Tóm t
ắ
t truy
ệ
n V
ợ
ch
ồ
ng A Ph
ủ
– Tô Hoài ( in trong t
ậ
p Truy
ệ
n Tây B
ắ
c, 1953) :
V
ợ
ch
ồ
ng A ph
ủ
k
ể
v
ề
đ
ôi v
ợ
ị
n
ợ
th
ố
ng lí Pá Tra m
ộ
t món ti
ề
n l
ớ
n, ch
ư
a tr
ả
n
ổ
i, h
ằ
ng n
ă
m ph
ả
i tr
ả
lãi c
ả
m
ộ
t n
l
ừ
a, b
ắ
t v
ề
trình ma nhà nó. Ti
ế
ng g
ọ
i là làm v
ợ
A S
ử
nh
ư
ng M
ị
b
ị
đố
i x
ử
th
ậ
m t
ệ
.
Ban
ử
a”.
*Ngày T
ế
t l
ạ
i v
ề
, M
ị
lén u
ố
ng r
ượ
u m
ộ
t mình. Không khí vui nh
ộ
n, nh
ấ
t là ti
ế
ng sáo g
ọ
i b
ạ
n tình
đ
ã giúp M
ị
ơ
i thì b
ị
A S
ử
b
ắ
t trói
đứ
ng vào c
ộ
t nhà, b
ằ
ng c
ả
thúng dây
đ
ay, c
ả
tóc M
ị
. Trong c
ơ
n
ch
ậ
p ch
ờ
n mê t
ỉ
t.
C
ũ
ng
đ
êm
đ
ó, A Ph
ủ
, m
ộ
t thanh niên m
ồ
côi nh
ư
ng kho
ẻ
m
ạ
nh, can tr
ườ
ng,
đ
ã
đ
ánh A S
ử
, vì b
ấ
t bình tr
tr
ừ
n
ợ
.
*M
ộ
t mùa
đ
ông giá rét, r
ừ
ng
đ
ói, h
ổ
báo t
ừ
ng
đ
àn ra phá n
ươ
ng, b
ắ
t bò ng
ự
a . A Ph
ủ
vì m
ả
i mê b
t m
ấ
y ngày
đ
êm- ch
ờ
khi nào A S
ử
b
ắ
n
đượ
c h
ổ
m
ớ
i tha.
Lúc
ấ
y, tuy M
ị
đ
ã tr
ở
thành m
ộ
t con ng
ườ
i
ệ
t v
ọ
ng, M
ị
độ
ng lòng th
ươ
ng ng
ườ
i cùng c
ả
nh ng
ộ
. Sau m
ộ
t h
ồ
i suy ngh
ĩ
, M
ỵ
đ
ã c
ắ
t dây trói cho A Ph
ủ
. R
ng
đ
ã tìm
đế
n xây
d
ự
ng phong trào và k
ế
t ngh
ĩ
a anh em v
ớ
i A Ph
ủ
. A Ph
ủ
đ
ã tr
ở
thành ti
ể
u
độ
i tr
ưở
ng du kích, cùng v
ớ
i M
ữ
a lúc xóm ng
ụ
c
ư
x
ơ
xác, tiêu
đ
i
ề
u trong n
ạ
n
đ
ói
đầ
u n
ă
m 1945, vào m
ộ
t bu
ổ
i chi
ề
u tà, Tràng- m
ộ
t ng
ườ
i nông dân nghèo, lu
ộ
đ
ói rách cùng
đườ
ng nên ch
ỉ
qua vài l
ầ
n g
ặ
p g
ỡ
v
ớ
i m
ộ
t vài câu nói
đ
ùa, r
ồ
i c
ắ
m
đầ
u
ă
n m
ộ
t ch
đ
ón nh
ậ
n ng
ườ
i con dâu trong tâm tr
ạ
ng v
ừ
a bu
ồ
n v
ừ
a m
ừ
ng, v
ừ
a lo âu, v
ừ
a hi v
ọ
ng nh
ư
ng không h
ề
t
ỏ
ra r
ẻ
rúng ng
ng t
ớ
i
Sáng hôm sau, m
ộ
t bu
ổ
i sáng mùa h
ạ
, n
ắ
ng chói lói. Bà c
ụ
T
ứ
và cô dâu m
ớ
i x
ă
m x
ắ
n d
ọ
n d
ẹ
p, quét t
ướ
c trong ngoài. Tr
ướ
ườ
i ph
ụ
n
ữ
hi
ề
n h
ậ
u
đ
úng m
ự
c, không
còn v
ẻ
gì chao chát ch
ỏ
ng l
ỏ
n nh
ư
l
ầ
n
đầ
u g
ặ
p nhau. Bà c
ụ
đượ
c Vi
ệ
t Minh và trong óc Tràng hi
ệ
n lên hình
ả
nh
đ
ám ng
ườ
i
đ
ói kéo nhau
đ
i phá kho thóc Nh
ậ
t,
phía tr
ướ
c là m
ộ
t lá c
ờ
đỏ
bay ph
ấ
t ph
ớ
ừ
ng ngày h
ứ
ng ch
ị
u nh
ữ
ng tr
ậ
n nh
ữ
ng tr
ậ
n
đạ
i bác
c
ủ
a
đồ
n gi
ặ
c.
Chuy
ệ
n chính th
ứ
c b
ắ
t
ã b
ố
phòng nghiêm ng
ặ
t: h
ầ
m chông, h
ố
chông, dàn thò ch
ằ
ng ch
ị
t….
Đ
êm
đ
ó, Tnú
ă
n c
ơ
m và
ở
l
ạ
i nhà c
ụ
M
ế
t. C
ả
ở
i c
ủ
a làng, g
ắ
n bó sâu s
ắ
c v
ớ
i cu
ộ
c
đờ
i Tnú.
*
H
ồ
i
ấ
y, M
ỹ
- Di
ệ
m kh
ủ
ng b
ố
d
ữ
d
t d
ạ
y ch
ữ
.
M
ộ
t l
ầ
n, trong chuy
ế
n
đư
a th
ư
c
ủ
a anh Quy
ế
t lên huy
ệ
n, Tnú b
ị
đị
ch ph
ụ
c b
ắ
t, b
n b
ị
v
ũ
trang kh
ở
i ngh
ĩ
a và k
ế
t hôn cùng Mai.
Tin làng Xô Man chu
ẩ
n b
ị
v
ũ
khí ch
ờ
th
ờ
i c
ơ
n
ổ
i d
ậ
y
đế
ớ
i
đứ
a con nh
ỏ
ch
ư
a
đầ
y tháng c
ủ
a hai ng
ườ
i
đ
ánh
đậ
p dã man.
T
ừ
v
ị
trí
ẩ
n n
ấ
p, Tnú ch
ứ
ng ki
ế
n gi
ặ
c t
ẩ
m
nh
ự
a Xà nu
đố
t m
ườ
i
đầ
u ngón tay anh
để
kh
ủ
ng b
ố
tinh th
ầ
n dân làng.
Tnú kiên c
ườ
ng ch
ị
u
đự
ng quy
ế
ị
c
ụ
M
ế
t và thanh niên di
ệ
t g
ọ
n. Làng Xô Man
đồ
ng kh
ở
i th
ắ
ng l
ợ
i. Tnú gia nh
ậ
p Gi
ả
i phóng quân. Anh d
ũ
ng c
ả
m l
ậ
p chi
ế
n công,
ạ
nh con n
ướ
c l
ớ
n.
Tóm t
ắ
t truy
ệ
n Nh
ữ
ng
đứ
a con trong gia
đ
ình – Nguy
ễ
n Thi (2/1966)
Chuy
ệ
n k
ể
v
ề
hai ch
ị
em Chi
ế
v
ừ
a b
ị
đạ
i bác M
ĩ
b
ắ
n ch
ế
t. Khi hai ch
ị
em Chi
ế
n – Vi
ệ
t tr
ưở
ng thành, c
ả
hai
đề
u giành nhau tòng quân. Nh
ờ
s
ự
đồ
ng cao su, Vi
ệ
t di
ệ
t
đượ
c m
ộ
t xe b
ọ
c thép
đầ
y M
ĩ
và sáu tên M
ĩ
l
ẻ
nh
ư
ng anh c
ũ
ng b
ị
th
ươ
ng n
ặ
ng, l
ạ
t
đ
i, t
ỉ
nh l
ạ
i nhi
ề
u l
ầ
n. M
ỗ
i l
ầ
n t
ỉ
nh l
ạ
i, Vi
ệ
t h
ồ
i t
ưở
ng v
ề
gia
đ
ình, v
y th
ứ
t
ư
c
ủ
a Vi
ệ
t trong
đ
êm th
ứ
hai. Tuy m
ắ
t không nhìn th
ấ
y gì, tay chân
đ
au bu
ố
t, tê c
ứ
ng nh
ư
ng Vi
ệ
t v
ẫ
n
trong t
Vi
ệ
t h
ồ
i t
ưở
ng l
ạ
i nh
ữ
ng s
ự
vi
ệ
c x
ả
y ra t
ừ
sau ngày má m
ấ
t. C
ả
hai ch
ị
em
đề
u háo h
ứ
c tòng quân, nh
ư
ả
u ghi tên mình tr
ướ
c. Ch
ị
Chi
ế
n ch
ậ
m chân và “b
ậ
t mí” chuy
ệ
n Vi
ệ
t ch
ư
a
đầ
y 18 tu
ổ
i. Nh
ờ
chú N
ă
m
đứ
ng ra xin giúp, Vi
ệ
p ch
ấ
p nh
ậ
n m
ọ
i s
ự
s
ắ
p
đặ
t
c
ủ
a ch
ị
Chi
ế
n, vì Vi
ệ
t th
ấ
y ch
ị
Chi
ế
n nói gi
ố
ng má quá ch
đ
ã tìm th
ấ
y Vi
ệ
t. Anh
đượ
c
đư
a v
ề
đ
i
ề
u tr
ị
t
ạ
i m
ộ
t b
ệ
nh vi
ệ
n dã chi
ế
n; s
ứ
c kho
t nh
ớ
ch
ị
, mu
ố
n vi
ế
t th
ư
nh
ư
ng không bi
ế
t vi
ế
t nh
ư
th
ế
nào vì Vi
ệ
t c
ả
m th
ấ
y chi
ế
n công c
ủ
N MINH CHÂU)
Theo yêu c
ầ
u c
ủ
a tr
ưở
ng phòng, ngh
ệ
s
ĩ
nhi
ế
p
ả
nh Phùng
đế
n m
ộ
t vùng ven bi
ể
n mi
ề
n Trung (c
ũ
ng là n
ơ
i anh t
ừ
ĩ
đ
ã phát hi
ệ
n và ch
ụ
p
đượ
c “m
ộ
t c
ả
nh
đắ
t tr
ờ
i cho” –
đ
ó là c
ả
nh m
ộ
t chi
ế
c thuy
ề
n ngoài
xa
đ
khi ch
ứ
ng ki
ế
n t
ừ
chính chi
ế
c thuy
ề
n
đ
ó c
ả
nh
ng
ườ
i ch
ồ
ng v
ũ
phu
đ
ánh
đậ
p v
ợ
m
ộ
t cách dã man,
p di
ễ
n và l
ầ
n này ng
ườ
i ngh
ệ
s
ĩ
đ
ã ra tay can thi
ệ
p . . . Theo l
ờ
i m
ờ
i c
ủ
a chánh án
Đẩ
u (m
ộ
t ng
ườ
i
đồ
ng
độ
ố
i s
ự
giúp
đỡ
c
ủ
a
Đẩ
u và Phùng, nh
ấ
t quy
ế
t không b
ỏ
lão ch
ồ
ng
v
ũ
phu. Ch
ị
đ
ã k
ể
câu chuy
ệ
n v
ề
s
ĩ
đ
ã có m
ộ
t
t
ấ
m
đượ
c ch
ọ
n vào b
ộ
l
ị
ch “t
ĩ
nh v
ậ
t hoàn toàn” v
ề
“thuy
ề
n và bi
ể
n” n
ă
m
ng c
ủ
a ánh s
ươ
ng mai và n
ế
u nhìn lâu h
ơ
n bao gi
ờ
anh c
ũ
ng th
ấ
y hình
ả
nh ng
ườ
i
đ
àn bà nghèo kh
ổ
, lam l
ũ
b
ướ
c ra t
ừ
t
ấ
ụ
ng,
đặ
c bi
ệ
t r
ấ
t cao c
ờ
. Do t
ắ
c trách, Nam Tào g
ạ
ch b
ừ
a tên Tr
ươ
ng Ba, khi
ế
n ông ph
ả
i
ch
ế
t oan. V
ợ
Tr
ươ
ng Ba lên Thiên
đ
ế
t, m
ớ
i ngoài 30 tu
ổ
i,
để
đượ
c s
ố
ng l
ạ
i, ,.
Trú nh
ờ
th
ể
xác hàng th
ị
t, h
ồ
n Tr
ươ
ng Ba g
ặ
p r
ấ
t nhi
ề
ằ
ng thân xác hàng th
ị
t, Tr
ươ
ng Ba d
ầ
n dà tiêm nhi
ễ
m m
ộ
t s
ố
thói x
ấ
u và nh
ữ
ng nhu c
ầ
u v
ố
n xa l
ạ
v
ớ
i ông. Gay nh
ấ
t là ch
ị
n; con trai Tr
ươ
ng Ba ngày càng
đắ
c ý, l
ấ
n l
ướ
t, coi
th
ườ
ng b
ố
. Ng
ượ
c l
ạ
i, v
ợ
, con dâu, cháu n
ộ
i Tr
ươ
ng Ba không th
ể
ch
ị
u n
ổ
i và d
t, c
ũ
ng không ch
ấ
p nh
ậ
n nh
ậ
p vào xác cu T
ị
, kiên quy
ế
t ch
ấ
p nh
ậ
n cái
ch
ế
t.
Tóm t
ắ
t ph
ầ
n trích gi
ả
ng truy
ệ
n ng
n ch
ỗ
c
ủ
a m
ộ
t
đồ
ng
độ
i c
ũ
, xin làm lái xe cho m
ộ
t
độ
i v
ậ
n t
ả
i.
Tình c
ờ
anh g
ặ
p chú bé Va-ni-a m
ồ
côi, không n
ơ
i n
ng Xô-cô-l
ố
p là b
ố
đẻ
c
ủ
a mình. Xô-cô-lôp yêu th
ươ
ng, ch
ă
m sóc chú bé th
ậ
t chu
đ
áo và xem nó là ni
ề
m vui l
ớ
n, ni
ề
m an
ủ
i c
ủ
a
mình. Tuy nhiên, anh v
ẫ
n b
ứ
c gi
ấ
c thì g
ố
i
đẫ
m n
ướ
c m
ắ
t ».
R
ồ
i m
ộ
t chuy
ệ
n r
ủ
i ro x
ả
y ra : xe anh
đụ
ng ph
ả
i con bò và anh b
ị
thu h
ồ
ở
Ka-sa-r
ư
, anh d
ẫ
n bé Va-ni-a
đế
n
đ
ó v
ớ
i hi v
ọ
ng ch
ừ
ng n
ử
a n
ă
m sau anh
đượ
c c
ấ
p l
ạ
i b
ằ
ng lái m
ớ
i. Dù th
t c
ố
t truy
ệ
n truy
ệ
n ng
ắ
n Thu
ố
c (1919) c
ủ
a L
ỗ
T
ấ
n
- Ch
ươ
ng I: V
ợ
ch
ồ
ng Hoa Thuyên- ch
ủ
m
ộ
t quán trà nghèo- có
đứ
a con trai
ng
để
mua chi
ế
c bánh bao t
ẩ
m máu ng
ườ
i v
ừ
a ch
ị
u án chém v
ề
cho con
ă
n vì cho r
ằ
ng
ă
n
nh
ư
th
ế
nó s
ẽ
kh
ỏ
i b
t h
ế
t ni
ề
m tin t
ưở
ng
vào s
ự
hi
ệ
u nghi
ệ
m c
ủ
a ph
ươ
ng thu
ố
c này.
- Ch
ươ
ng III: Tr
ờ
i v
ừ
a sáng, lúc bé Thuyên
ă
n thu
ố
đề
u tin t
ưở
ng vào công hi
ệ
u c
ủ
a ph
ươ
ng thu
ố
c bánh bao t
ẩ
m máu t
ươ
i mà th
ằ
ng bé v
ừ
a
ă
n . Hai là h
ọ
bàn tán v
ề
ng
ườ
i
tù b
ị
nhà Mãn Thanh, giành
ch
ủ
quy
ề
n cho ng
ườ
i Trung Qu
ố
c (Thiên h
ạ
nhà Mãn Thanh chính là c
ủ
a chúng ta). H
ạ
Du b
ị
b
ắ
t vì ng
ườ
i bà con t
ố
giác. Trong tù H
ạ
Du v
ẫ
n tuyên truy
ề
n
n h
ọ
cho H
ạ
Du là
đ
iên, là th
ằ
ng
kh
ố
n n
ạ
n.
- Ch
ươ
ng IV: Vào m
ộ
t bu
ổ
i sáng Thanh minh n
ă
m sau, m
ẹ
H
ạ
Du và bà Hoa Thuyên cùng
đế
n ngh
ĩ
đồ
ng c
ả
m . H
ọ
r
ấ
t ng
ạ
c nhiên khi th
ấ
y trên m
ộ
H
ạ
Du có m
ộ
t vòng hoa. M
ẹ
H
ạ
Du
đ
ã
b
ắ
t
đầ
u hi
ể
t truy
ệ
n Ông già và bi
ể
n c
ả
(1952)c
ủ
a Hê-minh-uê
Nhân v
ậ
t trung tâm c
ủ
a tác ph
ẩ
m là Xan-ti-a-gô -m
ộ
t "ông già"
đ
ánh cá ng
ườ
i Cuba, 74 tu
ổ
i .
Su
ố
t 84 ngày li
ề
n, ông lão không b
ắ
i lão n
ữ
a.
Vào ngày th
ứ
85, lão quy
ế
t
đị
nh ra kh
ơ
i tr
ướ
c khi tr
ờ
i sáng. L
ầ
n này lão
đ
i th
ậ
t xa,
đế
n t
ậ
n vùng Gi
ế
ng L
ớ
n. Kho
ớ
n
đế
n n
ỗ
i tr
ướ
c
đ
ây lão ch
ư
a t
ừ
ng nhìn th
ấ
y. Con cá l
ạ
i l
ặ
n xu
ố
ng, kéo thuy
ề
n
ch
ạ
y v
ề
h
ướ
ế
t
đượ
c con
cá, bu
ộ
c nó vào m
ạ
n thuy
ề
n dong v
ề
. Nh
ư
ng ch
ẳ
ng bao lâu nhi
ề
u
đ
àn cá m
ậ
p
đ
ánh h
ơ
i
đượ
c
đ
ũ
cá m
ậ
p- phóng lao, vung chày, th
ậ
m chí dùng c
ả
mái chèo
để
đ
ánh- gi
ế
t
đượ
c nhi
ề
u con,
đ
u
ổ
i
đượ
c chúng
đ
i, nh
ư
ng lão bi
ế
t con cá ki
n l
ề
u, lão v
ậ
t ng
ườ
i xu
ố
ng gi
ườ
ng và chìm vào gi
ấ
c ng
ủ
, r
ồ
i m
ơ
v
ề
nh
ữ
ng con s
ư
t
ử
TÓM T
Ắ
T TRÍCH
ậ
n tr
ọ
ng thu dây câu nh
ư
ng lão bi
ế
t vòng tròn
còn khá l
ớ
n, con cá hãy còn xa t
ầ
m tay c
ủ
a lão. T
ừ
ng tí m
ộ
t lão c
ố
g
ắ
ng thu h
ẹ
p vòng l
ượ
n c
ủ
a con cá và phát hi
ệ
con cá nh
ả
y lên có th
ể
làm v
ă
ng m
ấ
t l
ưỡ
i câu. Nh
ư
ng con cá không nh
ả
y lên mà b
ắ
t
đầ
u
l
ượ
n vòng ch
ầ
m ch
ậ
m. Lão cho
đ
ó là c
ơ
h
t cái bóng
đ
en l
ướ
t qua d
ướ
i con thuy
ề
n, r
ồ
i trông th
ấ
y rõ h
ơ
n khi nó m
ấ
p mé m
ặ
t
n
ướ
c.
Đế
n vòng l
ượ
n ti
ế
p theo, lão trông th
ấ
y l
n . Dù
đ
ã ki
ệ
t s
ứ
c, lão v
ẫ
n gi
ẫ
m chân gi
ữ
dây câu, r
ồ
i d
ố
c toàn l
ự
c phóng lao
đ
âm vào ch
ỗ
hi
ể
m gi
ế
t ch
ế
t
đượ
n vì nó quá l
ớ
n, lão c
ẩ
n th
ậ
n bu
ộ
c nó d
ọ
c theo m
ạ
n thuy
ề
n, gi
ươ
ng bu
ồ
m v
ề
b
ế
n. Lão th
ậ
t s
ự
hài lòng và t
ự
hào
v
giờ cậu Cần cưới vợ, cô Phượng ở cữ, cô Lí về, nhớ điện cho tôi lên”.
Đúng như suy nghĩ của ba nhân vật Đông, Lí và Luận: “Quan hệ của chị ở gia đình này đã thuộc về quá khứ. Kỉ niệm của chị ở
đây đẹp nhưng buồn. Chị có quyền quên mà không ai được trách cứ.” Nhưng đoạn trích đã cho người đọc đến với một nhân vật chị
Hoài của hiện tại chứ không phải là của quá khứ. Vẫn còn đó trong mùa tết năm này của tác phẩm sự chu đáo, lo toan, nghĩa tình vẹn
toàn của một người dâu trưởng. Điều đó làm tất cả mọi người trong gia đình ông Bằng đều cảm động. Qua cách miêu tả ấy của Ma Văn
Kháng, người đọc cũng bất giác bồi hồi theo tâm hồn nhân hậu, cách sống vị tha, trong sáng nghĩa tình, thuỷ chung của người đàn bà
đã một thời là dâu trưởng. Ma Văn Kháng đã ưu ái dành cho nhân vật đặc biệt này cả hai cách giới thiệu, miêu tả vừa trực tiếp (qua
ngoại hình và diện mạo bình dị mà có nét tươi tắn: “một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bông chần hạt
lựu. Chiếc khăn len thắt nâu ôm một khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi.”; qua hai con mắt “đậm nỗi bồi hồi”
cảnh cũ người xưa; qua ngôn ngữ thô mộc dân dã mà không phải là không tinh tế: “Cô Phượng đấy như?”) vừa gián tiếp (qua hồi ức
của mọi người: “Chị Hoài, vợ anh cả Tường liệt sĩ. Chị Hoài, dâu trưởng, nết na, thuỳ mị.”; qua cảm nhận của Phượng trong hiện tại:
“Người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống cuả
gia đình này”). Chín năm chưa gặp lại người cha chồng kính yêu. Phút gặp lại, chị Hoài “gần như không chủ động được mình, chị lao về
phía ông Bằng, quên cả đôi dép ”. Ma Văn Kháng tinh tế và sắc sảo để chị “kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa” - hai
hàng gạch hoa của lễ giáo và sự xa cách của một lần tái giá. Chị thốt lên tiếng “Ông” nghe như một tiếng nấc. Nhưng đến lễ cúng gia
tiên, chị Hoài đã thật sự trở về với niềm tin trong trẻo cũ. Người đàn bà đó đã giản dị một cách hồn nhiên để tin rằng chị vẫn là một phần
không thể tách rời của cái gia đình xưa cũ. Vì vậy, ngay khi ông Bằng vừa khấn vái và buông tay chắp xong, chị liền “thế chân ông cụ,
hai tay nâng lên trước ngực.” để cất lên lời khấn vái tổ tiên.
Có phải chính từ hình tượng này mà Ma Văn Kháng đã muốn nói lên một điều không được nói ra nói tác phẩm: thì ra, con
người ta có quyền vừa hội nhập với cái mới mà vẫn vừa giữ gìn được những nét tinh tuý hằng thường của cái xưa cũ.
Thứ hai, ông Bằng và cuộc gặp lại người con dâu.
Qua cách khắc hoạ của Ma Văn Kháng, ông Bằng vừa là hiện thân vừa là biểu tượng cho giá trị mang tính chuẩn mực của đời
sống gia đình. Ông tìm bình yên trong tiết tấu cổ điển của bản “Vườn khuya”. Nhưng giai điệu thong thả du dương êm đềm ấy cũng
không giúp ông chống đỡ nổi sự biến động phức tạp đầy tăng tốc của đời sống thị trường. Ông phải chứng kiến dần dần sự đổ vỡ của
gia đình: con trai (Cừ bỏ xí nghiệp và có tin là đã vượt biên), con dâu (Lí - vợ của Đông) đang có biểu hiện chê chồng lạc hậu để đua
theo lối sống xa hoa phù phiếm. Khu vườn nhỏ và yên tĩnh của gia đình ông Bằng vừa phải đối mặt với quy luật rụng lá của thiên nhiên,
vừa phải đối mặt với quy luật biến động của đời sống xã hội. Ông Bằng chưa chịu nhận ra một điều - mà điều này cho đến cuối tác
phẩm, sẽ xuất hiện trong một chiêm nghiệm của con dâu ông là Phượng: “Ai có thể ngờ được căn nhà yên tĩnh, ở đầu cái phố dài yên
tĩnh, lại chỉ có được sự yên tĩnh bề ngoài. Gia đình, cái giọt nước của biển cả, có ai ngờ lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế.”
Cuộc gặp mặt giữa ông Bằng và người dâu trưởng là chị Hoài là một cuộc gặp gỡ vừa vui mừng vừa xót xa. Trong một chừng
Tết, trong nỗi thiêng liêng thẳm sâu giản đơn mà huyền diệu đêm trừ tịch, sau những bổi hổi đoàn tụ, cuối những hoài niệm
xao xác và khởi đầu thinh lặng những ước mơ, nghe vườn khuya rùng mình búng lá, nghe trước đường theo gió có ai đó lất phất xuyên
qua trầm hương đi về hát khẽ lời “anh đến thăm em đêm ba mươi ” mà chợt làm huyên náo cả tách trà thơm, lặng thầm giở từng
trang Mùa lá rụng trong vườn
Cũng là một cái thú giữa ngày xuân chăng!
Phân tích bắt sấu rừng U Minh Hạ
1.Thế giới vùng U Minh hạ
Vùng đất lạ lùng , đầy bí ẩn .
• Giươa vùng tràm là căn cứ của loài cá sấu .
Kỳ lạ , khủng khiếp .
• Tiếng hát ảo naơo , rùng rợn
“ Hồn ở đâu đây…sấu bắt ? “
Không khí ma thiêng nước độc đầy hùm beo , thủy quái .
Tiếng hát biết bao oan hồn , tổ tiên , ông bà rời quê bỏ xứ nơi đây .
Đất phương Nam ph́ nhiêu khai phá đổ mồ hôi , nước mắt , xương máu .
2. Nhân vật Năm Hên .
Con người tài trí phi thường
• Tính chất ghê gớm , phi thường của công việc ông cần phải giải quyết : Bắt
sống mấy chục con cá sấu hung dươ bằng tay không .
Người dân không tin được .
Học đến xem , mang nhiều dụng cụ không làm ǵ được.
• Cá sấu về cả đàn họ không tin sửng số chạy trốn .
• Ông Năm Hên bắt trong một giờ 45 con cá sấu rất nhẹ nhàng bằng cây mốp
tươi và nắm dây cóc kèn .
Con người giàu t́nh cảm , nghóa khí .
• Bắt sấu kiếm sống mà còn là hành vi nghóa hiệp .
• Trả thù cho anh .
• Nạn cá sấu hoành hành .
• T́nh sâu nghóa nặng đối với tổ tiên .
3. Nghệ thuật