Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống phân phối tại Hợp tác xã chế biến thức ăn gia súc Bình Minh - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Phân phối là một trong những khâu quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu sản phẩm của bạn có chất lượng tốt, giá cả hợp
lý, công tác truyền thông tốt nhưng tổ chức phân phối kém dẫn đến hàng hoá
không đến được với người tiêu dùng khi đó doanh nghiệp đã thất bại, mọi nỗ
lực ban đầu đến đây không có ý nghĩa. Do vậy phân phối thể hiện một vai trò
rất quan trọng trong những nỗ lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ dừng ở việc lựa chọn và thiết lập kênh
phân phối. Xây dựng hệ thống phân phối đòi hỏi việc quản lý và điều hành ở
một trình độ chuyên nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực kinh
doanh có tính cạnh tranh gay gắt như ngày nay. Thực tế những công ty lớn
hiện nay đều có thực hiện sử dụng mạng lưới kênh phân phối tuy nhiên hiệu
quả chưa cao: phần lớn các kênh phân phối đang ảnh hưởng tiêu cực từ các cơ
hội kinh doanh, các thành viên mạnh trong kênh thường áp đặt những điều họ
nghĩ gây ảnh hưởng đến các thành viên yếu hơn hay cả người tiêu dùng, một
số kênh quản lý theo kiểu chắp vá…Do vậy quản trị kênh phân phối cần phải
được xem xét như vấn đề mang tính chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu
cuối cùng của doanh nghiệp.
Từ thực tế kết hơp với kiến thức đã học tại trường đại học Tiền Giang,
chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống phân
phối tại Hợp tác xã chế biến thức ăn gia súc Bình Minh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
• Nhận biết những vấn đề chính liên quan đến việc phát triển kênh phân
phối và chiến lược kênh phân phối.
• Hiểu rõ các loại hình kênh phân phối được áp dụng trong thực tế.
• Xác định những tiêu chuẩn trong việc lựa chọn và quản lý kênh phân
phối giữa nhà máy với các đối tác.
• Xây dựng mối quan hệ giữa nhà máy với đối tác và có những biện pháp nhằm
thúc đẩy sự hợp tác của đối tác về công tác quản lý kênh phân phối.

phối tại công ty thức ăn gia súc Bình Minh.
Trang 2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Phân phối và vai trò của chiến lược phân phối.
1.1.1 Khái niệm chiến lược phân phối.
Theo Philip Kotler: “ Chiến lược phân phối là một tập hợp các nguyên
tắc nhờ đó một tổ chức hy vọng có thể đạt được các mục tiêu phân phối của
họ trong thị trường mục tiêu ”.
Theo tài liệu Marketing của Thạc sĩ Quách Thị Bửu Châu: “ Chiến lược
phân phối là hệ thống các quyết định nhằm chuyển đưa sản phẩm về mặt vật
chất cũng như về quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm từ nhà sản xuất
đến người tiêu dùng nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đây là hoạt động có nhiều
nội dung và công việc khác nhau có liên quan đến các chiến lược Marketing-
mix khi sản phẩm được sản xuất ra đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng
cuối cùng ”.
Hệ thống phân phối của doanh nghiệp bao gồm:
 Nhà sản xuất (hoặc nhập khẩu), người tiêu dùng.
 Các trung gian, các bán buôn, bán lẻ, đại lý.
 Hệ thống cơ sở vật chất như: nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận
tải, bốc xếp, đo lường…
 Bộ phận phục vụ khách hàng để thực hiện các dịch vụ bảo hành,
bảo trì…
1.1.2 Vai trò của chiến lược phân phối.
Philip Kottler cho rằng:
Những quyết định phân phối sẽ ảnh hưởng lớn đến các nổ lực của
Marketing.
Do các trung gian thực hiện chức năng phân phối nên kế hoạch
Maketing của công ty sẽ thay đổi khi lựa chọn những phương thức phân phối

trung gian tới người mua cuối cùng. Nằm giữa người sản xuất và người tiêu
dùng là các trung gian. Có nhiều loại trung gian tham gia vào kênh phân phối
Trang 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
và thực hiện các chức năng khác nhau. (Tài liệu Marketing của Thạc sĩ Quách
Thị Bửu Châu).
1.2.2 Chức năng các kênh phân phối.
1.2.2.1 Đối với nhà sản xuất.
Chức năng đầu tiên của kênh phân phối là giúp nhà sản xuất bao phủ
thị trường, hay nói một cách khác là đưa sản phẩm đến bất kỳ nơi đâu có nhu cầu.
Ngoài chức năng phân phối hàng hóa, kênh phân phối còn làm chiếc
cầu nối giữa người sản xuất ra sản phẩm và người sử dụng sản phẩm.
Kênh phân phối là một công cụ giúp nhà sản xuất nắm được thông tin
thị trường, hiểu nhu cầu của khách hàng, mục đích và cách mà khách hàng sử
dụng sản phẩm. Và không kém phần quan trọng là thông tin về đối thủ cạnh
tranh. Và tất nhiên đi kèm theo sản phẩm vật chất là dịch vụ. Nhiều nhà sản
xuất trông cậy vào kênh phân phối để cung cấp dịch vụ cho khách hàng như
hướng dẫn chọn và sử dụng sản phẩm, bảo hành, bảo trì …
1.2.2.2 Đối với khách hàng.
Đối với khách hàng kênh phân phối luôn đưa ra những sản phẩm cùng
với trọng lượng bao bì phù hợp khi khách hàng cần, là nơi trưng bày sản
phẩm thuận tiện cho khách hàng chọn lựa, người bán sản phẩm còn cung cấp
tài chính và tín dụng khi có yêu cầu.
Đối với nhiều ngành hàng, nơi phân phối còn thay mặt nhà sản xuất
cung cấp dịch vụ khách hàng, tư vấn hỗ trợ kỹ thuật v.v…
1.2.3 Các trung gian phân phối.
1.2.3.1 Tầm quan trọng của trung gian phân phối.
 Hỗ trợ nghiên cứu Marketing.
 Ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.
 Hỗ trợ các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp.

 Nhà đại lý: Là người không sở hữu hàng hóa được nhân
danh là nhà sản xuất, làm nhiệm vụ bán hàng cho nhà sản xuất và được hưởng
một khoảng hoa hồng.
Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
Đại lý là một trung gian rất cần thiết vì nó làm tăng thêm năng lực tiêu thụ
hàng hóa, thường là những cá nhân hay doanh nghiệp có vị trí kinh doanh thuận lợi
có năng lực bán hàng nhưng không có nhiều vốn để kinh doanh.
Đại lý có thể đại diện cho một hãng hay nhiều hãng khác nhau. Muốn
làm đại lý phải ký kết những văn bản thỏa thuận (hợp đồng đại lý), chính thức
về giá cả, hoa hồng, địa bàn hoạt động, thủ thục đặt hàng, vận chuyển hàng,
trách nhiệm bảo hành.
Nhà sản xuất còn dùng đại lý để thâm nhập vào thị trường mới, hay
những thị trường xa mà thâm nhập kém hiệu quả.
 Người môi giới: Là người không tham gia mua bán hàng hóa
mà chỉ làm nhiệm vụ cầu nối giữa người bán với người mua, không gánh chịu rủi ro
nào và được hưởng thù lao của bên sử dụng người môi giới.
Người môi giới là một trung gian rất cần thiết vì trên thị trường có rất nhiều
người bán và có rất nhiều người mua, giữa họ không có điều kiện để hiểu biết nhau.
Người môi giới cần làm cho quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng, làm cho người
tiêu dùng tin tưởng về sản phẩm của mình.
Dưới đây là sơ đồ thể hiện vai trò của các trung gian trong quá trình thực
hiện chức năng tiếp xúc:
Sơ đồ 1.1: Trung gian làm tăng hiệu quả tiếp xúc.
Số lần tiếp xúc 6
Số lần tiếp xúc 9
( Nguồn: Tài liệu Marketing – Th.S Quách Thị Bửu Châu ).
1.2.4 Cấu trúc các kênh.
Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng

càng nhiều cấp càng ít có khả năng kiểm soát.
1.2.4.2 Các kênh phân phối cho hàng hóa và dịch vụ công nghiệp.
Khác với các kênh phân phối hàng hóa tiêu dùng, các kênh phân phối
hàng hóa công nghiệp thường ngắn hơn và thường chỉ có một trung gian hoặc
không có vì những người sử dụng công nghiệp ít về số lượng, tập trung về
mặt địa lý và mua với lượng lớn. Kênh phân phối cho hàng hóa công nghiệp
cũng gồm 4 kênh: 1,2,3,4:
 Kênh 1: Là kênh trực tiếp, các công ty sử dụng kênh này duy trì
lực lượng bán của chính họ và chịu trách nhiệm về tất cả các chức năng của
kênh. Kiểu kênh này được sử dụng khi người mua được xác định rõ, các nổ
lực bán đòi hỏi đàm phán mạnh mẽ, sản phẩm có trị giá đơn vị cao và yêu cầu
trợ giúp và lắp đặt hướng dẫn sử dụng sẽ rút ngắn thời gian lưu thông hàng
hóa và tiết kiệm chi phí, tuy nhiên số lượng mua phải đủ lớn và quy cách
chủng loại hàng hóa không phức tạp lắm. Các kênh còn lại là kênh gián tiếp
với một số trung gian để tiếp cận với người mua công nghiệp.
 Kênh 2: Trong kênh này người phân phối công nghiệp thực hiện
nhiều chức năng kênh khác nhau bao gồm bán, lưu kho, phân phối và tín
dụng. Có khả năng phổ biến sản phẩm rất rộng rãi, và áp dụng cho nhiều loại
hàng hóa khác nhau, đặt biệt là hàng tiêu dùng. Ở nhiều khía cạnh nhà phân
phối công nghiệp giống nhà bán buôn trong kênh hàng tiêu dùng.
 Kênh 3: Giới thiệu thêm người trung gian thứ hai: Đại lý, hoạt
động như một lực lượng bán độc lập của nhà sản xuất và giới thiệu nhà sản
xuất cho các nhà sử dụng công nghiệp.
Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
 Kênh 4: Đây là kênh dài nhất bao gồm cả đại lý và nhà phân
phối, các đại lý sử dụng trong kênh này để tiếp xúc với các nhà phân phối
(người bán cho các nhà sử dụng công nghiệp).
Sơ đồ 1.3: Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng.
( Nguồn: Tài liệu Marketing – Th.S Quách Thị Bửu Châu ).

một sản phẩm từ người bán sang người mua.
Dòng vận động sản phẩm: Diễn tả việc chuyễn hàng hóa vật phẩm
thật sự trong không gian và thời gian từ địa điểm sản xuất tới địa điểm tiêu
dùng qua hệ thống tàng trữ và phương tiện vận tải.
Dòng thanh toán mô tả sự vận động của tiền tệ và các chứng từ thanh
toán ngược từ người tiêu dùng qua các trung gian và trở lại người sản xuất.
Dòng thông tin cho thấy giữa các thành viên trong kênh trao đổi
thông tin với nhau có thể là trao đổi giữa hai thành viên kế cận hoặc không kế
cận. Các thông tin trao đổi là khối lượng, chất lượng, giá bán và địa điểm giao
nhận thanh toán…
Dòng xúc tiến: Mô tả những hoạt động xúc tiến khuyếch trương hỗ
trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong kênh.
Ví dụ: Người sản xuất thực hiện cá hoạt động quảng cáo khuyến mãi,
tuyên truyền không những tạo uy tín cho doanh nghiệp mình mà còn tạo uy
tín cho cả người bán buôn và bàn lẻ. Các dòng chảy trong kênh cùng vận
động theo hướng xác định và cường độ khác nhau cho thấy mức độ phức tạp
của các kênh phân phối.
1.2.4.6 Các phương thức phân phối.
Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
Để đạt được sự bao phủ thị trường tốt xấu, công ty phải có quyết định
số lượng các trung gian ở mỗi mức độ phân phối. Có ba mức độ phân phối đó
là: phân phối rộng rãi, phân phối chọn lọc và phân phối duy nhất.
Phân phối rộng rãi: Các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và các nguyên
liệu thông thường vẫn dùng cách phân phối rộng rãi, nghĩa là tồn kho sản
phẩm của họ ở càng nhiều của hàng càng tốt. Những loại hàng này phải tiện
lợi cho việc lưu giữ. Ví dụ: thuốc lá, bánh kẹo.
Phân phối chọn lọc: Doanh nghiệp lựa chọn một số nơi nhất định để
tiêu thụ sản phẩm, mà không cần phân tán lực lượng ra nhiều điểm bán, nhằm
giành được thị trường cần thiết với sự kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm chi phí.

những mục tiêu ngắn hạn và giao dịch với những thành viên tiếp theo trong
kênh. Việc hợp tác để thực hiện những mục tiêu chung của cả kênh đôi khi có
nghĩa là từ bỏ những mục tiêu riêng. Các thành viên phụ thuộc lẫn nhau
nhưng vẫn hoạt động độc lập vì những mục đích ngắn hạn dẫn đến bất đồng
về vai trò và mục tiêu, lợi ích sinh ra những xung đột trong kênh.
Ví dụ: Xung đột giữa người bán buôn cùng một mặt hàng với nhau do
định giá khác nhau hoặc bán ngoài khu vực lãnh thổ đã phân chia. Xung đột
chiều dọc là những xung đột xẩy ra giữa các thành viên ở mức độ phân phối
khác nhau trong kênh.
1.3.3 Lựa chọn và quản trị kênh phân phối.
1.3.3.1 Lựa chọn kênh phân phối.
Vấn đề quan trọng đặt ra đối với doanh nghiệp là lựa chọn kênh phân
phối thích hợp cho sản phẩm của mình. Trong một số kênh phân phối phát
triển qua nhiều năm và trở thành kênh truyền thống. Nhưng không phải kênh
truyền thống nào cũng luôn hoạt động có hiệu quả. Trong nhiều trường hợp
vẫn lựa chọn những kênh phân phối mới có hiệu quả cao hơn. Đối với kênh
phân phối sản phẩm chưa có sẵn trên thị trường nên thực hiện lựa chọ kênh
phân phối tối ưu là: Những mục tiêu của kênh sẽ định rõ kênh phân phối vươn
tới thị trường nào và với mục tiêu nào? Những mục tiêu có thể là định mức
dịch vụ khách hàng, yêu cầu hoạt động của các trung gian. Các mục tiêu được
xác lập phụ thuộc vào mục tiêu của Marketing- Mix và mục tiêu chiến lược
tổng thể của công ty. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh phân phối.
 Đặc điểm người tiêu thụ.
Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
Bán nhiều sản phẩm để có doanh thu cao, thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng. Thu được nhiều lợi nhuận: Doanh nghiệp phải lựa chọn những
kênh và trung gian có phân phối mạnh để có chi phí lưu thông và góp phần
làm tăng lợi nhuận.
Chiếm lĩnh thị trường: Quá trình tiêu thụ cũng đồng thời là quá trình

những chức năng phân phối khác nhau như làm tổng đại lý, đại lý độc quyền
và đại lý bán lẻ.
Năng lực trung gian tùy thuộc vào nhiều yếu tố: khả năng tiêu thụ
sản phẩm, uy tín trên thị trường,trình độ của đội ngũ nhân viên,hệ thống cửa
hàng,vốn và khả năng thanh toán,vị trí kinh doanh…
 Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh.
Việc thiết kế kênh phân phối cũng chịu ảnh hưởng bởi các đường
dây bán lẻ của các nhà sản xuất khác.
 Căn cứ vào các quy định ràng buộc của pháp luật.
Nếu luật pháp không cho phép thiết kế kênh phân phối có xu hướng triệt
tiêu cạnh tranh và tạo thế độc quyền thì doanh nghiệp không được thực hiện.
1.3.3.2 Quản trị kênh phân phối.
Sau khi các kênh phân phối đã được thiết kế, vấn đề quan trọng là quản
trị và điều hành hoạt động. Việc quản lý tập trung vào các hoạt động lựa chọn
và khuyến khích các thành viên hoạt động, giải quyết những vấn đề về sản
phẩm, giá cả, xúc tiến và đánh giá hoạt động của họ qua thời gian.
1.3.3.2.1. Tuyển chọn thành viên của kênh.
Các nhà sản xuất xác định được các trung gian có những đặc điểm gì,
đánh giá các trung gian có kinh nghiệm trong nghề, khả năng chi trả, tính hợp
tác và uy tín. Tùy theo đối tượng mà các đặc điểm này thay đổi và khuyến
khích các thành viên hoạt động.
Nhà sản xuất tạo mối liên hệ chặt chẽ với các thành viên, kịp thời
khen thưởng động viên họ và tiến hành các hoạt động xúc tiến với các thành
viên như là những bạn hàng của nhà sản xuất.
1.3.2.2 Đánh giá hoạt động của các thành viên.
Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
Định kì hoặc đột xuất đánh giá hoạt động của các thành viên như mức
doanh số, hàng tồn kho, thời gian giao hàng, các dịch vụ mà họ cung cấp, xử
lý thất thoát hư hỏng…

nhận được từ nhà sản xuất.
• Xung đột theo chiều dọc: Là xung đột xảy ra giữa các cấp khác
nhau trong cùng một hệ thống kênh, đây là loại xung đột phổ biến trong kênh
Marketing.
1.3.2.4 Vai trò Marketing-mix trong hoạt động phân phối của nhà máy.
Markeing là chức năng quản lý nhà máy về mặt tổ chức và quản lý
toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của
người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa
hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút được lợi
nhuận dự kiến. Bản chất marketing là tìm kiếm và thoả mãn nhu cầu, khái
niệm nhấn mạnh đến việc đưa hàng hoá tới người tiêu dùng các hoạt động
trong quá trình kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận cho nhà máy.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự do cạnh tranh để đáp
ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Kinh tế thị trường càng phát
triển thì mức độ cạnh tranh càng cao. Cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy,
vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối với các doanh
nghiệp. Khi khách hàng trở thành người phán quyết cuối cùng đối với sự sống
còn của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò của
khách hàng. Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có được khi làm hài lòng, thoả
mãn nhu cầu khách hàng và khi đó marketing trở thành yếu tố then chốt để đi
đến thành công của doanh nghiệp.
Tóm lại, chức năng quản trị marketing đóng vai trò rất quan trọng và là
một trong bốn chức năng không thể thiếu trong các doanh nghiệp (chức năng
sản xuất, chức năng tài chính, quản trị nhân sự và chức năng marketing). Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý phát triển chức năng marketing nếu
muốn tồn tại và phát triển trên thị trường.
Trang 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH VÀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI HỢP TÁC XÃ CHẾ BIẾN

Hiện nay, Việt Nam cũng đã có một số nhà máy chế biến thức ăn có
quy mô lớn, dây chuyền hiện đại nhưng nhìn chung các công ty tư nhân, quốc
doanh trong nước vẫn còn yếu. Do đặc thù khách hàng của ngành thức ăn gia
súc nói chung và của nhà máy nói riêng, sản phẩm của ngành khác với những
ngành khác, sản phẩm sản xuất phục vụ đại đa số đối tượng là những người
chăn nuôi ở nông thôn với trình độ nhận thức của họ còn rất hạn chế về kiến
thức xã hội cũng như áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi. Tuy nhiên họ
lại dễ mất lòng tin vì thế khi xây dựng và đưa ra các chính sách về quản trị
kênh cần phải nghiên cứu kỹ vấn đề này.
2.1.2 Sự ra đời và phát triển của Hợp tác xã chế biến thức ăn gia súc
Bình Minh.
2.1.2.1 Khái quát về Nhà máy.
Hợp tác xã chế biến thức ăn Bình Minh thành lập tháng 11/1997, hoạt
động theo luật Hợp tác xã, tiền thân là cơ sở sản xuất hoạt động theo nghị
định 60/CP, được Uỷ Ban Thành Phố Mỹ Tho cấp phép thành lập đều lệ ngày
04/09/1997 và giấy phép đăng kí kinh doanh lần I, ngày 03/11/1997 với quy
mô như sau:
Tổng vốn góp Hợp tác xã là 1.370.420.000 đồng, bao gồm nhà kho,
nhà xưởng, hàng hóa, thiết bị, công cụ sản xuất và vận tải… thuộc sở hữu của
9 xã viên, với 274 cổ phần, mệnh giá mỗi cổ phần 5.000.000 đồng.
Trang thiết bị máy móc và công cụ sản xuất của hợp tác xã chủ yếu
được sản xuất trong nước hoặc tự tạo, sản xuất bán thủ công, có tổng công
suất thiết kế từ 5000-6000 tấn/năm. Sản xuất chính của Hợp tác xã là các loại
thức ăn dạng bột và dạng viên dành cho ngành chăn nuôi gia súc. Thị trường
tiêu thụ chủ yếu là tỉnh Tiền Giang và một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông
Cửu Long. Lực lượng sản xuất trong Hợp tác xã có 61 người.
Trang 19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
Trong đó xã viên có 9 người, công nhân có hợp đồng hạn là 42 người,
công nhân có hợp đồng thời vụ là 10 người.

Tổng cộng 25 400 31 800 36 096 40 800 43 220
( Nguồn: nhà máy thức ăn gia súc Bình Minh ).
Biểu đồ 2.1:Kết quả sản xuất từ năm 2006 đến 2010
2.1.2.3 Tình hình tiêu thụ
Với công nghệ hiện đại cùng với hệ thống phân phối được xây dựng
và củng cố nên tình hình tiêu thụ của công ty ngày được cải thiện, tăng điều
qua các năm được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây:
Tình hình tiêu thụ từ năm 2006 đến 2010
Đơn vị: tấn
Năm
Tên sản phẩm
2006 2007 2008 2009 2010
Thức ăn đậm đặc 4 920 5760 6 552 7 440 8 665
Thức ăn hỗn hợp 19 830 22968 26 088 29 760 33 225
Tổng cộng 24 750 28728 32 640 37 200 41 890
( Nguồn: nhà máy thức ăn gia súc Bình Minh )
Biểu đồ 2.2:Tình hình tiêu thụ từ năm 2006 đến 2010
Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
2.1.2.4 Nhận xét về tình hình sản xuất và tiêu thụ.
Bảng tình hình sản xuất và tiêu thụ từ năm 2006 đến 2010.
Đvt: Triệu đồng
2006 2007 2008 2009 2010
Doanh thu 75 200 149 346 188 000 252 960 382 640
Nộp ngân sách
nhà nước
375 1 120,32 1 645,08 9 486 15 463
Lợi nhuận 2 357 5 734 9 165 14 636 20 250
Thu nhập bình
quân đầu người

CHỦ NHIỆM HỢP TÁC XÃ
P. KẾ HOẠCH
KINH DOANH
P. KỸ
THUẬT
P.THU MUA P. TỔ CHỨC
HCQT
PHÒNG
KẾ TOÁN
TRƯỞNG
PHÒNG
KINH
DOANH
P.
NHÂN SỰ
TRƯỞNG
PHÒNG KỸ
THUẬT
NHÂN
VIÊN
THU
MUA
BAN QUẢN
TRỊ
THỦ
KHO
CÔNG
NHÂN
TRƯỞNG
PHÒNG

nguyên liệu cho các đơn vị, theo dõi tình hình xuất nhập hàng tồn kho nguyên
vật liệu.
2.1.3.2.2 Phòng kinh doanh.
Sơ đồ 2.5: Mô hình phòng kinh doanh nhà máy Bình Minh.
Trang 24
Quản lý bộ
phận bán hàng
Nhân viên phụ
trách trang trại
Các đại lý
Nhân viên bán
hàng theo từng
khu vực
Kho sản phẩm
Giám đốc kinh
doanh
Các trang trại
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thạnh Vượng
( Nguồn nhà máy thức ăn gia súc Bình Minh )
Thực hiện việc bán hàng, giao dịch với khách hàng nhằm thu hút những
khách hàng mới, cũng cố khách hàng hiện có, phân tích tình hình giữa bán
hàng và tiêu thụ, giữa khách hàng và thị trường.
2.1.3.2.3 Phòng hành chính quản trị.
Quản lý và bảo vệ an toàn tài sản, quản lý nhân sự, lao động và tiền
lương, thực hiện tốt việc giao dịch giữa vị cá nhân với các thành viên của nhà
máy, soạn thảo văn bản giao dịch của nhà máy, thực hiện thu hồi công nợ.
2.1.3.2.4 Phòng tài vụ kế toán.
Thực hiện nhiệm vụ quản trị tài chính, thực hiện khai báo, thu thập
tài liệu và báo cáo thống kê theo quy định, khai thác và theo dõi tình hình sử
dụng vốn, phân tích tình hình kiểm tra vốn và tài chính của nhà máy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status