Tên đề tài : “Rèn kĩ năng thực hiện các phép tính về lũy thừa trong dạy học
môn Toán Số học lớp 6”.
Giáo viên thực hiện : Nguyễn Thị Tố Liên.
Đơn vị công tác : Trường Trung học Cơ Sở Bàu Năng.
I. Lý do chọn đề tài:
- Do nhiệm vụ đào tạo của trường phổ thông giai đoạn hiện nay là phát huy tính
chủ động sáng tạo, trang bị cho học sinh kĩ năng hiểu vấn đề chính xác… trong quá
trình lĩnh hội kiến thức toán học.
- Do thực trạng nhiều học sinh vẫn còn thụ động trong giờ học, mà chưa tư duy
tích cực học tập chưa biết áp dụng lý thuyết vào bài tập, do đó cần nhờ vào giáo
viên hướng dẫn rèn kĩ năng vận dụng kiến thức bài học vào bài tập.
II. Mục đích nhiên cứu:
- Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về lũy thừa nhằm rèn kĩ năng tính toán
tích cực trong các hoạt động học tập, chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội
kiến thức hơn.
III. Đối tượng- Phương pháp nghiên cứu:
* Đối tượng : - Nghiên cứu kĩ năng giải toán một cách chủ động từ các bài
“
Lũy
thừa ,nhân và chia hai lũy thừa cùng cơ số” cho học sinh lớp 6A3, 6A4, 6A5 trong
dạy học môn Số học lớp 6 khi thực hiện giải toán.
* Phương pháp : - Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên và học sinh.
- Tham khảo tài liệu ở các sách, báo.
- Kiểm tra quá trình thực hiện : Đối chiếu kết quả, so sánh.
IV. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Rèn kĩ năng thực hiện phép tính về lũy thừa trong dạy môn Số học 6 từ cơ
bản đến nâng cao bằng cách tiếp cận, phát hiện và lĩnh hội kiến thức một chủ động.,
sáng tạo và tích cực.
V. Hiệu quả áp dụng:
lên lớp nhằm kích thích sự suy nghĩ của học sinh cần có phương pháp hướng dẫn
học sinh biết cách khai thác các kiến thức liên quan trong bài tập để phát huy cao
hứng thú học tập của học sinh trong hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức, mỗi giáo viên
trong giờ lên lớp cần kích thích sự suy nghĩ của học sinh.
- Bởi vậy, quá trình giảng dạy môn Toán, để có được các phương pháp rèn luyện
kỹ năng cho học sinh ở một dạng toán nào đó trong chương trình đang học, qua đó
học sinh có thể nắm kiến thức và vận dụng vào giải bài tập thật tốt, đó là việc mà
mỗi giáo viên tâm đắc và nó được tích luỹ kinh nghiệm trong suốt quá trình lên lớp.
Việc rèn kỹ năng giải toán về lũy thừa và cũng nhằm trang bị cho các em có kiến
thức thật tốt, thật vững vàng trong việc chuẩn bị bước vào bậc Trung học phổ
thông.
-Từ đó để nâng cao chất lượng bộ môn, học sinh hứng thú học tập hơn tạo điều
kiện tư duy học sinh phát triển.
- Phụ thuộc vào chất lượng hệ thống câu hỏi, bài tập mà giáo viên sử dụng khi
hướng dẫn học sinh tiếp cận phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức giúp học sinh động
não, tích cực tham gia vào quá trình học tập, từ đó học sinh hứng thú học tập hơn.
- Chính từ những lý do trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài : “Rèn kĩ năng
thực hiện các phép tính về lũy thừa trong dạy toán Số học 6”. Trường Trung học cơ
sở Bàu Năng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng với mục tiêu giáo
dục của Ngành đề ra.
2. Mục đích nghiên cứu:
3
- Nghiên cứu cách hướng dẫn khai thác kiến thức bài học từ bài
“
Lũy thừa, nhân
và chia hai lũy thừa cùng cơ số” trong dạy học môn Số học lớp 6 khi thực hiện giải
toán.giúp các em tích cực chủ động tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội kiến thức nhanh
hơn, nhớ lâu hơn kiến thức đã học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu rèn kĩ năng giải toán về
1 Cơ sở lý luận :
1.1Các văn bản chỉ đạo của cấp trên :
- Nghị quyết số 40/2000/QH X ngày 9/12/2000 của Quốc Hội khóa X về đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông là:“ Xây dựng nội dung chương trình, phương
pháp giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
phục vụ cho công nghiệp hóa- hiện đại hóa nước, phù hợp thực tiễn và truyền thống
Việt nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực
và trên thế giới.”
- Công văn số 720/GDTrH tháng 08/2004 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đưa ra các
yêu cầu về phương pháp dạy học của bộ môn, cụ thể:
+ Giáo viên cần thể hiện rõ vai trò là người tổ chức, điều khiển cho học sinh
hoạt động một cách chủ động, sáng tạo.
+ Giáo viên chú ý định lượng tổ chức hoạt động học tập, giúp học sinh tự lực
khám phá những kiến thức mới, tạo điều kiện cho học sinh không những lĩnh hội
được nội dung kiến thức mà còn nắm được phương pháp đi đến kiến thức đó.
- Nghị quyết TW 2- khoá VIII (12-1996) khẳng định : “Phải đổi mới phương
pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy, sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm thời gian tự học, tự nghiên
cứu cho học sinh”.
- Luật Giáo dục 2005, điều 28.2 đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Với tình hình tiến độ phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay thì giáo
dục là quốc sách hàng đầu và đào tạo con người luôn đảm nhận vai trò hết sức quan
6
trọng trong việc “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” mà Đảng,
tính toán nhanh trong môn Toán, bên cạnh việc giúp học sinh hoạt động lĩnh hội
các kiến thức về lý thuyết, một trong những mục tiêu đặt ra là phải rèn luyện kỹ
năng cho học sinh đối với việc vận dụng kiến thức để giải mỗi loại Toán trong
chương trình của từng khối lớp, và nó cũng chiếm một thời lượng cần thiết trong
mỗi tiết học.
- Việc rèn kỹ năng giải toán nói chung là giúp học sinh từ chổ biết cách giải được
một bài toán đơn giản đến giải thành thạo một bài toán là rất khó. Đối với giải toán
cũng vậy, là quá trình hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học từ chổ nhận
biết cách giải và giải thành thạo tính nhanh một số dạng toán đặc biệt trong chương
trình Toán lớp 6.
- Để rèn kỹ năng giải toán về
“
Lũy thừa” cho học sinh, trước hết học sinh phải
được cung cấp và nắm vững những kiến thức cơ bản về lũy thừa và công thức tổng
quát cũng như các bước thực hiện phép tính, trình bày hoàn chỉnh bài toán như thế
nào?. Trước hết cần nắm vài khái niệm cơ bản về lũy thừa đã học. Các bài tập ở
sách giáo khoa nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức mới.
- Qua các lần tổng kết rút kinh nghiệm, các đối tượng học sinh hoạt động vẫn
chưa đều, chưa thu hút lượng học sinh trung bình yếu tham gia tích cực hơn, một số
học sinh chưa biết cách khai thác kiến thức nên tiết học vẫn còn nhiều học sinh thụ
động, dẫn đến hiệu quả chất lượng thấp. Thực tế giảng dạy và dự giờ các đồng
nghiệp, việc hướng dẫn rèn học sinh giải toán bài tập ở sách giáo khoa ở các trường
Trung học cơ sở Bàu Năng, bản thân tôi nhận thấy những vấn đề sau:
- Đối với học sinh :
+ Một bộ phận học sinh trung bình, yếu chưa mạnh dạn phát biểu, chưa chủ
động trong quá trình giải toán cũng như vận dụng kiến thức vào giải toán.
+ Tình trạng chung hiện nay là học sinh chưa chủ động trong tìm hiểu kiến thức
mới từ sách giáo khoa.
8
+ Không biết cách áp dụng lý thuyết sách giáo khoa theo hướng phát hiện và
giáo dục nói chung, chất lượng môn Toán nói riêng.
3. Nội dung vấn đề :
3.1. Vấn đề đặt ra đối với việc hướng dẫn nhớ lại kiến thức liên quan đến bài
tập môn Số học 6 (phần Lũy thừa ):
- Hướng dẫn khai thác kiến thức của bài tập ở sách giáo khoa phải được kết hợp
các hoạt động dạy học toán một cách hợp lý, theo con đường tìm hiểu, khám phá
phát hiện và lĩnh hội kiến thức.
- Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua hướng dẫn khai thác các bài tập
sách giáo khoa là bài tập dẫn để củng cố kiến thức mới nhanh chóng và học sinh dể
hiểu hơn:
+ Rèn kĩ năng tính toán , kết hợp hệ thống câu hỏi trong hướng dẫn học sinh
khai thác kiến thức
+ Học sinh có thói quen biết vận dụng các định nghĩa, quy tắc, phương pháp
giải Toán và tìm lời giải bài toán thích hợp
+ Phát huy khả năng suy luận vận dụng các hoạt động trí tuệ, thực nghiệm, dự
đoán, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và tương tự hóa,…
+Cần khắc phục sai lầm trong quá trình thực hiện.
- Nắm rõ các cấp độ phát triển tư duy của học sinh.
- Vận dụng, phối hợp tốt các phương pháp đặc trưng bộ môn để uốn nắn các em.
a) Vai trò của giáo viên:
- Tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh có thể tiếp cận thông tin và xử lý
thông tin để tìm ra kiến thức mới thông qua hoạt động cá nhân hoặc nhóm.
- Cẩn hệ thống câu hỏi có tác động kích thích tư duy độc lập chủ động và tích
cực, kích thích lòng ham học hỏi, tạo sự say mê chiếm lĩnh tri thức, tạo điều kiện
10
cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động và bộc lộ
khả năng tự nhận thức của mình.
-Hoạt động của giáo viên bao gồm:
+Sử dụng câu hỏi hợp lý nhằm tạo tình huống có vấn đề cho học sinh hoạt động
tiếp cận thông tin kiến thức
- Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin, bình xét, nhận định, xác
định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp.
-Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin, khai thác, bổ
sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.
Tuy nhiên trong chương trình Giáo dục phổ thông, chủ yếu đề cặp đến các cấp
độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng đối với học sinh đại trà, các cấp độ còn lại chú
trọng phát huy năng khiếu, năng lực sáng tạo đối với bồi dưỡng học sinh giỏi.
3.2.2 Các biện pháp tương thích thực hiện quy trình hướng dẫn học sinh
khai thác kiến thức giải toán :
a) Tác động đến nhận thức của học sinh khi tiếp cận và phát hiện vấn đề:
- Thể hiện cấp độ nhận biết nên sự kết hợp giữa bài tập và hệ thống câu hỏi gợi
mở nhằm tái hiện kiến thức về quy tắc, định nghĩa, thuật toán,… chuẩn bị cho việc
phát hiện kiến thức mới.
Quy trình thực hiện:
Cho học sinh tiếp cận, phát hiện kiến thức mới, giáo viên chọn giải bài tập vào
lúc mở đầu các bài tập có sự liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức mới, để học
sinh chủ động tìm ra kiến thức. Biết kết hợp hợp lý với hệ thống câu hỏi, tạo ra tình
huống làm xuất hiện nội dung bài học.
Ví dụ 1: Khi hình thành khái niệm “Lũy thừa vói số mũ tư nhiên ”
a.a.a.a = ?
Giáo viên giới thiệu a.a.a.a = a
4
12
a
4
đọc là : a lũy thừa 4 ( hay lũy thừa bậc 4 của a)
Trong đó: a là cơ số , n là số mũ
Giáo viên hỏi tiếp:
Ở đây học sinh tích cực tìm ra kiến thức bằng cách nhận biết
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Lũy thừa , nhân hai lũy thừa cùng cơ số”
Để giúp học sinh dễ dàng phát hiện và nhớ nội dung công thức làm
?3 sgk/Tr27.
a/ x
5
.x
4
= x
5+4
= x
9
b/ a
4
.a
= a
4+1
=a
5
BT63/SGK : Điền dấu X thích hợp vào ô trống trong bảng sau:
Câu Đúng Sai
a/ 2
3
.2
2
=2
6
x
b/2
;100=10
2
HS nghĩ và sẽ tái hiện lại những phép biến đổi đã học để làm.
Từ đó học sinh đã hình thành cho mình nội dung bài sẽ học và xem như bài học đã
giải quyết một cách nhẹ nhàng.
Ví dụ 4: Bằng cách thực hiện như các ví dụ trên, khi dạy bài: “Lũy thừa,
nhân hai lũy thừa cùng cơ số”
Viết gọn tích sau bằng cách dùng lũy thừa.
VD : BT 56/SGK b,d : Viết gọn tích sau bằng cách dùng lũy thừa
b/6.6.6.3.2 =6.6.6.6 =6
4
d /100.10.10.10 =10.10.10.10.10 =10
5
hay 100.10.10.10 = 10
2
.10
3
= 10
5
Bằng kiến thức đã học cho học sinh so sánh giá trị của lũy thừa với tích cơ số và số
mũ
* So sánh: a/ 2
3
với 2 . 3 ; b/ 2
5
với 2 . 5
Học sinh làm:
a/ 2
3
= 8 ; 2 . 3=6
6
: 4
3
Cách 1 : a/2
10
:2
8
=1024:256 =4
b/4
6
: 4
3
=4094 :64 =64
Cách 2 : /2
10
:2
8
= 2
10-8
= 2
2
= 4
b/4
6
: 4
3
=4
6-3
= 4
là cơ số thì
HS tính ( 2
3
)
2
= 8
2
= 64
Từ đó giáo viên hướng dẫn thêm cách tính khác (a
m
)
n
=a
m . n
Gọi học sinh tính cách khác
( 2
3
)
2
=2
3. 2
=2
6
=64
15
c) Tác động đến nhận thức của học sinh khi vận dụng kiến thức:
- Khái quát hoá, đặc biệt hoá, tương tự hoá để có được kiến thức ….
- Toán học hoá các tình huống thực tiễn.
- Phát triển tư duy trên cơ sở kiến thức đã nhận thức được.
Ví dụ7: Bằng cách nêu vấn đề kích thích suy nghĩ của học sinh, giáo viên có thể
= (-2). (-2). (-2) = -8
c/ (-2)
4
. (-2)
3
= (-2)
4+3
=(-2)
7
d/(-2)
4
: (-2)
3
= (-2)
4-3
=(-2)
1
= -2
e/((-2)
3
)
2
= (-8)
2
=64 hay ((-2)
3
)
2
=(-2)
3.2
= 4 . 4 . 4 = 64
d/ x
2
= 16 thì x = 8
e/ x
3
= 8 thì x = 2
g/ x
2
. x
3
= x
6
h/ x
5
. x
3
= x
8
i/ 2
3
. 2
2
= 4
6
Đáp án gợi ý
Nội dung Đúng Sai Sửa lại (nếu sai)
a/ 3
2
= 3 . 2 x 3
= a
5
17
h/ a
5
. a
3
= a
8
x
i/ 2
3
. 2
2
= 4
6
x 2
3
. 2
2
= 2
5
- Những điểm nhầm lẫn học sinh hay mắc phải ở đây là khi tính giá trị lũy thừa ,
các em thường lấy cơ số nhân với số mũ , chẳng hạn: 3
2
= 3 . 2 = 6; 4
3
= 12 hoặc
khi nhân hai lũy thừa cùng cơ số các em thường giữ nguyên cơ số ,rồi nhân hai số
6A3 38 33 86,4 %
6A4 39 34 87,2 %
6A5 37 32 86,5 %
18
- Như vậy, sau khi nghiên cứu và áp dụng đề tài, cũng với nội dung kiểm tra
như trên nhưng kết quả đạt được là khả quan hơn. So sánh giữa hai cách làm trên,
tôi thấy có nhiều ưu điểm hơn.
4. Kết quả của đề tài
d Đối với giáo viên
- Giáo viên đã giúp học sinh tìm ra kiến thức toán học nắm vững hơn. Như vậy
giáo viên đã thành công được một bước:
- Củng cố được nhiều kiến thức cho học sinh : các phép biến đổi toán học liên
quan đến bài học
- Tổ chức được tình huống học tập giúp học sinh nghiên cứu kiến thức rất cần
thiết.
- Hướng dẫn giải quyết vấn đề bằng cách đặt câu hỏi .
- Khẳng định được kiến thức mới trong vốn tri thức của học sinh bằng hệ thống
hoá các.
- Từ khi thực hiện đề tài tôi nhận thấy chất lượng học sinh có nhiều tiến bộ các em
ham thích học tập môn tóan biết suy luận giải các bài tâp từ đơn giản đến phức tạp
theo sự hương dẫn của giáo viên để tìm ra được kiến thức mới.
d Đối với học sinh
- Học sinh nắm được kiến thức phổ thông, cơ bản về định nghĩa lũy thừa, nhân hai
lũy thừa cùng cơ số biết so sánh hai lũy thừa cùng cơ số và khác cơ số, đặc biệt là
hạn chế sự nhầm lẫn trong tính toán .
- Có kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học vào giải toán, tăng cường thực hành
trong giờ học giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nhiều hơn (Phần củng cố từng phần
và củng cố toàn bài.
- Bước đầu phát triển năng lực trí tuệ , suy luận, phân tích, tổng hợp, sử dụng
ngôn ngữ, ký hiệu toán học, năng lực hoạt động.Biết sử dụng công nghệ thông tin
học khác, hy vọng rằng trong mỗi giáo viên chúng ta ai cũng tự ý thức vươn lên,
cùng tìm tòi, sáng tạo khám phá không ngừng để ngày càng có nhiều bài học sinh
động hơn cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần vào
21
công cuộc chung góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển toàn diện ở
học sinh.
b/ Hướng phổ biến áp dụng của đề tài
- Định hướng cho học sinh khá giỏi phát triển tư duy khi giải bài tập khó. Đối
với học sinh yếu kém tập bồi dưỡng thêm để giải một số bài tập tương tự, giúp các
em khắc sâu kiến thức đã học và nắm được phương pháp giải.
X Đề tài “ Rèn kĩ năng thực hiện phép tính về lũy thừa được áp dụng cho lớp
6A3, 6A4, 6A5 trường THCS Bàu Năng.
c/Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:
- Tuy nhiên, còn một số học sinh yếu kém thực hiện phép tính còn sai sót. Làm
thế nào để giảm học sinh yếu, kém bộ môn Toán?. Đó là điều tôi đã, đang nghiên
cứu và sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
- Định hướng cho học sinh khá, giỏi phát triển tư duy khi giải các bài tập khó, học
sinh yếu chán học
*Trên đây là kinh nghiệm mà bản thân tôi đã áp dụng và bước đầu đã được kết
quả như trên ,chắc chắc sẽ có nhiều thiếu sót. Vì vậy rất mong sự góp ý kiến của
đồng nghiệp, BGH , Hội đồng khoa học các cấp góp ý để đề tài được hoàn thiện
hơn.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách bài tập toán 6 tác giả: Tôn Thuận (Chủ biên ), Vũ Hữu Bình, Trần Đình
Châu, Trần Kiều. Nhà xuất bản 2002
2. Sách soạn toán 6. Tác giả Hoàng Ngọc Diệp - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội 2002.
3. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, PGS – PTS Trần Kiều. Viện
Khoa học 1997.