Hoàn thiện hạch toán tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hóa tại công ty công nghệ phẩm Hà Tây - Pdf 25

Lời nói đầu
Tại đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nớc ta chủ trơng
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Đến
đại hội lần thứ VII, Đảng ta xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta là một
tất yếu khách quan và trên thực tế, nền kinh tế nớc ta đang đợc chuyển đổi từ
nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc theo định hớng XHCN.
Trong những năm qua, trên lĩnh vực công tác kế toán, Nhà nớc ta bớc đầy
đã xây dựng và vận hành một hệ thống chế độ kế toán về cơ bản phù hợp với cơ
chế quản lý mới. Tuy nhiên trớc yêu cầu của một nền kinh tế thị trờng, hệ thống
kế toán này vẫn còn nhiều tồn tại, các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán cha đợc
ban hành.
Trong công cuộc đổi mới đó, tất yếu nền kinh tế phải có sự xáo trộn gây
ảnh hởng đến các công ty và các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh của mình đem lại lợi nhuận và đó cũng chính là
mục tiêu cuối cùng của các nhà kinh doanh trong cơ chế thị trờng. Do vậy, việc
tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, giúp doanh nghiệp bù đắp đợc các chi
phí bỏ ra, lấy lãi và tiếp tục quá trình kinh doanh.
Sự thay đổi của cơ chế kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phơng thức tiêu thụ
và thay đổi về mục đích và yêu cầu của quản lý. Kế toán với t cách là một công
cụ quản lý kinh tế cũng phải đợc thay đổi và hoàn thiện cho phù hợp với tình
hình mới. Chính vì vậy, trong kỳ thực tập tại Công ty công nghệ phẩm Hà tây
em nhận thấy nên chọn đề tài :
<<
Hoàn thiện hạch toán tiêu thụ và kết quả
tiêu thụ hàng hoá tại Công ty công nghệ phẩm Hà tây
>>
.
Bố cục của chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán tiêu thụ và kết quả tiêu

Tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ
hàng hoá trong doanh nghiệp kinh doanh thơng mại đợc gọi là lu chuyển hàng
hoá. Quá trình bán hàng trong doanh nghiệp thờng đợc thực hiện theo 2 phơng
thức: bán buôn và bán lẻ. Đặc trng của bán buôn là bán số lợng lớn, khi chấm
dứt quá trình mua, bán thì hàng hoá cha đến tay ngời tiêu dùng mà phần lớn
2
hàng hoá vẫn còn trong lĩnh vực lu thông, hoặc vào lĩnh vực sản xuất để chế
biến rồi trở lại lĩnh vực lu thông. Còn đặc trng của bán lẻ hàng hoá là bán hàng
trực tiếp cho ngời tiêu dùng, kết thúc quá trình bán lẻ là hàng hoá đó đã vào lĩnh
vực tiêu dùng.
Trong các doanh nghiệp thơng mại, vốn hàng hoá là vốn chủ yếu nhất và
nghiệp vụ kinh doanh hàng hoá là nghiệp vụ phát sinh thờng xuyên và chiếm 1
khối lợng công việc lớn ... và quản lý hàng hoá là nội dung quản lý quan trọng
hàng đầu trong các doanh nghiệp thơng mại. Vì vậy, việc tổ chức tốt công tác
kế toán lu chuyển hàng hoá có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ công
tác kế toán của doanh nghiệp.
II. Vị trí của tiêu thụ, kết quả và nhiệm vụ hạch toán.
1. Khái niệm, vị trí của tiêu thụ và kết quả tiêu thụ.
a. Khái niệm:
- Tiêu thụ: là quá trình thực hiện quan hệ trao đổi hàng hoá dịch vụ thông
qua các phơng tiện thanh toán để thực hiện giá trị của sản phẩm hàng hoá dịch
vụ. Trong quá trình đó, doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
cho khách hàng, còn khách hàng phải trả cho doanh nghiệp khoản tiền tơng ứng
với giá bán hàng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đó theo giá thoả thuận hoặc
chấp nhận thanh toán.
Tiêu thụ là quá trình chuyển hoá vốn kinh doanh từ vốn hàng hoá sang
vốn bằng tiền và hình thành kết quả bán hàng. Quá trình bán hàng có thể đợc
chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Doanh nghiệp bán hàng xuất giao sản phẩm hàng hoá dịch vụ.
Giai đoạn này phản ánh một mặt quá trình vận động của hàng hoá. Tuy

không tiêu thụ đợc hàng thì hàng hoá sẽ ế đọng, ứ thừa vốn, vốn kinh doanh bỏ
ra không đủ bù đắp chi phí dẫn đến doanh nghiệp có thể bị phá sản.
4
Đối với ngời tiêu dùng ( khách hàng), bán hàng sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng và qua công việc bán hàng này thì tính sở hữu của hàng hoá mới xác định
hoàn toàn về số lợng, chất lợng, chủng loại, thời gian, sự phù hợp với thị hiếu
ngời tiêu dùng.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình kinh doanh, nó là yếu tố
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Trớc đây, thời kỳ bao
cấp, tiêu thụ hàng hoá đợc thực hiện theo kế hoạch nhất định. Điều đó có nghĩa
là doanh nghiệp bán cái gì, bán bao nhiêu, bán cho ai và bán nh thế nào đều đợc
quy định trong kế hoạch mà doanh nghiệp đợc giao . Chính vì vậy mà sản phẩm
hàng hoá đợc sản xuất ra trong thời kỳ đó hết sức đơn điệu, mẫu mã và chất l-
ợng kém. Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, các đơn vị không thể ngồi trông
chờ vào kế hoạch của Nhà nớc cấp mà phải tự lăn lộn vào thị trờng nhằm chọn
ra đợc sản phẩm thích hợp và đầu t nghiên cứu sản xuất ra những sản phẩm có
chất lợng cao, có thể đáp ứng đợc yêu cầu của ngời tiêu dùng. Do vậy việc tiêu
thụ bất cứ sản phẩm hàng hoá nào trớc hết là căn cứ vào nhu cầu ngời tiêu
dùng. Lợng hàng mà doanh nghiệp bán ra là nhân tố trực tiếp làm tăng hay
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và nó thể hiện sức mạnh cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trờng, là cơ sở để xác định các chỉ tiêu kinh tế tài chính, đánh
giá trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trình độ hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, là cở sở để thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nớc. Mặt
khác nó còn phản ánh gián tiếp việc tổ chức nghiệp vụ mua hàng, lựa chọn mặt
hàng kinh doanh cũng nh công tác dự trữ, bảo quản hàng hoá. Việc tiêu thụ
hàng hoá là cở sở, là tiền đề cho sự tồn tại hoạt động và phát triển không chỉ đối
với các doanh nghiệp thơng mại mà còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào tiến
hành sản xuất kinh doanh. Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể tự đánh giá đợc
hàng hoá của mình kinh doanh hay sản xuất đợc chấp nhận ở mức độ nào. Có
thể nói bán hàng vừa là công việc hàng ngày vừa là mối quan tâm hàng đầu của

6
Có 2 hình thức bán buôn đó là bán buôn qua kho và bán buôn vận chuyển
thẳng:
- Bán buôn qua kho : Là hình thức bán hàng mà hàng hóa đợc đa về kho
của đơn vị bán rồi mới tiếp tục chuyển bán.
Phơng thức bán buôn qua kho đợc tiến hành dới 2 hình thức:
+ Bán hàng theo phơng thức gửi hàng: Theo hình thức này, công ty
bán buôn căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết với ngời mua hàng để gửi
hàng cho ngời mua bằng phơng tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài. Hàng
hoá đợc giao cho bên mua tại kho của bên mua hoặc tại địa điểm bên mua đã
thoả thuận trớc trong hợp đồng. Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của
đơn vị bán buôn, chỉ khi nào thu đợc tiền bán hàng hoặc bên mua xác nhận
đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán thì mới đợc coi là tiêu thụ.
+ Bán hàng theo hình thức trực tiếp giao hàng tại kho: Theo hình thức
này, bên mua căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết, giao cho cán bộ nghiệp vụ
của mình trực tiếp đến tận kho của đơn vị bán buôn để nhận hàng hoặc đến một
địa điểm đợc quy định trong hợp đồng để lấy hàng. Cán bộ nghiệp vụ phải chịu
trách nhiệm áp tải hàng đã nhận về đơn vị mình bằng phơng tiện vận tải hiện có
hoặc thuê ngoài. Số hàng hoá bên bán giao cho đại diện bên mua đợc coi là tiêu
thụ khi ngời mua nhận hàng xong, thanh toán hoặc nhận nợ.
Đối với phơng thức bán buôn qua kho: Việc bán hàng đợc thực hiện là
bên bán giao hàng cho bên mua tại kho thì ngời mua nhận hàng xong thanh
toán tiền hoặc ký nợ thì đợc ghi chép là hàng bán. Nếu đa hàng đến kho của ng-
ời mua hoặc gửi hàng qua cơ quan vận chuyển thì thời điểm ghi chép là khi
nhận đợc giấy báo có của ngân hàng hay đợc giấy chấp nhận thanh toán của ng-
ời mua.
- Bán buôn vận chuyển thẳng: Là phơng thức bán hàng mà hàng hoá
bán cho bên mua đợc giao thẳng từ kho của bên cung cấp ( đơn vị bán cho công
ty bán buôn ) hoặc giao thẳng từ trên bến cảng, nhà ga chứ không qua kho của
công ty bán buôn. Bán buôn vận chuyển thẳng là phơng thức bán hàng hợp lý

Trong bán lẻ hiện nay áp dụng hai hình thức chủ yếu sau:
- Bán hàng thu tiền tập trung: Là phơng thức bán hàng mà nghiệp vụ thu
tiền và giao hàng tách rời nhau. Mỗi quầy bán hàng có nhân viên thu ngân làm
nhiệm vụ viết hoá đơn và thu tiền của khách hàng. Khách hàng sẽ cầm hoá đơn
đến nhận hàng ở quầy do mậu dịch viên giao và trả hoá đơn cho mậu dịch viên.
Cuối ca, cuối ngày, nhân viên thu ngân kiểm tiền, làm giấy nộp tiền bán hàng
còn mậu dịch viên thì căn cứ vào số hàng đã giao theo các hoá đơn và thu lại
hoặc kiểm kê số hàng hoá còn lại cuối ca, cuối ngày để xác định số hàng đã
giao, lập báo cáo bán hàng trong ca ( ngày). Đối chiếu với số tiền nộp theo giấy
nộp tiền với doanh thu bán hàng theo báo cáo bán hàng để xác định thừa thiếu
tiền và hàng. Do đó việc tách rời giữa ngời bán và ngời thu tiền nh vậy sẽ tránh
đợc những sai sót, mất mát hàng hoá hoặc nếu xảy ra trờng hợp sai sót, mất mát
hàng hoá có thể quy trách nhiệm chính xác cho nhân viên thu ngân. Nếu doanh
thu đúng thì số chênh lệch thừa thiếu là thiếu về tiền bán hàng thuộc trách
nhiệm của nhân viên thu ngân. Nếu tiền hàng nộp đủ mà kiểm kê hàng ở quầy
sai lệch không phù hợp với số thực bán trong hoá đơn thì số sai lệch thừa thiếu
là thừa thiếu ở quầy hàng thuộc trách nhiệm của mậu dịch viên. Việc tách rời,
phân rõ trách nhiệm vật chất của nhân viên ngời thu ngân và mậu dịch viên tạo
điều kiện cho việc quản lý tiền hàng.
Ưu điểm của hình thức bán hàng này là tách rời giữa ngời giữ hàng với
ngời giữ tiền do đó tránh đợc những nhầm lẫn sai sót, mất mát về tiền và hàng.
Ngời bán hàng không phải chịu trách nhiệm do sự nhầm lẫn về tiền trong quá
trình bán, hơn nữa họ sẽ có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị hàng hoá phục vụ
khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên hình thức bán này có nhợc điểm gây sự phiền hà
cho khách hàng. Do vậy nó ít đợc áp dụng và chỉ đợc áp dụng trong việc bán
những mặt hàng có giá trị cao.
- Bán hàng thu tiền trực tiếp: Đây là phơng thức đợc áp dụng rộng rãi
trong các cửa hàng, siêu thị hiện nay. Theo phơng thức này, ngời mua sẽ đợc
toàn quyền lựa chọn hàng hoá mà mình cần trong các cửa hàng, siêu thị. Tức là
trong các cửa hàng, siêu thị không còn các nhân viên bán hàng giao hàng cho

thụ và xác định kết quả tiêu thụ cũng là phần hành kế toán giữ vai trò hết sức
quan trọng vì nó là công cụ không thể thiếu để thu nhận, xử lý cung cấp thông
tin phục vụ công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tiêu thụ và xác định
kết quả tiêu thụ nói trên của doanh nghiệp.
Quản lý tiêu thụ là quản lý kế hoạch bán hàng và việc thực hiện kế hoạch
đối với từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hợp đồng kinh tế.
Yêu cầu đối với việc quản lý là phải giám sát chặt chẽ thờng xuyên hàng
hoá bán ra trên tất cả các phơng diện: Số lợng, chất lợng, chủng loại, mẫu mã..
Tránh hiện tợng mất mát h hỏng hoặc tham ô, lãng phí. Giám sát chặt chẽ chi
phi lu thông, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các khoản chi phí đồng thời
phân bổ cho hàng tiêu thụ để xác định chính xác kết quả bán hàng. Phải quản lý
chặt chẽ tình hình thanh toán của khách hàng, lựa chọn hình thức bán hàng cho
hợp lý với từng khách hàng, từng thời kỳ trên thị trờng.
Để đáp ứng kịp thời những yêu cầu đó hạch toán tiêu thụ và xác định kết
quả tiêu thụ cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất : Ghi chép phản ảnh đúng, chính xác, đầy đủ kịp thời sự vận
động của hàng hoá, khối lợng hàng hoá bán ra, đã giao cho cửa hàng tiêu thụ
đối với các mặt hàng đó. Và xác định chính xác, đầy đủ doanh thu bán hàng thu
đủ và kịp thời tiền bán hàng. Tổ chức tốt công tác kế toán chi tiết hàng hoá ở
khâu bán, đảm bảo phản ánh hàng cả về số lợng, chất lợng, chủng loại và giá trị.
Thứ hai: Cung cấp thông tin kịp thời về tình hình tiêu thụ phục vụ cho
việc điều hành hoạt động kinh doanh thơng mại cụ thể:
Phải báo cáo thờng xuyên kịp thời tình hình tiêu thụ, tình hình thanh toán
với khách hàng theo từng loại hàng, từng loại hợp đồng kinh tế.
Thứ ba: Phản ánh, kiểm tra tiến độ tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ
hàng hoá, kỷ luật thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng, kỷ luật thu nộp
ngân sách về thuế doanh thu. Kế toán phải ghi chép, phản ảnh kịp thời và đầy
đủ kết hợp với việc kiểm tra thờng xuyên các chi tiết kế hoạch đó.
11
Thứ t : Xác định chính xác trị giá vốn của hàng bán ra nhằm xác định

kho, từng quầy, từng nhóm hàng hoá...
Kết cấu của tài khoản 156:
Bên Nợ: - Trị giá mua của hàng hoá tăng
- Chi phí thu mua hàng hoá
Bên Có: - Trị giá mua của hàng hoá của hàng hoá giảm
- Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ
D Nợ : Phản ánh trị giá mua hàng tồn kho và chi phí thu mua phân bổ
cho hàng cha tiêu thụ.
TK 156 có 2 tiểu khoản cấp 2:
TK 1561: Giá mua hàng hoá
TK 1562: Chi phí thu mua hàng hoá
+ Tài khoản 157( hàng gửi bán ): dùng để phán ánh giá trị sản phẩm hàng
hoá đã gửi bán theo kế hoạch hợp đồng, gửi bán cho đại lý nhng cha đợc ngời
mua chấp nhận thanh toán, kế toán phải theo dõi chi tiết từng lần gửi hàng và
từng loại hàng gửi bán cho đến khi xác nhận là tiêu thụ.
Kết cấu của tài khoản 157:
Bên nợ : Giá thực tế hàng gửi bán cha thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán.
Bên có: - Giá thực tế của sản phẩm hàng hoá gửi đi đã đợc thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán.
- Phản ánh trị giá hàng hoá gửi đi bị khách hàng từ chối, trả lại.
D Nợ : Giá hạch toán cha đợc chấp nhận.
13
+ Tài khoản 632 Giá vốn hàng bán: dùng để theo dõi giá thành thực tế
của hàng hoá dịch vụ xuất bán trong kỳ.
Kết cấu của tài khoản 632:
Bên nợ: - Phản ánh giá vốn của hàng tiêu thụ trong kỳ
Bên có:- Phản ánh giá vốn của hàng hoá bị trả lại trong kỳ.
- Kết chuyển giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ để xác định kết quả
bán hàng.

Có TK 153: Công cụ- dụng cụ(1532)
Có TK 111,112: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Có TK 141: Tạm ứng
- Khi nhận đợc tiền của bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
tiền bao bì, chi phí vận chuyển bốc dỡ:
Nợ TK 111,112: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Nợ TK 131: Phải thu của khách hàng
Có TK 138: Phải thu khác( 1388)
2.3 Ph ơng pháp kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo
hình thức chuyển hàng.
* Nếu bên bán có tham gia thanh toán:
-Khi hàng về và chuyển thẳng đến cho bên mua kế toán ghi:
Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán
Có TK 111,112,331: Tổng giá thanh toán
- Khi hàng chuyển bán thẳng đợc xác định là tiêu thụ( khi thu đợc tiền
của bên mua thanh toán hoặc giấy báo có của bên mua đã nhận đợc hàng và
chấp nhận thanh toán)
+ Phản ánh doanh thu bán hàng
Nợ TK 111,112,131: Tổng giá thanh toán
15
Có TK 511: Doanh thu bán hàng
* Trờng hợp bán hàng vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán:
- Nếu không tham gia thanh toán, kế toán chỉ theo dõi số hoa hồng đợc h-
ởng từ nghiệp vụ môi giới hàng cho nhà cung cấp, hoặc cho khách hàng.
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511
- Nếu có phát sinh chi phí môi giới:
Nợ TK 641
Có TK 111, 112, 141..
2.4 Ph ơng pháp hạch toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá:

+ TK 611(6112)- Mua hàng: Đợc sử dụng để theo dõi giá trị hàng hoá
mua vào bao gồm giá mua ghi trên hoá đơn và các chi phí liên quan trực tiếp
đến quá trình mua hàng.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 611(6112)
Bên Nợ: - Trị giá hàng hóa còn lại đầu kỳ( tồn kho, tồn quầy, đang đi
trên đờng, đang gửi bán)
- Trị giá hàng hoá phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Chiết khấu mua hàng, giảm giá hàng mua
- Trị giá hàng hoá tăng thêm trong kỳ
- Trị giá hàng còn lại cuối kỳ( tồn kho, quầy, hàng mua đang đi
trên đờng, hàng gửi bán)
- Trị giá thực tế hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
2. Phơng pháp hạch toán:
- Đầu kỳ:
+ Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ:
Nợ TK 6112
Có TK 156(1561)
17

Trích đoạn Phiếu xuất kho Hệ thống sổ kế toán công ty sử dụng cho công tác nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá bao gồm hai loại:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status