MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
CHƯƠNG 1 4
MỞ ĐẦU 4
1.1. Đặt vấn đề 4
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4. Cấu trúc chuyên đề 5
CHƯƠNG 2 7
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Tuy Phước 7
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 7
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 9
2.1.4. Thực trạng về kinh tế 13
2.2. Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của huyện Tuy Phước, tỉnh Bình
Định 14
CHƯƠNG 3 16
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1. Nội dung nghiên cứu 16
3.1.1. Khái niệm kinh tế Hợp tác xã 16
3.1.2. Những đặc điểm của Hợp tác xã nông nghiệp 18
3.1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp 19
3.2. Vai trò Hợp tác xã nông nghiệp đối với hộ xã viên 21
3.3. Hiệu quả kinh tế và bản chất của hiệu quả kinh tế 22
3.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 22
3.3.2. Bản chất của hiệu quả kinh tế 22
3.4. Tình hình nghiên cứu Hợp tác xã nông nghệp trong nước và trên địa bàn nghiên cứu
23
4.4.4. Những giải pháp về thực hiện các chính sách đối với Hợp tác xã nông nghiệp. .38
CHƯƠNG 5 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1. Kết luận 40
5.2. Kiến nghị 41
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX: Hợp tác xã
HTX NN: Hợp tác xã nông nghiệp
LĐ: Lao động
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện (ngày 1/1/2011)
Bảng 2.2. Tình hình dân số, lao động của huyện qua 3 năm (2008 - 2010)
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng vốn cố định và vốn lưu động của HTX NN trong 3 năm
(2008- 2010)
Bảng 4.2. Tình hình thực hiện các dịch vụ sản xuất kinh doanh của các HTX NN
trong 3 năm (2008-2010)
Bảng 4.4. Trình độ của Ban quản trị HTX NN năm 2008-2010
Bảng 4.5. Kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ của HTX NN trong 3 năm 2008-2010
Bảng 4.6. Phân tích hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua chỉ tiêu tỷ
xuất lợi nhuận qua 3 năm (2008-2010)
Bảng 4.7. Thu nhập bình quân của các HTX NN ở hai vùng đồng bằng và vùng biển
qua 3 năm (2008 – 2010)
3
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khái quát thực trạng phát triển HTX NN trên địa bàn huyện Tuy
Phước
- Phân tích hiệu quả kinh tế của HTX NN ở đồng bằng và HTX NN miền biển
nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTX NN từ đó đề ra những định hướng
hợp lý để phát triển HTX NN một cách bền vững.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Không gian: khảo xác tổng thể 60 hộ là xã viên trong 6 HTX NN trên địa bàn
huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
- Thời gian: từ ngày 10/10/2011 đến 06/11/2011
1.4. Cấu trúc chuyên đề
5
Nội dung được chia thành 5 chương
Chương 1. Mở đầu
Trình bày lý do thực hiện chuyên đề, nêu khái quát về mục tiêu nghiên cứu,
phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, thời gian thực hiện chuyên đề.
Chương 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nêu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Tuy
Phước - Bình Định.
Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của chuyên đề, nêu
lên các phương pháp nghiên cứu, các công thức để tính toán và đánh giá kết quả -
hiệu quả kinh tế của HTX NN thông qua kết quả - hiệu quả của hoạt động sản xuất
của các hộ xã viên.
Chương 4. Kết quả và thảo luận
- Nêu lên thực trạng về sự phát triển của các HTX NN trên địa bàn huyện
- Trình bày kết quả nghiên cứu và những phân tích, đánh giá kết quả - hiệu
quả của HTX NN, và từ đó đề ra những định hướng hợp lý để phát triển HTX NN
một cách bền vững.
40’
đến 13
0
55’ độ vĩ Bắc. Huyện có vị trí tiếp giáp lân cận như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định;
- Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên;
- Phía Tây giáp huyện Vân Canh và An Nhơn, tỉnh Bình Định;
- Phía Đông giáp thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
2.1.1.2. Địa hình đất đai
Huyện Tuy Phước có địa hình vừa trung du vừa đồng bằng ven biển. Với độ
dốc phổ biến từ 1
0
- 4
0
, địa hình của huyện có chiều hướng thoải dần từ Tây sang
Đông; có hình thể phình to ở phía Bắc và thu hẹp dần ở phía Nam. Nhìn chung địa
bàn toàn huyện phần lớn diện tích tương đối bằng phẳng nên thuận tiện cho việc canh
tác lương thực cũng như giảm được kinh phí để xây dựng hệ thống thủy lợi, mang lại
hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
2.1.1.3. Thời tiết khí hậu - thời tiết
- Khí hậu của huyện trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nắng từ tháng 2 đến
tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Mùa mưa thường gây ra ngập
úng, mùa nắng khô hanh gây nhiều bất thuận cho phát triển nông nghiệp. Theo trung
tâm khí tượng thủy văn An Nhơn thì khí hậu của Tuy Phước như sau:
- Nhiệt độ không khí bình quân trong năm là 26
0
C.
- Nhiệt độ tối cao trong năm 37
0
- 38
đang sử dụng vào các mục đích chiếm gần 88% (19.153,65ha).
Theo số liệu điều tra quy hoạch sử dụng đất của Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Tuy Phước, hiện trạng sử dụng đất của huyện được thể hiện qua bảng
2.1
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện (ngày 1/1/2011)
TT Mục đích sử dụng đất Mã
Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích tự nhiên
21712,57 100
1
Đất nông nghiệp NNP 12458,50 57,38
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp SXN 9921,50 79,64
1.2
Đất lâm nghiệp LNP 1408,02 11,30
9
1.3
Đất nuôi trồng thủy sản NTS 1091,32 8,76
1.4
Đất làm muối LMU 26,58 0,21
1.5
Đất nông nghiệp khác NKH 11,08 0,09
2 Đất phi nông nghiệp PNN 6695,15 30,84
2.1
Đất ở OTC 759,75 11,35
2.2
Đất chuyên dùng CDG 2887,42 43,13
sử dụng; đất đồi núi chưa sử dụng là 1.603,02 ha, chiếm 62,64%; đất núi đá không có
rừng cây là: 250,39, chiếm 9,78%.
2.1.2.2. Tình hình dân số và nguồn lao động
10
* Theo số liệu thống kê năm 2009, toàn huyện có 186.881 người giảm 2,03%
so với năm 2008;
- Năm 2010 toàn huyện có 188.211 người:
Trong đó: dân số nông thôn: 161.456 người; dân số thành thị 26.755 người.
* Về lao động: Năm 2010 toàn huyện có 97.710 lao động:
Trong đó: lao động nông nghiệp 64.996 lao động; lao động phi nông nghiệp
32.714 lao động.
* Về số hộ: Năm 2010 toàn huyện có 44.812 hộ:
Trong đó: hộ nông nghiệp: 38.442 hộ; hộ phi nông nghiệp: 6.370 hộ.
* Về mật độ dân số: năm 2010, mật độ dân số là 867 người/km2
Tuy Phước với đặc thù là một huyện nông nghiệp, nên dân số của huyện tập
trung phần lớn ở nông thôn, năm 2010 dân số nông thôn chiếm 86% so với tổng dân
số của huyện. Lao động đang làm nông nghiệp, năm 2010 chiếm tỷ lệ 67% so với
tổng số lao động của huyện và tăng 1,16% so với năm 2009.
Nhìn chung, nguồn nhân lực của Huyện có sẵn nhưng chưa có tay nghề bậc
cao, phân bố không đồng đều trong các xã, thị trấn trong huyện nên phần nào cũng
chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của huyện. Tuy vậy, đây là tiềm lực, là vốn quý cho
phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm tới
Bảng 2.2. Tình hình dân số, lao động của huyện qua 3 năm (2008 - 2010)
TT Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Năm
2008
Năm
Từ năm 2008 đến nay, hệ thống giao thông của huyện được Tỉnh đầu tư và mở
rộng, trải nhựa lại các tuyến đường tỉnh lộ đi qua địa bàn huyện. Tuyến đường quốc
lộ 19, xuyên qua địa bàn huyện Tuy Phước, với chiều dài là 15 km. Đường quốc lộ
1A Bắc-Nam đi qua thị trấn Diêu Trì, thị trấn Tuy Phước và xã Phước Lộc, có chiều
dài 12 km. Ba tuyến đường tỉnh lộ 638, 639 và 640 chạy qua địa bàn huyện với chiều
dài 50 km, hầu hết đã được bê tông hóa. Tính đến đầu năm 2010 thì các xã, thị trấn
đã bê tông hóa đường liên xã liên thôn 177,9 km. Ngoài đường bộ, trên địa bàn còn
có đường sắt thống nhất Bắc-Nam đi qua dài 12km. Có tuyến đường biển từ các xã
Đông Bắc đi thành phố Quy Nhơn, rất thuận lợi cho việc giao lưu mua bán các sản
phẩm và nguồn lợi thủy sản.
Nhìn chung, giao thông trên địa bàn huyện rất thuận tiện cho việc đi lại của
người dân, cũng như phục vụ cho việc giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa. Vì vậy
nó đã góp phần rất lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của toàn huyện.
Giao thông cần phải thuận tiện hơn nữa cho nên trong những năm tới huyện cần phải
có kế hoạch phát triển giao thông cho các xã, thị trấn phục vụ cho nhu cầu đi lại của
người dân, nhất là 02 xã miền núi (Phước An và Phước Thành).
* Cấp thoát nước:
- Cấp nước: Trên địa bàn huyện hiện nay thị trấn Diêu Trì, xã Phước An, xã
Phước Sơn, xã Phước Lộc và xã Phước Quang đã có nguồn nước sạch, nhưng chỉ đáp
ứng được 75% nhu cầu sử dụng. Các xã, thị trấn còn lại chủ yếu dùng nước giếng
khoan hoặc giếng đào. Tuy nhiên có những xã nằm ở gần Đầm biển có sự xâm nhập
mặn nên xảy ra tình trạng thiếu nước sinh hoạt.
12
- Thoát nước: Hệ thống cấp, rãnh thoát nước chỉ mới xây dựng được ở thị trấn
Tuy Phước, thị trấn Diêu Trì, xã Phước Lộc nhưng chưa đảm bảo, cho nên khả năng
tiêu thoát nước còn kém nên mùa mưa còn tình trạng ứ đọng nước. Trong năm nay
huyện đã có chủ trương mở rộng, xây mới và nâng cấp hệ thống cấp, thoát nước trên
địa bàn huyện, nhất là ở hai thị trấn của huyện.
Hiện nay hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện cũng mới được xây dựng thêm và tu
+ Sản xuất nông nghiệp: Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2009 là 328,77
triệu đồng, tăng 23,07% so với năm 2008; năm 2010 là 338,49 triệu đồng, tăng
2,96% so với năm 2009. Giá trị sản xuất tăng ít là do nắng hạn kéo dài, thiếu nước
nên không gieo sạ được.
+ Sản xuất lâm nghiệp: Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2009 là 14,62 triệu
đồng, tăng 3,69% so với năm 2008; năm 2010 là 16,35 triệu đồng, tăng 11,83% so
với năm 2009. Giá trị này tăng là vì thực hiện dự án WB3 diện tích trồng rừng trên
địa bàn hai xã: Phước Thành và Phước An.
+ Sản xuất thủy sản: Giá trị sản xuất ngành thủy sản năm 2009 là 56,77 triệu
đồng, tăng 26,79% so với năm 2008; năm 2010 là 51,02 triệu đồng, giảm 10,13% so
với năm 2009, là vì sản lượng tôm nuôi trồng do dịch bệnh.
- Công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 là 186,31 triệu đồng,
tăng 3,14% so với năm 2008; năm 2010 là 258,49 triệu đồng tăng 38,74% so với năm
2009. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh là do số lượng và quy mô hoạt động
của các cơ sở sản xuất kinh doanh được đầu tư mở rộng. Bên cạnh đó, cụm công
nghiệp Phước An đã đi vào hoạt động nên đã thúc đẩy giá trị sản xuất địa phương
tăng nhanh.
2.2. Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của huyện Tuy Phước,
tỉnh Bình Định
Nhìn chung qua nghiên cứu sơ bộ tình hình cơ bản của huyện, tôi nhận thấy có
những thuận lợi và khó khăn như sau:
* Thuận lợi:
14
Tuy Phước là một có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu văn hóa và phát triển
kinh tế - xã hội. Tài nguyên thiên nhiên tương đối đa dạng vừa có đồng bằng, vừa có
Đầm biển và có cả miền núi nên việc phát triển kinh tế là hết sức thuận lợi. Hệ thống
giao thông đường bộ và đường sắt thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa, nguồn
nhân lực dồi dào.
Trong những năm qua, tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
Kinh tế hợp tác là phạm trù hẹp, phản ánh một phạm vi hợp tác trong lĩnh vực
kinh tế. Mô hình kinh tế hợp tác lúc ban đầu xuất hiện một cách sơ khai và tự phát
không chỉ ở nông thôn mà ở các thành thị, không chỉ ở trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp mà còn trong nhiều ngành sản xuất dịch vụ khác. Các thành viên khởi xướng
ra các mô hình hợp tác này thông thường là những chủ thể điều khiển kinh tế tài
chính có hạn nên thường bị thiệt thòi, chịu nhiều bất lợi trong sản xuất kinh doanh
trong cạnh tranh. Để có thể khắc phục các khó khăn duy trì công ăn việc làm cho
mình, những người cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh tại một khu vực địa bàn nhất
định đã tìm cách liên kết hợp tác với nhau trong từng tổ từng nhóm nhỏ, đó là tiền
thân của các tổ chức HTX sau này.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp,
hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành
viên với ưu thế sức mạnh tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất, kinh
doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi
thành viên.
* Kinh tế Hợp tác xã
Hợp tác xã là một hình thức của kinh tế hợp tác. Nó chính là cơ sở để
hình thành nên các loại hình kinh tế hợp tác khác như liên minh hợp tác xã,
hợp tác giữa hợp tác xã với doanh nghiệp hợp, tác xã với người lao động.
Khái niệm hợp tác xã được tổ chức liên minh hợp tác xã quốc tế khẳng định
nghĩa như sau: "Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện
liên hiệp lại để để đáp ứng các nhu cầu nguyện vọng chung của họ về kinh
tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân
chủ".
Theo luật hợp tác xã của nước ta đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ tư thông qua ngày 26 tháng 11
năm 2003 thì: "Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể gồm các cá nhân,
hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát
18
tuân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực
hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường.
Tiếp theo, HTX NN thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện,
dân chủ và cùng có lợi.
HTX NN là một tổ chức liên kết kinh tế đáp ứng đầy đủ cung cầu của
xã viên.Và đồng thời hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX NN tạo ra lợi
nhận chia lãi cho vốn góp của xã viên.Trong mỗi thôn, mỗi xã có thể cùng
tồn tại nhiều loại hình hợp tác xã có nội dung kinh doanh khác nhau có số
lượng xã viên không như nhau.
Đồng thời xã viên HTX NN phải tuân thủ theo Điều lệ, quy chế hoạt
động, được Đại hội thông qua về quyền hạn, nghĩa vụ và các quy định khác
HTX NN là cơ sở để nhận các sự hỗ trợ từ các chính sách của chính
phủ tạo sự phát triển kinh tế địa phương.
Đặc điểm trên cho thấy sự khác biệt của hợp tác xã sau khi đổi mới
với hợp tác xã trước đổi mới là nông hộ, trang trại xã viên vừa là đơn vị kinh
tế tự chủ trong hợp tác xã vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh
và hoạch toán độc lập. Do vậy quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên vừa là
quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh
có tư cách pháp nhân độc lập.
3.1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là những tư tưởng, quan điểm chủ
đạo mang tính xuất phát điểm và chỉ đạo xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động
của HTX, mỗi HTX phải xây dựng Điều lệ tổ chức và hoạt động của mình đề phải
tuân thủ những nguyên tắc HTX
Căn cứ vào các nguyên tắc do Lê-nin và Bác Hồ đề ra, tiếp thu kinh nghiệm
của phong trào HTX quốc tế, kế thừa và phát triển Luật HTX năm 1996, Điều 5 Luật
HTX năm 2003 quy định 4 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX như sau:
- Tự nguyện;
3.1.3.4. Hợp tác và phát triển cộng đồng
20
Với tính chất hợp tác đặc trưng của loại hình kinh tế HTX, đòi hỏi các xã viên
phải luôn phát huy tinh thần xây dựng tập thể, nêu cao ý thức hợp tác, đoàn kết,
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động của HTX, cũng như của từng xã
viên, cùng nhau chăm lo xây dựng và phát triển HTX, đồng thời phải có ý thức hợp
tác trong cộng đồng xã hội.
3.2. Vai trò Hợp tác xã nông nghiệp đối với hộ xã viên
Kinh tế HTX không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng
trưởng kinh tế mà là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm,
tăng nguồn thu nhập cho đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động, tạo sự ổn
định về chính trị xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc
gia.
HTX NN có vai trò quan trọng, nhất là các nước đang phát triển như nước ta
đang trong giai đoạn: “Bước đi đầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, hoạt động
của HTX NN có tác dụng to lớn tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông nghiệp
nông dân. Nhờ có hoạt động của HTX NN mà các yếu tố đầu vào và các khâu hoạt
động của dịch vụ sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời đầy đủ đảm bảo chất
lượng, các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ
nông dân được nâng lên.
Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
kinh tế hợp tác và HTX vẫn là chỗ dựa cho hộ sản xuất, người lao động riêng lẻ, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh
ngày càng gay gắt.
HTX là nơi thực hiện các khâu như thủy lợi, cung ứng giống, thuốc bảo vệ
thực vật…phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của hộ xã viên nhằm mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
HTX là hình thức tổ chức, mà thông qua đó có thể tiếp nhận có hiệu quả sự trợ
giúp của Nhà nước đối với kinh tế hộ và người lao động riêng lẻ; là mô hình thích
Từ khái niệm hiệu quả kinh tế có thể suy ra rằng nâng cao hiệu quả kinh tế có
nghĩa là: với một nguồn lực xác định phải sử dụng sao cho đạt được kết quả lớn nhất
có thể, hoặc giảm đến mức tối thiểu các chi phí phải bỏ ra để đạt được một kết quả
định trước.
22
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh của nông hộ thể hiện qua việc tận
dụng nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương. Tận dụng nguồn vốn và lao động của
gia đình nhằm đem lại thu nhập cao nhất trên đồng vốn đầu tư. Và tận dụng triệt để
nguồn dịch vụ và HTX NN cung cấp vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiệu quả
kinh tế trong sản xuất kinh doanh của nông hộ tăng lên, cuộc sống của người dân
được cải thiện thõa mãn nhu cầu vật chất, văn hoá xã hội của các thành viên trong gia
đình góp phần làm giàu địa phương và đất nước.
3.4. Tình hình nghiên cứu Hợp tác xã nông nghệp trong nước và trên địa bàn
nghiên cứu
3.4.1. Khái quát tình hình phát triển Hợp tác xã nông nghiệp ở Bình Định
Tỉnh Bình Định hiện có 287 HTX và Liên hiệp HTX với tổng vốn hoạt động
gần 800 tỷ đông, trong đó có hơn 300 tỷ đồng vốn lưu động và gần 133 tỷ đồng vốn
điều lệ.
Thời gian qua kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố và phát triển, ngành nghề
sản xuất kinh doanh dịch vụ ngày càng đa dạng hơn
HTX NN (bao gồm cả diêm nghiệp): toàn tỉnh có 188 HTX, tổng thể xã viên
527.107 người, tổng vốn hoạt động 340 tỷ đồng, vốn góp của xã viên là 88,3 tỷ đồng.
Các HTX NN tiếp tục đổi mới hình thức tổ chức, nội dung hoạt động và phương thức
quản lý theo HTX kiểu mới. Các HTX đã bước đầu khắc phục được tính hình thức,
chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Phần lớn các HTX đã phát
triển thêm các hoạt động dịch vụ mới ngoài các dịch vụ truyền thống để hỗ trợ kinh tế
hộ xã viên phát triển. Nội dung hình thức dịch vụ ngày một đa dạng và thiết thực hơn.
Có 148/188 HTX, chiếm 78,7% tổng số HTX sản xuất, dịch vụ nông nghiệp
như dịch vụ khuyến nông, làm đất, giống cây trồng, thủy nông, bảo vệ thực vật, phân
lợi nhuận khá, có lãi chia vốn góp xã viên, trích lập các quỹ để tái sản xuất. Đối với
HTX NN ít vốn hoặc vốn không đủ hoạt động thì dịch vụ trong năm doanh thu trừ chi
phí, lợi nhuận đạt không cao, nhưng đã làm được dịch vụ phục vụ kinh tế hộ như:
dịch vụ điện, thủy lợi vừa đủ trả lương, trích lập quỹ dự phòng.
24
- Hầu hết các HTX NN, trên cơ sở các văn bản Nhà nước. Nghị quyết Đại hội
xã viên đã tăng cường các biện pháp thu hồi nợ tồn đọng, lành mạnh tài chính, nợ
phải thu, phải trả đến nay đã có chuyển biến đáng kể.
3.5. Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp thống kê và phương pháp so sánh để tổng hợp số liệu, tài
liệu về tình hình kinh doanh dịch vụ của HTX và so sánh biến động của HTX qua 03
năm 2008 - 2010.
Dùng phương pháp phân tích kinh doanh để đánh giá kết quả hiệu quả sản
xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp.
Áp dụng phần mềm Excel, để xử lý và phân tích các số liệu, tính các chỉ số,
tính toán về lợi nhuận, thu nhập của nông hộ.
3.6. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
- Quy mô vốn: Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng chủ động về vốn của HTX NN
và mức độ đầu tư, quy mô đầu tư, khả năng đáp ứng các khâu dịch vụ cho hộ xã viên.
- Số lượng xã viên, lao động: Chỉ tiêu này phản ảnh tiềm lực con người và quy
mô sản xuất.
- Chất lượng cán bộ: Là chỉ tiêu quan trọng, phản ảnh trình độ chuyên môn, lý
luận thực tiễn, năng lực hoạt động của cán bộ HTX.
- Loại hình dịch vụ: Các chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất kinh doanh, quy mô
kinh doanh, vai trò của HTX NN đối với hộ nông dân, năng lực dịch vụ của HTX.
- Kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ: Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt
động các khâu dịch vụ của HTX. Ngoài ra còn sử dụng một số chỉ tiêu về doanh thu,
chi phí, lãi suất để phản ảnh quy mô lợi nhuận của đơn vị sản xuất có được trong
thời kỳ sản xuất.