Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
MỤC LỤC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1. Bảng 1: Qui mô vốn đầu tư công ty TNHH Liên Chính giai đoạn 2002-
2005
2. Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn theo nguồn huy động giai đoạn 2002- 2005
3. Bảng 3: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2002- 2005
4. Bảng 4: Vốn đầu tư máy móc thiết bị giai đoạn 2002- 2005
5. Bảng 5: Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2002- 2005
6. Bảng 6: Doanh thu, lợi nhuận, thu nhập giai đoạn 2001- 2005
7. Bảng 7: Đóng góp ngân sách nhà nước giai đoạn 2001- 2005
8. Bảng 8: Tỷ suất sinh lợi vốn đầu tư giai đoạn 2002- 2005
9. Bảng 9: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh giai đoạn 2002- 2005
10. Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức các phòng ban
11. Biểu đồ 1: Qui mô vốn đầu tư công ty TNHH Liên Chính giai đoạn
2002- 2005
12. Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn vốn theo nguồn huy động giai đoạn 2002-
2005
LỜI MỞ ĐẦU
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, nền kinh tế Việt
Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Cùng với sự phát triển đó, đời sống của
người dân ngày càng được cải thiện, thu nhập càng tăng cao thì nhu cầu của
người dân ngày càng đa dạng phong phú. Con người không chỉ ăn ngon mặc
đẹp mà còn hướng tới nhu cầu làm đẹp, làm đẹp cho bản thân và làm đẹp cho
gia đình, dần dần xuất hiện xu hướng mới trong tiêu dùng mỹ phẩm, một sản
phẩm tốt phải đi kèm với một dịch vụ làm đẹp hoàn hảo. Đồng thời chính
sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích các thành phần kinh tế
cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tận dụng yếu tố đó, Công ty mỹ phẩm
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI
CÔNG TY TNHH LIÊN CHÍNH
1.1. Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Liên Chính
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Siêu thị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống bán lẻ hàng hoá của các
quốc gia. Khi điều kiện kinh tế càng phát triển, tốc độ công nghiệp hoá, đô thị
hoá và thu nhập theo đầu người càng cao thì hệ thống siêu thị càng có điều
kiện để phát triển mạnh mẽ hơn và vai trò của siêu thị càng được tăng cường.
Nắm bắt được xu hướng kinh doanh cùng với việc xác định nhu cầu làm đẹp
của con người là cần thiết, công ty TNHH Liên Chính ra đời trong hoàn cảnh
hệ thống siêu thị phát triển và thị trường mỹ phẩm trong nước đang ngày càng
sôi động, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, người Việt Nam đã
có mức sống cao hơn ngoài những nhu cầu cơ bản người dân ngày càng
hướng tới nhu cầu làm đẹp cho bản thân và gia đình để con người ngày càng
đẹp hơn và hoàn thiện hơn.
Thực tế cho thấy, những công ty nước ngoài đang phát triển với một tốc
độ mạnh mẽ, các nhà đầu tư nước ngoài đang thâm nhập vào thị trường Việt
Nam nhanh chóng, nhất là khi Việt Nam đã và đang trong quá trình gia nhập
vào WTO. Tuy nhiên, những nhà phân phối mỹ phẩm trong nước còn rất hạn
chế, do đó công ty Liên Chính đã ra đời đáp ứng nhu cầu phân phối mỹ phẩm
của các nhà sản xuất tới người tiêu dùng thông qua một hệ thống siêu thị mỹ
phẩm đang được hình thành trên khắp đất nước mà bắt đầu là ở Hà Nội.
Năm 1997 thương hiệu mỹ phẩm nước ngoài đầu tiên có mặt tại Việt
Nam là Debon của LG. Gần 10 năm sau trên thị trường đã có trên 200 thương
hiệu mỹ phẩm ngoại và con số này còn có xu hướng tăng cao. Thị trường mỹ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
phẩm đang ngày càng sôi động với sự góp phần của các gương mặt nhiều
đẳng cấp, từ bình dân đến siêu cao cấp : Pond , Hezaline, essence, Rohto,
Debon, Amore, Maybeline, Nivea, Avon, Shiseido, Carita, L’’oreol, Kanebo,
Clarins, Pupu, Christian Breton, Feraud, fendi, lower, wigleys, clinique, estee
qua các kênh bán lẻ truyền thống như chợ, tạp hoá, siêu thị, cửa hàng tự
chọn...
Trên thị trường mỹ phẩm hiện nay, các dòng sản phẩm khác nhau có
giá thành khác nhau. Giá của các sản phẩm dòng quý tộc có thể lên đến 20
triệu đồng/ 1bộ sản phẩm dưỡng hoặc trang điểm. Dòng cao cấp bình quân
khoảng 5 triệu đồng/ 1 bộ và dòng hàng hiệu cũng khoảng trên 1 triệu đồng.
Các nhãn hàng phổ thông hiện nay ngoài các sản phẩm chủ yếu thiên về làm
sạch thì cũng bắt đầu thâm nhập vào lĩnh vực sản phẩm dưỡng và trang điểm
với giá cả vài trăm nghìn/ 1 bộ sản phẩm. Các sản phẩm chuyên dụng làm
trắng, chống nhăn, chống nám… hay các dòng sản phẩm chuyên biệt dành
cho đàn ông; các sản phẩm mỹ phẩm có thành phần đặc biệt chiết xuất từ tự
nhiên đều có giá cả rất cao đặc biệt những sản phẩm khi bán tại Việt Nam có
giá cao hơn ở chính quốc tới 10 lần.
Trong điều kiện thị trường mỹ phẩm diễn ra sôi động với nhiều chủng
loại đẳng cấp, nhiều giá cả thì Liên Chính đã thành lập siêu thị mỹ phẩm để
phân phối mỹ phẩm có chất lượng tốt tới người tiêu dùng với một mức gía
hợp lý nhất phù hợp với mức thu nhập của người Việt Nam. Đồng thời cũng
đáp ứng được nhu cầu mỹ phẩm ngày càng tăng của mọi người.
Từ năm 2001-2005, công ty TNHH Liên Chính là hệ thống đại lý bán
lẻ đặt tại 313 Giảng Võ hoạt động trong lĩnh vực buôn bán mỹ phẩm và chăm
sóc sắc đẹp. Đây là giai đoạn tiền tiếp thị. Trong thời gian này công ty đã hoạt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
động hiệu quả và có lãi nên muốn mở rộng sản xuất và tham vọng của nhưng
người chủ công ty là thành lập ra một hệ thống siêu thị mỹ phẩm lớn, sau đó
là hoạt động sang các lĩnh vực khác.
Ngày 26-5-2005 công ty TNHH Liên Chính chính thức thành lập dựa
trên sự hợp tác của ba sáng lập viên theo số ĐKKD: 0102020564 do Sở kế
hoạch đầu tư Hà Nội cấp.
Ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp:
-Mua bán hoá mỹ phẩm
đúng chức năng nhiệm vụ của mình, phân công nhiệm vụ công việc cho từng
phòng. Ban lãnh đạo chịu trách nhiệm đại diện công ty kí kết các hợp đồng
kinh doanh, định hướng chiến lược kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của công
ty.
Phòng kinh doanh có chức năng, nhiệm vụ thưc hiện những công việc
liên quan tới tuyển dụng đào tạo nhân sự, xây dựng chiến lược marketing,
phân công thực hiện marketing cho doanh nghiệp, đàm phán thu hút các nhà
đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp, thu hút các đối tác kinh doanh…
Phòng kế toán có chức năng nhiệm vụ ghi chép những nghiệp vụ trong
hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp, tính toán những vấn đề về thuế, cân
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10
đối thu chi của doanh nghiêp, tính lương và trả lương cho nhân viên theo chi
đạo của ban lãnh đạo..
Phòng bán hàng và thu ngân là cầu nối quan trọng giữa công ty với
khách hàng, có chức năng bán hàng và thu ngân taị các địa điểm của công ty.
Tư vấn về sản phẩm cho khách hàng, theo dõi, tổng kết công việc trong ngày.
Thực hiện theo đúng hướng dẫn của ban lãnh đạo và phòng kinh doanh.
Phòng bảo vệ đảm bảo an toàn cho hàng hoá của công ty không bị mất
mát hư hỏng, giám sát không để xẩy ra tình trang trộm cắp trong mua bán.
1.1.3. Ngành nghề kinh doanh và năng lực của công ty
Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh, công ty kinh doanh các loại mặt
hàng sau:
-Mua bán hoá mỹ phẩm
-Mua bán đồ điện, đồ điện tử, điện gia dụng và máy móc, thiết bị trong
lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuỷ lợi.
-Mua bán hàng hoá nông lâm thuỷ hải sản
-Sản xuất mua bán tư vấn và thiết kế đồ dùng nội thất gia đình văn
phòng
-Đại lý mua bán ký gửi hàng hoá
-Xuất nhập khẩu các loại hàng hoá mà công ty kinh doanh.
cung cấp, cás đối tác làm ăn…
Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp bao gồm: hình ảnh và uy tín của
doanh nghiệp trên thương trường; mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa;
uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12
1.2. Vai trò của đầu tư phát triển và tính tất yếu khách quan phải
tăng cường đầu tư phát triển tại công ty TNHH Liên Chính
1.2.1. Vai trò của đầu tư phát triển :
Đầu tư phát triển có vai trò vô cùng quan trọng.
Đối với nền kinh tế xã hội
Thứ nhất, đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Đầu tư là
một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế, thường
vào khoảng 24-28%. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với
tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm tổng cầu tăng. Khi
thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì
tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản lượng tăng, giá cả giảm
cho phép tăng tiêu dùng. Tiêu dùng tăng lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn
nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc để tăng tích luỹ, phát triển xã hội…
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là
tăng hay giảm đều cùng một lúc vùa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố
phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế mọi quốc gia.
Khi tăng đầu tư, cầu về các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng làm cho giá
cả của các hàng hoá có liên quan tăng( giá chi phí vốn, giá công nghệ, giá lao
động, vật tư )đến một mức nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Lạm phát sẽ
làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động gặp khó khăn, thâm hụt
ngân sách và kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu
các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút
thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác
động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: Chính đầu tư đã quyết
đinh sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Thật vậy, để tạo
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho bất kỳ sự ra đời của doanh nghiệp nào đều
cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc
thiết bị và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu
kỳ của các cơ sở vật chất- kỹ thuật đã được tạo ra. Do đó, vốn đầu tư là yếu tố
đầu tiên cần phải có để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ,
tạo điều kiện cho các cơ sở này tiến hành hoạt động của mình. Trong quá trình
hoạt động các cơ sở vật chất- kỹ thuật bị hao mòn hữu hình và vô hình theo
thời gian và theo mức độ sử dụng. Cho nên để duy trì sự hoạt động của mình
thì doanh nghiệp phải tiếp tục đầu tư trang bị lại, hiện đậi hoá, thay thế hay
sửa chữa lớn. Nhưng đối với các doanh nghiệp, để đứng vững trong nền kinh
tế thị trường, không chỉ cần quan tâm đến việc thay thế, sửa chữa máy móc
thiết bị mà còn phải trường xuyên đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt
động mới của sự phát triển khoa học- kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền
sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang
thiết bị cũ đã lỗi thời, cải tiến công nghệ, tăng cường đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực để thích nghi với yêu cầu của sự phát triển, đẩy mạnh hoạt động
marketing…Tất cả các hoạt động này đều đòi hỏi có sự đầu tư thoả đáng.
1.2.2. Tính tất yếu khách quan phải tăng cường hoạt động đầu tư phát
triển tại công ty TNHH Liên Chính
Đầu tư phát triển nói chung là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài
chính, vật chất, lao động, trí tuệ… nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ
sở sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế quốc dân, tạo việc làm và nâng
cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội. Trong doanh nghiệp thì đầu tư
phát triển là hoạt động chi dùng vốn cùng với các nguồn lực khác nhằm duy
trì sự hoạt động và tăng thêm tài sản cho doanh nghiệp, tạo thêm việc làm,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15
nâng cao đời sống cho các nhân viên trong công ty. Không có hoạt động đầu
khác nhau thì hiệu quả đem lại sẽ thực sự lớn. Trong điều kiện hiện nay đòi
hỏi các doanh nghiệp cần phải có nhiều phương thức cạnh tranh khác nhau thì
công ty TNHH Liên Chính lại chỉ có thể cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
và dịch vụ khách hàng. Cho dù chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng
nhất nhưng không đủ để tạo cho công ty có một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường. Để tăng được doanh thu và thị phần, công ty phải giảm được các chi
phí ngoài phát sinh và bán được nhiều sản phẩm hơn nữa. Bên cạnh đó, để
cạnh tranh dễ dàng hơn công ty phải thu hút các hãng mỹ phẩm nhiều hơn nữa
để tạo ra sự đa dạng của sản phẩm, có nhiều mẫu mã hơn. Trong thời gian tới,
công ty không chỉ cần có những điều chỉnh linh hoạt hơn trong chính sách
cạnh tranh mà còn cần phải điều chỉnh và mở rộng cơ cấu sản phẩm, phải biết
tận dụng lợi thế của mình để từ đó nâng dần vị thế cạnh tranh của công ty.
Thứ ba: là căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong 6
năm qua. Công ty TNHH Liên Chính là nhà phân phối mỹ phẩm có chất
lượng với dịch vụ cung cấp ổn định, thoả mãn tương đối các nhu cầu đa dạng
của thị trường, công ty đã xây dựng cho mình uy tín vững chắc trên thị
trường. Từ năm 2001, công ty bắt đầu đi vào hoạt động và phát triển, đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Từ năm 2006, công ty ngày càng được mở rộng hơn
và phát triển mạnh mẽ. Cùng với việc phát triển sản xuất kinh doanh, doanh
thu của công ty cũng tăng liên tục, đều đặn và ổn định. Nhu cầu đầu tư, mở
rộng sản xuất là một tất yếu khách quan nhằm phát triển công ty và cũng là
phù hợp với xu hướng phát triển chung của công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17
Thứ tư: là căn cứ vào đòi hỏi, vào nhu cầu của khách hàng, của thị
trường và tình trạng cơ sở hạ tầng hiện có của công ty. Trong những năm qua
nhu cầu tiêu thụ mỹ phẩm của doanh nghiệp liên tục tăng cao, trung bình tăng
20- 25% sản lượng hàng năm. Đặc biệt, nhu cầu sản phẩm chăm sóc da và sản
phẩm trang điểm có rất nhiều lợi thế so với các nhóm sản phẩm khác. Cùng
với việc tăng khối lượng sản phẩm thì việc đổi mới và trang bị thêm máy móc
thiết bị như máy fax, máy in, camera nhằm tránh thất thoát hàng hoá là vô
trong chính sách của nhà nước.
1.2.3.2. Đầu tư của nhà nước
Nguồn vốn đầu tư của nhà nước chủ yếu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật như: đường, điện, nước…và cơ sở hạ tầng xã hội như: y tế, giáo dục.
Khi nhà nước xúc tiến công việc đầu tư sẽ là một trong những yếu tố thúc đẩy
các doanh nghiệp tiến hành đầu tư. Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tạo cho doanh
nghiệp thực hiện các công cuộc đầu tư được nhanh hơn và giảm được chi phí
đầu tư.
1.2.3.3. Thị trường và cạnh tranh
Muốn duy trì được sự tồn tại và ngày càng phát triển, sản phẩm của
doanh nghiệp phải đáp ứng được các nhu cầu của người tiêu dùng. Không chỉ
có vậy, doanh nghiệp còn phải định hướng nhu cầu của khách hàng tiềm năng
đối với các sản phẩm hiện có và sản phẩm mới. Việc nhu cầu thị trường quyết
định sự tồn tại và phát triển của sản phẩm để từ đó quyết định hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp cần quan tâm đến
các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm của doanh
nghiệp mình. Các nhu cầu về thị trường và các yếu tố cạnh tranh phải được
luận giải chi tiết trong luận chứng kinh tế- kỹ thuật. Từ đó, doanh nghiệp dự
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 19
đoán tình hình tương lai và lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp, tạo lợi thế
riêng của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác.
1.2.3.4. Chu kỳ phát triển của nền kinh tế
Mọi hoạt động đầu tư sẽ mang lại thêm thu nhập nếu như hoạt động
đầu tư dẫn đến việc tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn hoặc tạo ra chi phí thấp
hơn. Do đó, yếu tố rất quan trọng quyết định đầu tư của doanh nghiệp là
lượng sản phẩm tiêu thụ. Nhiều nhà kinh tế cho rằng qui mô nền kinh tế mở
rộng, nhu cầu tiêu thụ hàng hoá tăng thì khả năng kiếm lợi nhuận là rõ ràng và
cơ hội đầu tư càng thuận lợi thì nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp tăng. Ngược
lại, vào thời kỳ suy thoái, hàng hóa tồn đọng, dung lượng thị trường thấp, cơ
hội đầu tư không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ cắt giảm qui mô đầu tư.
nhuận bán hàng giảm và tỷ suất đầu tư cũng giảm xuống. Tăng đầu tư làm
hiệu quả biên của vốn giảm nên nhà đầu tư hay doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu
tư tăng thêm chừng nào hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn lãi suất vốn vay
trên thị trường vốn.
1.2.3.7. Chi phí tài chính
Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển là cần khối lượng vốn lớn và
thời gian thực hiện dài. Không phải doanh nghiệp nào cũng đều sẵn có các
nguồn lực để thực hiện các hành vi đầu tư mà họ thường phải đi vay vốn. Lãi
suất thực tế phản ánh giá cả của khoản tiền vay và nó được tính là một trong
những khoản chi của quá trình đầu tư. Nếu giá vay tiền thực tế cao hơn tỷ suất
lợi nhuận bình quân, doanh nghiệp sẽ cắt giảm qui mô đầu tư và ngược lại.
Cùng với lãi suất, các qui định về thuế của chính phủ cũng ảnh hưởng
đến nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Thuế là công cụ rất quan trọng của nhà
nước để điều tiết, hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh. Đối với
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 21
doanh nghiệp, thuế trong kinh doanh là một khoản chi phí. Thuế thấp hay cao
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuân ròng của doanh nghiệp. Do vậy, thuế trong kinh
doanh là nhân tố kích thích hay hạn chế đầu tư của doanh nghiệp.
1.2.3.8. Sự tiến bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ
Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến việc lựa chọn các trang
thiết bị công nghệ. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với hoạt động đầu
tư phát triển của doanh nghiệp. Trong đầu tư, doanh nghiệp phải tính đến
thành tựu khoa học công nghệ để hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao lợi
nhuận. Sự tiến bộ khoa học công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải chấp nhận
mạo hiểm để đầu tư phát triển, nhưng nếu doanh nghiệp không tiếp cận kịp
thời với khoa học công nghệ tiên tiến thì dễ có nguy cơ bị lạc hậu về kỹ thuật
dẫn đến việc đầu tư kinh doanh có thể sẽ bị thua lỗ.
1.2.3.9. Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Để đi đến một quyết định đầu tư, doanh nghiệp không thể không tính
đến khả năng tài chính của mình. Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính để
162,107 triệu đồng, tăng 34,27% so với năm 2004, tăng 66,04% so với năm
2002.
Qui mô vốn đầu tư phát triển liên tục tăng là do đã đầu tư vào một số
lĩnh vực như: cải tạo cơ sở vật chất, đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư mua sắm
máy móc thiết bị, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cho công tác
Marketing, quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp...Trong đó, đầu tư xây
dựng cơ bản luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Là công ty mới đi vào hoạt động
kinh doanh nên vốn phân phối cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản chiếm
tỷ trọng lớn là điều dễ hiểu. Thêm vào đó, thực tế cho thấy ngành mỹ phẩm có
cung nhỏ hơn cầu nên vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm mở rộng mạng
lưới cung ứng tăng dần qua các năm là một tất yếu. Tiếp đến là đầu tư mua
sắm máy móc thiết bị. Trong điều kiện hiện nay, khi công nghệ khoa học phát
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 23
triển thì việc đầu tư mua sắm máy móc thiết bị sẽ giảm được những chi phí
không cần thiết, tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Áp dụng khoa học trong
kinh doanh giúp doanh nghiệp cắt giảm được thời gian cho việc kiểm kê và
giám sát hàng hoá, tránh bị mất cắp hàng hoá trong quá trình kinh doanh. Và
như đã nói ở trên, Liên Chính là công ty mới đi vào hoạt động nên máy móc
thiết bị hầu như phải mua mới toàn bộ. Chính vì thế, vốn đầu tư cho mua sắm
máy móc thiết bị liên tục tăng trong những năm qua. Bên cạnh đó, con người
cũng là một yếu tố quyết định đến vận hành quá trình đầu tư. Hàng năm, công
ty đã đầu tư hàng trăm triệu đồng cho việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực
và trong những năm gần đây, việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực đang được
chú trọng hơn. Công ty cũng chú trọng đầu tư cho công tác marketing, quảng
bá thương hiệu, tạo uy tín của doanh nghiệp trên thị trường mỹ phẩm.
Từ đó cho thấy, công ty đang dần dần đi vào quĩ đạo, ngày một tự chủ
hơn trong đầu tư kinh doanh, chấp nhận mạo hiểm nhiều hơn để kinh doanh
hiệu quả, áp dụng kĩ thuật hiện đại nhiều hơn trong việc kinh doanh, quản lý
hoạt động đầu tư của mình nhằm đem lại doanh thu và lợi nhuận cao hơn
Biểu đồ 1: Qui mô vốn đầu tư công ty TNHH Liên Chính
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 25
14,91% thì đến 2005 đã tăng lên 16,03%.Tuy tỷ lệ này còn rất thấp so với các
nguồn vốn khác, nhưng sự gia tăng của nó chứng tỏ hoạt động của công ty đã
đem lại những dấu hiệu đáng khích lệ, đang dần dần phát huy những thành
quả của công cuộc đầu tư đem lại.
Ngoài ra, công ty còn huy động thêm các nguồn vốn khác như vay tín
dụng nhà nước, vốn HSB...nhưng không đáng kể. Do đó có thể nói, nguồn
vốn quan trọng nhất của công ty vẫn là nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay. Tuy
nhiên cơ cấu nguồn vốn của công ty đã có những thay đổi nhưng theo chiều
hướng tích cực hơn.
Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn theo nguồn huy động giai đoạn 2002-2005
Đơn vị: Triệu đồng, %
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
Số tiền (tr
đ)
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền (tr
đ)
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền (tr
đ)
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền (tr