển động của ôtô. Trong luận
án này các tác giả tập trung nghiên cứu hệ thống treo bán tự động với các mô hình
1/4 với kích động mặt đường ngẫu nhiên với các phổ được đo với các đường ở Việt
Nam.
+ Công trình của Nguyễn Thái Bạch Liên [21],đã khảo sát dao động của xe tải
hai cầu dưới tác động ngẫu nhiên của mặt đường. Trong luận án tác giả xây dựng
mô hình không gian dao động của ôtô hai cầu với kích động ngẫu nhiên và giải
quyết bài toán dao động bằng phương pháp Matlab Simulink 6.0.
+ Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phúc Hiếu [11], đã thiết lập mô hình tính
toán dao động của ôtô chịu kích động từ mấp mô bề mặt đường, từ đó xác định các
thông số dao động của ôtô tác dụng lên khung xương khi chuyển động trên đường.
Tác giả đã thiết lập mô hình và giải bài toán tính độ bền hệ khung xương không
gian của ôtô bằng phương pháp phần tử hữu hạn.
nhiên của xe xích chiến đấu bằng phần mềm Matlab – Simulink, mô hình dao động
của xe là mô hình ½.
+ Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Dũng [5], đã xây dựng mô hình động lực
học ôtô quân sự nhiều cầu trong các hệ mô phỏng .
10
+ Luận án tiến sĩ của tác gỉa Đào Mạnh Hùng [12], đã xác định lực động giữa
bánh xe và mặt đường của ô tô tải trong điều kiện sử dụng ở Việt Nam.
+ Luận án thạc sĩ của tác giả Nguyễn văn Lộc [20], đã lập phương trình tính
toán dao động của xe chữa cháy rừng khi làm băng cản lửa từ đó khảo sát các yếu tố
ảnh hưởng đến dao động đặt trên ghế sau đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của dao
động của máy kéo lên người lái.
+ Luận án thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Khối [17], đã xây dựng được mô
hình toán học theo phương pháp công khả dĩ và phương pháp tách hệ từ đó xác định
được lực động tác dụng xuống đường và đưa ra đưa ra các thông số tối ưu của độ
cứng và hệ số cản dao động để giảm thiểu phá hủy đường.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về dao động của ôtô nhưng chưa có
công trình nào nghiên về dao động của ô tô Thaco Foton FC 500 khi vận chuyển gỗ
trên đường lâm nghiệp.
Như vậy trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
dao động của ôtô và máy kéo trong vận tải hàng hóa nói chung và vận chuyển gỗ
nói riêng , tuy nhiên với việc đầu tư các loại lớn ôtô vận tải được sản xuất tại các
nước có nền công nghiệp phát triển đòi hỏi sự đầu tư lớn về kinh tế, với việc khai
thác gỗ trung bình và nhỏ ở các khu rừng trồng hiện nay không phải là lựa chọn tốt
của các đơn vị vận tải vì đồng vốn quay vòng chậm. hiện nay theo tìm hiểu của tác
giả loại xe Thaco Foton FC 350,450 ,500 …5 tấn được sử dụng rất nhiều trong vận
tải nói chung và vận chuyển gỗ nói riêng. Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về
dao động của loại xe này, theo tác giả việc nghiên cứu này là rất cần và có tính cấp
thiết .
1.3 . Tổng quan về hệ thống treo trên xe ôtô
Hệ thống treo: Là bộ phận bao gồm các phần tử đàn hồi, giảm chấn, liên kết
chữa người ta thường phân loại chủ yếu dựa vào sơ đồ bộ phận dẫn hướng và chia
ra 2 nhóm chính là hệ thống treo độc lập và hệ thống treo phụ thuộc:
Hình 1.4- Sơ đồ hệ thống treo
a) Hệ thống treo phụ thuộc; b) Hệ thống treo độc lập.
1- Thùng xe; 2- Bộ phận đàn hồi; 3- Bộ phận giảm chấn;
4- Dầm cầu; 5 - Các đòn liên kết của hệ treo.
Hệ thống treo phụ thuộc
Trong hệ thống treo phụ thuộc hình 1.4-a các bánh xe được đặt trên một dầm
cầu liền, bộ phận giảm chấn và đàn hồi đặt giữa thùng xe và dầm cầu liền đó. Do
đó sự dịch chuyển của một bánh xe theo phương thẳng đứng sẽ gây nên chuyển vị
nào đó của bánh xe phía bên kia.
Hình 1.5: Sơ đồ hệ thống treo phụ thuộc dùng lá nhíp
13
Đặc trưng của hệ thống treo phụ thuộc là các bánh xe lắp trên một dầm cầu
cứng. Trong trường hợp cầu xe là bị động thì dầm đó là một thanh thép định hình,
còn trường hợp là cầu chủ động thì dầm là phần vỏ cầu trong đó có một phần của
hệ thống truyền lực.
Trong hệ treo phụ thuộc có phần tử đàn hồi là nhíp thì nó vừa là phần
tử đàn hồi đồng thời làm luôn bộ phận dẫn hướng. Vì nhíp làm bộ phận hướng nên
trong hệ treo này sẽ không cần đến các thanh giằng để truyền lực dọc hay lực
ngang nữa.
Nhược điểm của hệ thống treo này là :
- Khối lượng phần không được treo lớn, đặc biệt là ở cầu chủ động nên khi xe
chạy trên đường không bằng phẳng, tải trọng động sinh ra sẽ gây nên va đập mạnh
giữa phần không được treo và phần được treo làm giảm độ êm dịu chuyển động.
- Khoảng không gian phía dưới sàn xe phải lớn để đảm bảo cho dầm cầu có
thể thay đổi vị trí, do vậy chiều cao trọng tâm lớn.
- Khi một bánh bị nâng lên, vết bánh thay đổi làm phát sinh lực ngang làm
tính chất bám đường kém đi, dễ bị trượt ngang, xe bị nghiêng…
Ưu điểm của hệ thống này là :
lên khung khi bánh xe lăn trên nền đường không bằng phẳng nhằm bảo vệ được bộ
phận đàn hồi và tăng tính tiện nghi cho người sử dụng.
Trên ôtô tải hiện nay chủ yếu sử dụng là giảm chấn ống thuỷ lực có tác dụng
hai chiều ở cấu trúc hai lớp.
Hình 1.6: Cơ cấu treo phụ thuộc dùng nhíp lá
15
Giảm chấn hai lớp vỏ
Cấu tạo
Hình 1.7: Sơ đồ cấu tạo của giảm chấn hai lớp vỏ.
Giảm chấn hai lớp vỏ được biết đến là loại giảm chấn được ra đời từ khá sớm
(khoảng những năm 1938) đây là một loại giảm chấn quen thuộc và được dùng
phổ biến cho đến nay. Trong giảm chấn, piston di chuyển trong xy lanh chứa đầy
dầu, chia không gian trong thành hai buồng A và B. ở đuôi của xy lanh thuỷ lực có
một cụm van bù. Bao ngoài vỏ trong là một lớp vỏ ngoài, không gian giữa hai lớp
vỏ là buồng bù thể tích chất lỏng và liên hệ với B qua các cụm van một chiều (III,
IV). Buồng C được gọi là buồng bù chất lỏng, trong C chỉ điền đầy một nửa bên
trong là chất lỏng, không gian còn lại chứa không khí có áp suất bằng áp suất khí
quyển.
1- Khoang vỏ trong;
2- Phớt làm kín;
3- Bạc dẫn hướng;
4- Vỏ chắn bụi;
5- Cần piston;
6- Piston;
7- Van cố định;
8- Vỏ ngoài.
16
Các van (I) và (IV) lần lượt là các van nén mạnh và nén nhẹ, còn các van (II)
và (III) lần lượt là các van trả mạnh và trả nhẹ của giảm chấn.
Giảm chấn hai lớp vỏ có cấu tạo như sau:
1:1997, mục tiêu của TCVN 6964-1:2001 [8] Khả năng cảm nhận rung động Sự
chóng mặt buồn nôn do rung động Phương pháp đánh giá là dựa vào trọng số gia
tốc r.m.s hay còn gọi là gia tốc bình phương trung bình trong số gia tốc r.m.s tính
bằng m/s
2
đối với rung động t
ị
nh tiến và rad/s
2
đối với rung động quay.Gia tốc
r.m.s được tính bằng công thức sau.
Trong đó :
a
w
(t) gia tốc rung động tịnh tiến hoặc quay
T : thời gian rung động
Theo TCVN 6964-1:2001: phản ứng của cơ thể con ngư
ờ
i đối với những mức
rung động khác nhau phụ thuộc vào trọng số gia tốc a
w
trong bảng 1.1 như sau
Bảng 1.1: Bảng thông số kỹ thuật đo tương ứng giữa gia tốc dao động và cảm giác
người ngồi trên xe
Gia tốc dao động(a
w
) Cảm giác người trên xe
<0.315 m/s
2
Không có cảm giác khó chịu
+ Tác giả Sweatman [46], đã sử dụng thiết bị để đo lực động của 9 loại ôtô
khác nhau, trên nhiều loại đường với tốc độ thay đổi. Tác giả đã xác định mối quan
hệ nêu trên ở mức độ rất cao (lũy thừa bậc 4) để đánh giá lực động gây hư hại.
+ Các tác giả T E C.Potter, D.Cebon và D.J Cole [47], đã đưa ra các quy chuẩn
về phương pháp kiểm tra lực động, các chỉ số giới hạn gây phá hủy đường
+ Tác giả David Cebon [38],có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá lực động
giữa bánh xe và mặt đường cũng như ảnh hưởng của lực động đến phá hủy đường.
+ Tác giả Alexander O.Gibson [35],nghiên cứu xây dựng mô hình động lực
dọc của xe tải nặng để đánh giá sự phá hủy đường.
+ Tác giả K.Y và JK Hedick [43], nghiên cứu biện pháp làm giảm phá hủy
đường bằng các hệ thống treo tích cực, bán tích cực.
+ Tác giả Đào Mạnh Hùng [12], đã xây dựng mô hình xác định lực động giữa
bánh xe và mặt đường trên miền thời gian và tần số , với kích thích mặt đường
ngẫu nhiên theo điều kiện đường xá ở Việt nam
+ Tác giả Nguyễn Xã Hội [13], trong nghiên cứu về động lực học của xe
chữa cháy rừng đa năng đã đưa ra các phương pháp mô tả mấp mô biên dạng mặt
đất rừng.
+ Trần Văn Như, Đào Mạnh Hùng [23] , Tối ưu thông số hệ thống treo để
giảm thiểu phá hủy đường theo điều kiện khai thác ở Việt Nam , Tạp chí Giao thông
vận tải số 6/2008
Nhìn chung các nghiên cứu tập trung vào những nội dung chính , bao gồm:
- Các chỉ tiêu đánh giá về lực động, ảnh hưởng của lực động tới ôtô, mặt
đường.
- Các mô hình dao động , bao gồm mô hình vật lý, toán học.
- Nguồn kích thích dao động .
Tóm lại : Biên dạng đường ôtô trên thực tế rất phức tạp vì nó phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố khác nhau, trong luận văn này tác giả có đặt ra một số giả thiết về
biên dạng đường ôtô qua tham khảo của một số công trình đã công bố nêu trên
19
1.5. Các phương pháp và phần mềm ứng dụng trong nghiên cứu dao động ôtô,
∂
∂
−
∂
∂
i=1,2,3,4
Trong đó:
T Hàm động năng của hệ.
Π Hàm thế năng của hệ
Φ
Hàm hao tán của hệ
q Các tọa độ suy rộng (i= 1,2,3,4)
Q Các ngoại lực liên kết.
Các hàm động năng, thế năng và hàm hao tán của hệ được thiêt lập theo H
biểu thức tính toán trong cơ học giải tích tương ứng với mô hình dao động đã được
lập. Sau khi thay các biểu thức mô tả dao động của ôtô Thaco Foton FC500 5 tấn
khi vận chuyển gồ trên đường lâm nghiệp.
Việc giải phương trình vi phân tuyến tính lập được để xác định các đặc trưng
động lực học của hệ được tiến hành theo phương pháp giải tích và sự trợ giúp của
Phương pháp đo các đại lượng nghiên cứu trong luận án được thực hiện theo
phương pháp đo các đại lượng không điện bằng điện.
21
Áp dụng các phương pháp thí nghiệm đã có xác định các thông số đầu vào và
xác định các thông số đầu ra.
Sử dụng các thiết bị đo, cảm biến đo và các phần mềm xử lý số liệu hiện đại
để xác định các thông số phục vụ cho khảo sát bài toán lý thuyết như tọa độ trọng
tâm của xe, mômen quán tính của xe, độ cứng và hệ số cản giảm chấn của các phần
tử đàn hồi, độ mấp mô mặt đường lâm nghiệp, đồng thời đo các thông số đầu ra
của bài toán như gia tốc dao động thân xe.
Quá trình tổ chức và tiến hành thí nghiệm xác định trọng lượng, tọa độ trọng
tâm, mômen quán tính, độ cứng của lốp, của nhíp, độ mấp mô mặt đường lâm
nghiệp, gia tốc dao động thân xe theo phương pháp thống kê toán học và phương
pháp thí nghiệm ôtô.
1.5.3.Các phần mềm nghiên cứu dao động ôtô máy kéo
1.5.3.1. Phần mềm Mathematica
Mathematica là một tổ họp các tính toán bằng ký hiệu, tính toán bằng số, vẽ
đồ thị và là ngôn ngữ lập trình tinh vi. Mục đích chính của phần mềm này là đưa
vào sử dụng cho các ngành khoa học vật lý, công nghệ và toán học, nhưng cùng với
thời gian Mathematica trở thành phần mềm quan trọng trong nhiều lĩnh vực khoa
học khác. Trong công nghệ ngày nay người ta đã sử dụng Mathematica trong công
tác thiết kế .
1.5.3.2. Phần mềm Maple.
Với Maple người dùng có thể nhập biểu thức toán học theo các ký hiệu toán
học truyền thống. Có thể dễ dàng tạo ra những giao diện người dùng tùy chọn.
Maple hỗ trợ cho cả tính toán số và tính toán hình thức, cũng như hiển thị. Nhiều
phép tính số học được thực hiện dựa trên thư viện số học NAG; trong Maple, các
chương trình con NAG đã được mở rộng để cho phép độ chính xác ngẫu nhiên lớn.
Maple cũng có một ngôn ngữ lập trình cấp cao đầy đủ.
Ưu điểm của Maple là giải phương trình vi phân, phương trình đạo hàm riêng,
23
xe Thaco Foton đang là những lựa chọn thích ứng với khả năng của các doanh
nghiệp vận tải vừa và nhỏ ở việt Nam.
Trong quá trình sử dụng xe để vận tải nói chung và vận tải gỗ nói riêng, viêc
nghiên cứu về dao động của ôtô có vai trò rất quan trọng, từ nghiên cứu ta có thể
đánh giá được các chỉ số về dao động êm dịu như tần số dao động riêng,gia tốc dao
động,thởi gia tác động của dao động , để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả
năng êm dịu chuyển động , chọn chế độ sử dụng hợp lý.
Để mô phỏng được mô hình ta có thể lập phương trình vi phân dao động của
xe, có rất nhiều phương pháp khác nhau như : phương pháp lực, phương pháp phần
tử hữu hạn, sử dụng nguyên lý Dalambe, ứng dụng phương trình Lagrange loại
II…) .Để giài và mô phỏng phương trình đó có các phần mểm hỗ trợ (Mathematica,
Maple, Mathcad, Matlab & Simulink…)
Đã có nhiều công trình ở trong nước, ngoài nước nghiên cứu về dao động của
ôtô máy kéo, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về dao động của loại xe tải
Thaco Foton FC 500 5 tấn khi chở gỗ chuyển động trên đường lâm nghiệp
Từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài:
“ Nghiên cứu dao động của xe ô tô Thaco foton FC 500 5 tấn khi vận chuyển
gỗ trên đường lâm nghiệp “
24
Chương 2
MỤC TIÊU , ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng và khảo sát được mô hình dao động của xe ô tô tải Thaco Foton
FC500 5 tấn khi vận chuyễn gỗ trên đường lâm nghiệp làm cơ sở cho việc hoàn
thiện hệ thống treo và chọn chế độ sử dụng hợp lý khi vận chuyển gỗ trên đường
lâm nghiệp.
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Mômen xoắn cực đại/Tốc độ quay 348 N.m/1.600 - 1.900 vòng/phút