chính sách tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi - Pdf 24

MỤC LỤC
3.1. Đặc điểm ở Việt Nam 10
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do nghiên cứu đề tài
Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại vào năm 2020; muốn vậy trước hết nông nghiệp và nông thôn phải phát triển lên
một trình độ mới bằng việc đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được
trên một đơn vị diện tích, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; phát triển công
nghiệp, dịch vụ, các làng nghề ở nông thôn, tạo nhiều việc làm mới.
Để đáp ứng những mục tiêu đó Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư rất
nhiều tiền của, công sức để xây dựng hệ thống các công trình thuỷ lợi nhằm phục vụ
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên hiện nay, những công trình
thuỷ lợi này mới chỉ khai thác khoảng 50-60% công suất thiết kế. Để nâng cao hiệu
quả khai thác các công trình, vấn đè quan trọng và cấp thiết đặt ra là phải tổ chức
quản lý và sử dụng công tác thuỷ nông. Mặt khác, công tác thuỷ lợi phục vụ sản
xuất nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đang đứng trước những thời
cơ và thách thức mới. Đó là việc đảm bảo nước để ổn định khoảng 4 triệu ha đất có
điều kiện sản xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực với sản lượng lương thực có hạt
khoảng 40 triệu tấn vào năm 2010; có các giải pháp thuỷ lợi hiệu quả phục vụ cho 3
triệu ha cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, khoảng 1,2 triệu ha cây công
nghiệp hàng năm; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các
làng nghề nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn; xây dựng các hệ
thống cung cấp nước để làm muối chất lượng cao và nuôi trồng thuỷ, hải sản với qui
mô lớn; xử lý nước thải từ các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, từ các làng nghề,
từ các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch vụ ở nông thôn. Trong những thập niên vừa
qua, thuỷ lợi là yếu tố chiếm hơn một nửa chi tiêu nông nghiệp và đóng góp chủ
yếu vào tăng trưởng nhanh chóng của xuất khẩu và việc làm trong nông nghiệp.
Với các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chính sách tổ
chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi”. Từ thực tiễn ở Việt Nam và các
nước trong khu vực về tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi. Bài viết đã

Số liệu sử dụng chủ yếu trong chủ đề nghiên cứu là tài liệu thứ cấp hầu hết
các tài liệu được thu thập qua sách, báo, internet.
Chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ về chíên lược phát triển thuỷ lợi.
Các lý luận từ sách giáo khoa, sách chuyên khảo.
Các thông tin trên báo và tạp trí liên quan, internet…
Các nghiên cứu trước.
1.4.2 Phương pháp phân tích
1.4.2.1 Phương pháp phân tích kinh tế
Dùng để đánh giá hiện tượng trong mối quan hệ tổng hoà với mối quan hệ khác.
1.4.2.2 Phương pháp so sánh
So sánh mức độ tham gia của cộng đồng vào các tuyến kênh để thấy được
vai trò của sự tham đó trong quản lý công trình thuỷ lợi.
So sánh mức đầu tư cho thuỷ lợi giữa các năm, thấy được sự thay đổi về
mức đầu tư cho thuỷ lợi làm thay đổi kinh tế nông nghiệp theo chiều hướng nào?
1.4.2.3 Phương pháp phân tích thống kê
Dựa trên các số liệu đã được phân tổ chia tách trong bảng và xem những
thông số đó nói lên điều gì?
1.4.2.4 Phương pháp phân tích chính sách
Dựa trên những mô hình chính sách phân tích thặng dư người sản xuất và
tiêu dùng.
4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Chính sách
Chính sách được hiểu là phương cách, đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt
hành động trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực.
Chính sách là tập hợp các quyết sách của Nhà nước nhằm điều khiển nền
kinh tế nhằm hướng tới những mục tiêu nhất định, từng bước tháo gỡ những khó
khăn trong thực tiễn, bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế thông qua các quy định
trong các văn bản chính sách của Chính phủ.

và sử dụng cần thiết lập một bộ máy quản lý để khai thác tốt nhất hiệu ích của hệ
thống công trình, phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sự phát triển
dân sinh, kinh tế, xã hội.
5
2.1.6 Hệ thống văn bản pháp lý về tổ chức quản lý và sử dụng nguồn nước của
Đảng và Chính phủ.
a. Các văn bản đã ban hành
Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp lý rất quan trọng cho quản lý tài
nguyên nước, quản lý thủy lợi là: Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ 1/1/1999;
Nghị định chính phủ quy định về việc thi hành Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ
15/1/2000: Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi có hiệu lực từ
1/7/2001; Pháp lệnh đê điều có hiệu lực từ 1/1/2001; Các quyết định của Thủ tướng
chính phủ thành lập Hội Đồng về Tài nguyên nước 15/6/2000, ban hành Quy chế tổ
chức và hoạt động của Hội Đồng Quốc gia Tài nguyên nước (28/6/2001).
Một số quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT như thành lập
Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Cửu Long; Ban quản ly quy hoạch lưu vực
sông Đồng Nai, vận hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban quản lý quy hoạch
lưu vực sông, Nghị định về giá nước và thủy lợi phí.
b. Các văn bản đang được xây dựng
Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh khai thác-bảo vệ công trình thủy
lợi; Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên nước; Quy định về thủ
tục cấp phép về khai thác sử dụng tài nguyên nước (nước mặt, nước ngầm) và xả
nước thải vào nguồn nước
c. Tổ chức quản lý nguồn nước
Công tác quản lý nước trước đây do Viện Quy hoạch và Quản lý nước-Bộ
Thủy lợi và các sở Thủy lợi đảm nhiệm, từ năm 1995-2003 do Cục quản lý nước và
công trình thủy lợi (nay là Cục Thủy lợi)-Bộ Nông nghiệp và PTNT đảm nhiệm.
Đồng thời còn có Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước, Ủy ban sông Mê kông
Việt Nam (từ 1978), Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng tham gia vào hoạt
động quản lý tài nguyên nước.

xây dựng).
Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất
định theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu
nước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của nhà nước, tập thể hay cá
nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng nước.
Hệ thống công trình thuỷ lợi nằm rải rác ngoài trời, trải trên diện rộng, có khi
qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động trực tiếp
của con người (người dân).
Hiệu qủa của công trình thủy lợi hết sức lớn và đa dạng, có loại có thể xác
định được bằng tiền hoặc bằng khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không thể
xác định được.
2.2.2 Đặc điểm của tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
Với tính đặc thù của công tác thuỷ lợi mà nó có nhiều đặc điểm khác biệt so
với các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác như sản phẩm của các công rình thuỷ lợi
cung cấp một loại sản phâmả manh tính độc quyền tự nhiên; đơn vị đo sản phẩm là
diện tích tưới tiêu nên số lượng và chất lượng sản phẩm rất khó xác định, hao phí
lao động sống, lao động vật hoá để hình thành giá trị và chất lượng sản phẩm rất
khác nhau theo vùng, theo khu vực và điều kiện tự nhiên. Sự trao đổi sản phẩm dịch
vụ trên thị trường lại bị giới hạn bởi tính hệ thống, sản phẩm không thể vận chuyển
đi xa để bán hay tích trữ. Giá cả của sản phẩm dịch vụ tưới tiêu không được quyết
định bởi cung cầu cảu thị trường, không căn cứ vào hao phí lao động sống và lao
động vật hoá. Quan hệ giữa người mua và người bán bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố
mang tính chính trị - xã hội. Quan hệ cung cầu và giá cả ở đây không phản ánh
đúng được bản chất và vận động của các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị
trường, người nông dân (người mua) không có quyền lựa chọn sản phẩm, người bán
cũng không có quyền lựa chọn người mua.
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tổ chức quản lý và sử dụng công trình
thủy lợi
Chính sách của chính phủ và nguồn ngân sách: Đây là một nhân tố vô cùng
quan trọng, chính sách thủy lợi là một chính sách dài hạn, việc ra chính sách phù

sở là cái dân cần thì chính sách đó mới có tính khả thi và đạt được hiệu quả khi đưa
vào thực tế.
Điều kiện tự nhiên: Các công trình thủy lợi chủ yếu được xây dựng ở ngoài
trời, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến chính
sách chính sách tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi như mưa bão, hạn
hán. Thiên tai làm hư hại đến chất lượng công trình dẫn tới giảm tuổi thọ công trình,
làm mất tác dụng của công trình thủy lợi.
8
2.5 Tác động của chính sách
Sơ đồ thể hiện sự tác động của chính sách
Chính sách tổ chức, quản lý và khai thác công trình thủy lợi có tác động rộng
đến nhiều đối tượng.
Trước hết nó có tác động rõ rệt và trực tiếp đến nền nông nghiệp bởi nước là
yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật
nuôi.
Tác động đến nền kinh tế, chính sách đưa ra nhằm mục đích làm tăng sản
lượng nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, nó có tác động đến cả nền kinh tế nói chung.
Tác động đến an sinh xã hội: chính sách đưa ra gián tiếp làm tăng thu nhập cho
người nông dân từ đó góp phần ổn định xã hội.
Tác động đến người sản xuất: người sản xuất ở đây chính là Nhà nước, người
tổ chức quản lý và thực hiện các công trình thủy lợi, chính sách đưa ra thành công
hay thất bại ảnh hưởng trực tiếp người sản xuất.
Tác động đến người tiêu dùng: người tiêu dùng ở đây chính là người sử dụng các
công trình thủy lợi, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các công trình, trong đó người nông
dân là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
An sinh
xã hội
Người
tiêu dùng

sản lượng lúa còn bấp bênh, nhất là vụ mùa ở miền Bắc và khu 4 cũ.
Nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng đưa vào khai
thác đã lâu, yêu cầu nguồn kinh phí lớn để kiên cố, nâng cấp sửa chữa.
Khả năng dự báo còn hạn chế, việc quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợi
đối phó kịp với biến động gay gắt của thời tiết là việc làm rất khó khăn, phức tạp.
Trong thực hiện khoán đến hộ nông dân, tổ chức và hoạt động của các tổ
chức hợp tác dùng nước còn lỏng lẻo, việc lấy nước, tháo nước trong hệ thống điều
hành khó khăn hơn.
Từ các lý do trên ta thấy, để phát triển công tác thủy lợi, thì đòi hỏi phải thực
hiện chính sách của Nhà nước một cách đúng đắn và phù hợp với công tác này.
3.2. Thực tiễn chính sách
3.2.1 Thực trạng hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi
Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước Theo Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ
công trình thủy lợi số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/4/2001 và các quy định
hiện hành khác, bộ máy quản lý Nhà nước đối về thuỷ lợi từ Trung ương đến địa
phương được tổ chức theo bộ máy hành chính nhà nước 4 cấp.
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công trình thuỷ lợi được mô tả ở sơ đồ sau:
10
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước
về quản lý khai thác công trình thủy lợi
Tuy vậy, bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
thiếu thống nhất, chức năng nhiệm vụ không nhất quán nên việc chỉ đạo điều hành
từ Trung ương xuống địa phương không thông suốt và thường gặp nhiều khó khăn.
Cơ quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở cấp tỉnh hiện
có 6 hình thức chủ yếu.
Bảng 2.1. Hình thức tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi ở cấp tỉnh
11
(Số liệu điều khảo sát của đề tài NCKH cấp Bộ do Trung tâm NC kinh tế-Viện
KHTL thực hiện năm 2006).

không phát huy được tính năng động sáng tạo của người quản lý và người lao động.
3.2.2 Đối với đầu tư phát triển công trình thủy lợi
Các công trình đề xuất trong các dự án phải mang tính tổng hợp phục vụ đa
ngành, đa mục tiêu.
Tổng vốn đầu tư cho phát triển toàn ngành nông nghiệp giai đoạn 2001-2005
là 108932,94 tỷ đồng, trong đó chỉ riêng thủy lợi là 21511,16 tỷ đồng, chiếm
19,75% tổng vốn đầu tư. Trong khi đó đầu tư cho Khoa học công nghệ là 0,44%,
đầu tư cho giáo dục đào tạo 0,34% Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của
thủy lợi đối với sản xuất và phát triển nông nghiệp.
Tổng hợp vốn đầu tư từng thời kỳ (mặt bằng giá năm 2000) như sau:
Thời kỳ Giá trị đầu tư
(tỷ đồng)
Trung bình
(tỷ đồng/năm)
1955-1975 5.631 281
1976-1985 10.848 1.085
1986-2000 24.292 1.620
13
Đồ thị vốn đầu tư từng thời kỳ
Bảng 2.4: Nguồn vốn đầu tư thủy lợi giai đoạn 2001-2006 trên cả nước.
ĐVT: tỷ đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng 3607,90 3570,25 3459,71 5500,10 5373,21 5649,25
(Nguồn: Bộ Kế hoạch-Đầu tư)
Có sự tăng lên này là do chủ trương của Chính phủ về việc phát hành trái
phiếu chính phủ để đầu tư phát triển một số công trình giao thông và thủy lợi.
14
Bảng 2.5: Hạng mục công trình thủy lợi lớn trên toàn quốc
STT Hạng mục công trình thủy lợi Số lượng
1 Hệ thống thủy lợi lớn 75

lương thực, nông dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, các xã thuộc diện xoá
đói giảm nghèo. Tuỳ theo tình hình cụ thể từng nơi mà có tỷ lệ miễn giảm thích
hợp. Phần hỗ trợ được cấp thẳng cho doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi
thông qua chính sách tài chính.
Trường hợp gặp những năm thiên tai mất mùa sẽ có xử lý riêng theo quy định.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách thủy lợi phí có nhiều bất cập, việc thu
chưa đủ chia vì vậy Nhà nước đã đưa ra Chính sách miễn thủy lợi phí.
Ảnh hưởng của miễn giảm thuỷ lợi phí tới cung của doanh nghiệp và ngành nông
nghiệp
Trong thời gian gần đây, một số địa phương đã miễn thuỷ lợi phí cho sản
xuất nông nghiệp. Bản chất kinh tế của vấn đề này là gì? Miễn thuỷ lợi phí sẽ có
những mặt tích cực gì trong kinh tế, xã hội cũng như môi trường. Để thấy được
điều đó chúng ta có thể dựa vào sự kết hợp phân tích đồ thị sau.
15
Khi thuỷ lợi phí được tính vào giá thành sản xuất của sản phẩm nông nghiệp,
lượng cung sản phẩm nông nghiệp của doanh nghiệp nông nghiệp điển hình là q và
mức giá là P, đồng thời lượng cung của ngành nông nghiệp là Q, điểm cân bằng
cung cầu của ngành nông nghiệp là E. Khi có miễn giảm thuỷ lợi phí, chi phí đầu
vào của các doanh nghiệp nông nghiệp giảm; vì vậy, lượng cung của các doanh
nghiệp nông nghiệp tăng lên, cũng chính vì vậy mà cung của ngành nông nghiệp sẽ
chuyển từ S sang S
s
, làm cho lượng cung của ngành nông nghiệp tăng từ Q tới Q
s
.
Giá các sản phẩm nông nghiệp sẽ giảm từ P xuống P
s
Điểm cân bằng mới tại F thay
cho điểm E trước khi miễn giảm thuỷ lợi phí.
Những mặt tích cực, hạn chế của miễn thuỷ lợi phí

S
MC
S
s
P
ATC
D
1
q
q
s
P
1
P
3
MC
ATC
E
F
Q Q
s
DN điển hình trước khi
miễn thuỷ lợi phí
Cung, cầu thị trường sau
khi miễn thuỷ lợi phí
P
P
s
DN điển hình sau khi
miễn thuỷ lợi phí

cách xử lý đầu ra khác nhau. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay thì chính sách thuỷ
lợi phí phải là một chính sách lớn có liên quan chặt chẽ đến đường lối, chiến lược
phát triển kinh tế, đặc biệt là đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn và vấn đề
nông dân.
3.3.3 Tác động đến người sản xuất và người tiêu dùng
Các thành viên của cộng đồng hưởng lợi liên hệ hợp tác với nhau thông qua sử
dụng sản phẩm của công trình thủy lợi – tài nguyên nước. Chính sách thủy lợi phí có
tác động rất lớn đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của người dân địa phương.
Những địa phương nông nghiệp là sản xuất chủ yếu thì công tác thủy lợi đóng vai trò
quan trọng. Trong những năm gần đây, thủy lợi phí góp phần giảm gánh nặng đáng
kể cho Ngân sách địa phương, huy động được sự đóng góp của người dân, tạo điều
kiện thực hiện xã hội hóa công tác thủy lợi ở địa phương. Chính sách thủy lợi phí góp
phần nâng cao ý thức của người dân trong việc khai thác và bảo vệ công trình thuỷ
lợi, nâng cao ý thức tiết kiệm sử dụng nước tiết kiệm và hợp lý.
17
3.4 Phân tích và nhận xét
Việc đổi mới cơ chế quản lý các công trình thủy lợi cho phù hợp với cơ chế
thị trường là vấn đề hết sức cấp bách của các cấp, các ngành, là giải pháp quan
trọng nhất để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi, nâng cao
chất lượng dịch vụ tưới tiêu cho người hưởng lợi, khai thác tốt nhất các tiềm năng
hiên có của công trình, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.Vì vậy cần có sự
tham gia của người dân vào công tác thuỷ lợi.
Khi đi sâu phân tích sự cần thiết của sự tham gia của cộng đồng vào quản lý,
sử dụng công trình thuỷ lợi cần làm tốt một số vấn đề sau:
Công trình thuỷ lợi phát huy tác dụng cho một hoặc một số cộng đồng,. Cộng
đồng đây được hiểu là cộng đồng dân cư nông thôn, cộng đồng làng xã. Đó là tập
hợp cư dân nông thôn gồm nhiều dòng tộc, sống chung trên một dải đất, có chung
phong tục tập quán và truyền thống văn hoá. Cộng đồng hưởng lợi công trình thuỷ
lợi là tập hợp các cư dân nnông thôn nằm trong vùng phục vụ của công trình, sử
dụng chung công trình thuỷ lợi đó.

18
công trình tốt hơn. Đồng thời tăng tính tự lập cho cộng đồng dân cư, không trông
chờ ỉ lại vào Nhà nước.
=> Mô hình đưa ra nhằm quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi đạt hiệu quả theo
cơ chế thị trường:
19
20
Mô hình sự tham gia của dân
21
IV. KẾT LUẬN
Thủy lợi có vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống. Riêng đối với nông
nghiệp, nông thôn, nông dân thì thủy lợi có ý nghĩa quyết định đối với năng suất, sản
lượng, giá thành của các sản phẩm nông nghiệp. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta
quan tâm tập trung chủ yếu cho xây dựng nâng cấp hệ thống cấp thoát nước, đê điều,
đập… trong đó chính sách tổ chức và thực hiện các công trình thủy lợi luôn được coi
trọng. Thủy lợi tuy không mang lại hiệu quả trực tiếp như ngành nông nghiệp hoặc các
ngành khác, nhưng lại có tác động rất lớn đối với ngành nông nghiệp và các ngành
khác. Tuy nhiên, hiện nay, các công trình thủy lợi đang bị xuống cấp nghiêm trọng do
việc quản lý và sử dụng còn nhiều bất cập. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn thì việc tập trung đầu tư cứng hóa kênh mương phục vụ
sản xuất nông nghiệp càng có vai trò đặc biệc quan trọng. Hiện nay, chúng ta đang hội
nhập mạnh với nền kinh tế thế giới, mở ra cho nông nghiệp nhiều cơ hội, cũng như
nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, việc đổi mới mô hình tổ chức quản lý và sử dụng
công trình thủy lợi càng trở nên cấp thiết và chính sách của Chính Phủ đưa ra trong
lĩnh vực này là hết sức cần thiết.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Niên giám thống kê 2006 – Nhà xuất bản thống kê, 2006.
2. Giáo trình Chính sách nông nghiệp, 2005, GS-TS. Phạm Vân Đình, Nhà
xuất bản Nông nghiệp, Hà nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status