khảo sát thành phần hóa học của loài địa y lobaria pulmonaria (lobariacea) thu hái ở tỉnh lâm đồng - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
KHOA HÓA HỌC

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA LOÀI ĐỊA Y LOBARIA
PULMONARIA (LOBARIACEA) THU HÁI Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
GVHD: Ths. Dương Thúc Huy
Nhóm thực hiện:
1. Bùi Thị Thùy An 37106001
2. Trương Thị Diễm 37106008
3. Nguyễn Công Dương 37106012
4. Nguyễn Thị Giang 37106019
5. Lê Hồng Bảo Ngọc 37106056
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA HÓA HỌC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BỘ MÔN HỮU CƠ * * *
TP. HCM, ngày……tháng… năm 2013
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
1. Cán bộ hướng dẫn: Ths. Dương Thúc Huy
2. Tên đề tài: “KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA LOÀI ĐỊA Y LOBARIA
PULMONARIA (LOBARIACEA) THU HÁI Ở TỈNH LÂM ĐỒNG”
3. Nhóm thực hiện: 1. Nguyễn Công Dương 37106012
2. Bùi Thị Thùy An 37106001
3. Lê Hồng Bảo Ngọc 37106056
4. Trương Thị Diễm 37106008
5. Nguyễn Thị Giang 37106019
4. Nội dung nhận xét:
a. Nhận xét về hình thức của luận văn tốt nghiệp:
b. Nhận xét về nội dung của luận văn tốt nghiệp (đề nghị ghi chi tiết và đầy
đủ):
Những vấn đề còn hạn chế:

MỤC LỤC
PHỤ LỤC HÌNH
Hình 1. Một số địa y dạng bột (Crustose).
Hình 2. Một số địa y hình lá ( Foliose)
Hình 3. Một số địa y dạng sợi (Fructicose)
Hình 4. Địa y Lobaria amplissima
Hình 5. Địa y Lobaria virens
Hình 6. Địa y Lobaria srobiculata
Hình 7. Địa y Lobaria pulmonaria khi mới thu hái ( hình trái) và sau khi
phơi khô (hình phải)
PHỤ LỤC SƠ ĐỒ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Địa y là một dạng cơ thể phức tạp được tạo nên từ nhiều thành phần khác nhau.
Thành phần chính trong địa y thường là nấm. Nấm không thể tự tạo ra nguồn thức ăn cho
mình nên chúng thường sống cộng sinh với một thành phần khác hoặc sống hoại sinh.
Nấm trong địa y (thuộc giới Nấm) thường cộng sinh với một thành phần khác, thành
Trang 4
phần này có khả năng tạo ra nguồn dinh dưỡng thông qua quá trình quang hợp. Đôi khi
thành phần này là tảo, khi khác lại là vi khuẩn lam, cũng có khi là bao gồm cả hai loại
trên
[1]
.
Mỗi loài địa y cần điều kiện sống và phát triển khác nhau. Một số địa y chỉ phát
triển trên giá thể có tính acid, một số khác phát triển trên giá thể có tính baz hoặc trung
tính. Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sang…đều có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát
triển của các loài địa y. Nhờ có các điều kiện sống đa dạng mà các loài có mặt ở khắp nơi
trên thế giới, từ những môi trường quen thuộc (trong rừng, trên tường…) đến những môi
trường sống khắc nghiệt (hai vùng cực, đỉnh núi, sa mạc…)
[19]
.

[20]

Cetraria aculeate Ramalina cuspidate Usnea wasmuthii
(ảnh được chụp bởi Ballingeary và County Cork tại Ireland)
Hình 3. Một số địa y dạng sợi (fructicose)
[20]

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Họ Lobariaceae bao gồm các loài địa y có tán rộng, đường kính có thể lên đến 50
cm hoặc hơn. Họ địa y này có gần 800 loài và được chia thành 3 chi chính
[18]
:
- Chi Sticta
- Chi Lobaria
- Chi Pseudocyphellaria
Tuy nhiên hiện nay, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoá học nào về các loài thuộc
các chi này. Bên cạnh đó, tại rừng Bidoup thuộc tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi phát hiện thấy
có hiện diện của nhiều loài địa y thuộc chi Lobaria. Trong đó có một số loài phát triển
Trang 6
mạnh với số lượng nhiều. Do đó, chúng tôi đã chọn các loài địa y thuộc chi này làm đối
tượng nghiên cứu.
2.1. Tổng quan về chi Lobaria
2.1.1. Đặc điểm chung
Địa y thuộc chi Lobaria có dạng hình lá, kích thước lớn, các thuỳ thường phân
nhánh, có phần rìa bo tròn không sắc cạnh. Bề mặt trơn nhẵn hoặc có các nếp gấp dạng
lưới. Màu sắc thay đổi tuỳ thuộc vào môi trường khô ráo hay ẩm ướt. Mặt dưới màu trắng
hoặc xám nhạt, có gắn rễ giả gọi là rhizines
[1]
.
2.1.2. Phân bố

lên nhau. Màu sắc thay đổi từ xám đến xanh lá trong môi trường khô ráo đến ẩm ướt. Bề
mặt khá trơn láng, đôi khi có gợn sóng. Mặt dưới màu nâu nhạt, được bao phủ bằng một
lớp lông tơ
[1]
.
Hình 5. Địa y Lobaria virens
[20]

Trang 8
 Phân bố:
Lobaria virens thường được tìm thấy trên thân cây sồi, cây trần bì, cây du hay cây
dẻ, đôi khi chúng còn được tìm thấy trên những tảng đá râm mát hoặc trên các vách đá.
Đây là loài địa y phổ biến từ khu vực Đại Tây Dương cho đến Na Uy
[1]
.
2.1.3.3. Lobaria srobiculata
 Mô tả thực vật
Thuộc dạng địa y hình lá, đường kính khoảng 20 cm. Thuỳ rộng từ 1 đến 3 cm,
phần rìa bo tròn có dạng răng cưa. Bề mặt xù xì không trơn láng. Trong môi trường khô
ráo, bề mặt có thể thay đổi từ màu xám đến xanh dương nhạt. Mặt dưới màu nâu nhạt và
có lông tơ. Túi bào tử ban đầu có hình nắm tay sau đó không có hình dạng nhất định. Các
hạt được phát tán đi từ túi bào tử để tạo sự sống mới có màu xám lục
[1]
.
Hình 6. Địa y
Lobaria
srobiculata
[20
]


.
Trang 10
Stitic acid (7)
(Lobaria retigera)
Isidiophorin (8)
(Lobaria isidiophora)
Methylstitic acid (6)
(Lobaria oregana)
Cryptostitic acid (5)
(Lobaria oregana)
2.1.4.4. Sesterterpenoids:
Trang 11
Retigeranic acid A (9) và retigeranic acid B (10) được tìm thất trong Lobaria
isidiosa
[2]
.
Regeranic acid B (10)
(Lobaria isidiosa)
Regeranic acid A (9)
(Lobaria isidiosa)
2.1.4.5. Triterpenoids:
Regeric acid A (11)
(Lobaria regera)
Regeric acid B (12)
(Lobaria regera)
Retigeric
acid A (11) và retigeric acid B (12) được tìm thấy trong Lobaria retigera
[2]
.
Trang 12

.
Năm 2003, Suleyman H và những cộng sự
[10]
đã công bố dịch chiết nước của loài
Lobaria pulmonaria có đặc tính kháng viêm nimesulide và indomethacin.
Năm 2004, Fehmi Odabasoglu cùng các cộng sự
[10]
đã công bố dịch chiết methanol
của Lobaria pulmonaria và Unsea longissima có khả năng chống oxi hóa.
Năm 2009, Basak Karakus và những cộng sự
[11]
đã công bố dịch chiết methanol
của Lobaria pulmonaria có khả năng ức chế indomethacin ở chuột – một tác nhân gây
tổn thương niêm mạc dạ dày.
Ngoài ra vào năm 1999, EMEA - the European Agency for the evaluation of
medicinal products cũng đã công bố về việc Lobaria pulmonaria được sử dụng để chế
biến thức ăn trong lĩnh vực thú y
[17]
.
2.2.4. Các nghiên cứu hóa học
Cho đến ngày nay, vẫn còn rất ít các bài báo nghiên cứu thành phần hoá học của loài
địa y này. Siegfried huneck và Isao Yoshimura
[12]
đã công bố trong loài Lobaria
pulmonaria có chứa dẫn xuất của acid rhizonic như rhizonaldehide (13) và alcol rhizonyl
Trang 14
(14), các depsidone như 4,2’-dimethoxyconnorstictic acid (15), vesuvianic acid (16)
pulmonarianin (17) và các steroid như episterol (18), fecosterol (19), stigmasterol (20),
ergosterol-5α,8α-peroxide (21).
Năm 1975, S.Catalano và những cộng sự

Trang 15
Rhizonaldehyde (13)
Rhizonyl alcohol (14)
4,2’-Di-O-methylconnorscc acid (15)
Vesuvianic acid (16)
Depsidone 1 (17)
Sc acid (22)
1
2
3
4
5
6
7
1'
2'
3'
4'
5'
6'
7'
8'
9'
9
8
O
O
O
H
3

O
O
H
3
C
H
3
CO
CH
3
CH
3
OH
O
HO
O
Hyposcc acid (23)
Cryptoscc acid (24)
Depsidone 10 (27)
Methylscc acid (25)
Norscc acid (26)
Trang 16
Depsidone 1 (28)
Isidiophorin (29)
1
2
3
4
5
6

C
1
2
3
4
5
6
7
1'
2'
3'
4'
5'
6'
7'
8'
9'
9
8
O
O
O
H
3
C
H
3
CO
CH
3

3
C
O
O
CH
3
OHH
3
CO
Tenuiorin (32)
O
O
COOCH
3
OHH
3
C
H
3
C OH
H
3
C OH
2.3. Mục đích nghiên cứu
Các hợp chất depside và depsidone đã được nghiên cứu là có hoạt tính kháng
khuẩn, kháng oxi hóa mạnh
[6][7]
, là những hợp chất đặc trưng có nhiều trong địa y. Các
nghiên cứu hóa học trên chi Lobaria cũng cho thấy có sự hiện diện của những hợp chất
này. Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy loài địa y Lobaria pulmonaria thuộc chi Lobaria

Tinh chế
Trang 20
Mẫu địa y tươi
Bột khô
Cao methanol
Phân đoạn 1
Phân đoạn 2
Phân đoạn 3
Phân đoạn 4
Phân đoạn 5
Sơ đồ 1. Quy trình chung điều chế các loại cao của loài địa y Lobaria pulmonaria
Trang 21
Các hợp chất cô lập được
Khảo sát cấu trúc hoá học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Pascale Tiévant (2001), “Guide des lichens”, Delachaux et Niestlé, 1-302.
[2] Siegfried Huneck, Isao Yoshimura (1977), “ Identification of lichen substances”,
Springer – Verlag Berlin Heidelberg, 1–498.
[3]. Chicita F. Culberson (1967), “The structure of scrobiculin, a new lichen depside in
Lobaria scrobiculata and Lobaria amplissima”, Phytochemistry, 6, 719–725.
[4]. Chicita F. Culberson (1969), “Chemical studies in the genus Lobaria and the
occurrence of a new tridepside, 4-O-methylgyrophic acid”, American Bryological and
Lichenological Society, 72(1), 19–27.
[5] John A. Elix and Tor Tonsberg (2006), “Notes on the chemistry of Scandinavian
Lobaris species, Graphis Scrippta”, 18, 27–28.
[6] Luo, Heng, Yoshikazu Yamamoto, Yanpeng Liu, Jae Sung Jung, Hyung-Yeel Kahng,
Young Jin Koh and Jae-Seoun Hur (2010), “The in vitro antioxidant properties of
Chinese highland lichens”, Journal of Microbiology and Biotechnology, 20(11), 1524–
1528.
[7] Fadime Atalay, Mesut Bunyami Halici, Ahmet Mavi Ahmet Cakir (2011),

for veterinary medicinal products, 1-2.
[18] Bibiana Moncada, Robert Lucking and Luisa Betancourt – Macuase (2013),
“Phylogeny of the Lobariaceae (lichenized Ascomycota: Peltigerales) with a reappraisal
of the genus Lobariella”, The Lichenologist 45(2), 203–263.
[19] Anne Bauwens (2003 ), “les lichens et la qualité de l’air”, ULC-Université
catholique de Louvain, 1-45.
[20] Http://www.irishlichens.ie, 30/04/2013.

Trang 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status