MỤC LỤC
MỤC LỤC i
4.2 Kiến nghị 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
i
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình Tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của Công ty Cổ phần
Cầu 14 qua 3 năm 2011- 2013 Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của Công ty Cổ phần Cầu 14
qua 3 năm 2011, 2012, 2013 Error: Reference source not found
Bảng 3.3: Dự toán nhân công trực tiếp công trình gói thầu A2 An Sương - An
Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6. Error: Reference source not
found
Bảng 3.4: Dự toán nhân công trực tiếp công trình gói thầu A2 An Sương - An
Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6. 52
Bảng 3.5: Dự toán máy thi công chính công trình gói thầu A2 An Sương- An
Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 53
Bảng 3.6: Dự toán nhiên liệu sử dụng cho máy thi công chính công trình gói
thầu A2 An Sương- An Lạc giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2 đến trụ T6 54
Bảng 3.7: Dự toán chi phí sản xuất chung công trình gói thầu A2 An Sương- An
Lạc 55
Bảng 3.8: Sổ cái TK621 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi mố A2
đến trụ T6 58
Bảng 3.9: Sổ cái TK622 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi từ mố
A2 đến trụ T6 Error: Reference source not found
Bảng 3.10: Sổ cái TK623 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi từ
mố
A2 đến trụ T6. Error: Reference source not found
Bảng 3.11: Sổ cái TK627 công trình gói thầu A2 giai đoạn khoan cọc nhồi từ
mố
A2 đến trụ T6. Error: Reference source not found
v
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Bước sang thế kỉ 21, đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam đã và
đang tiến hành nhanh chóng việc cải tạo, mở rộng và xây dựng mới nhiều cơ sở
hạ tầng làm thay đổi bộ mặt đất nước và góp phần to lớn việc thực hiện các mục
tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, từng bước hiện
thực hoá quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Do đó việc phát
triển hệ thống công trình xây dựng cơ bản ngày càng được chú trọng, trong đó
các công ty xây dựng cầu đường đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát
triển, đổi mới hệ thống hạ tầng cơ sở của đất nước, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đi
lại, giao thương giữa các địa phương, các vùng, miền của người dân và thúc đẩy
các ngành kinh tế khác phát triển.
Hiện nay có rất nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói
chung và công ty xây dựng cầu nói riêng do đó để cạnh tranh về hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh thì phải phụ thuộc rất lớn vào giá đấu thầu các công
trình, hạng mục công trình của các công ty xây dựng cầu. Giá đấu thầu càng
thấp thì khả năng thắng thầu để nhận thi công công trình, hạng mục công trình
càng cao. Do đó thông tin về chi phí xây dựng giúp nhà quản trị kiểm soát chi
phí, có các biện pháp hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình,
hạng mục công trình từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh thắng thầu. Để phục vụ
nhu cầu thông tin về chi phí thì kế toán chi phí là công cụ hữu hiệu, không chỉ
quan trọng đối với doanh nghiệp mà còn quan trọng đối với các cơ quan quản lý
nhà nước, các nhà đầu tư cạnh tranh, các đối tác. Công tác kế toán quản trị chi
1
phí có vai trò rất lớn trong các khâu của quá trình quản lý xây dựng một công
trình, hạng mục công trình cầu, từ việc lập kế hoạch thông qua việc lập dự toán
chi phí đến việc thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản lý,
Dự toán và thực tế phát sinh chi phí xây dựng công trình, hạng mục công
trình của công ty Cổ phần Cầu 14. Do thời gian và điều kiện có hạn nội dung
nghiên cứu được thu hẹp lại tại công trình cầu vượt đường bộ gói thầu A2 An
Sương- An Lạc năm 2013.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Công trình cầu vượt đường bộ gói thầu A2 An Sương- An
Lạc năm 2013.
- Không gian: Công ty Cổ phần Cầu 14.
- Thời gian thực tập: 1/7/2014 - 28/11/2014; số liệu nghiên cứu sử dụng là
3 năm 2011, 2012, 2013.
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Hiểu hơn về kế toán quản trị chi phí, cụ thể ở công ty hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng cầu.
- Thấy được thực trạng cụ thể công tác kế toán quản trị chi phí xây dựng
của Công ty Cổ phần Cầu 14 cụ thể qua công trình trình cầu vượt đường bộ gói
thầu A2 An Sương- An Lạc năm 2013.
3
- Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện hơn
công tác kế toán quản trị chi phí xây dựng của Công ty Cổ phần Cầu 14.
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu
2.1.1 Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây
dựng
2.1.1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị chi phí
a) Bản chất kế toán chi phí, kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí
- Kế toán chi phí là việc xử lý, phản ánh, phân tích và kiểm soát các thông
tin về chi phí sản xuất kinh doanh theo từng khoản mục chi phí để tính giá thành
chính xác cho từng sản phẩm, dịch vụ.
cáo quản trị chi phí nhằm cung cấp thông tin về chi phí, kế hoạch thực hiện,
kiểm soát, đánh giá hoạt động thi công và ra quyết định hợp lý, kịp thời.
b) Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung kế
toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng đối tượng, từng thời kỳ.
- Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã lập.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo
kế toán quản trị chi phí.
- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra
quyết ñịnh của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
c) Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Để làm tốt chức năng quản lí, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để
có thể ra các quết định đúng đắn. Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu cung
6
cấp nhu cầu thông tin đó. Vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện cụ thể như
sau:
• Trong giai đoạn lập kế hoạch
Kế toán quản trị chi phí cụ thể hóa các mục tiêu rong kế hoạch hoàn thành
dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp
thông tin về chi phí ước tính để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị,
do thông tin mà nhà quản trị cần là linh hoạt chứ không thể dựa vào chi phí thực
tế phát sinh được. ví dụ khi doanh nghiệp cần quyết định về chào giá đấu thầu
hay quyết định chấp nhận các đơn chào hàng từ khách hàng.
• Trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn
đối với các thông tin kế toán quản trị chi phí, chẳng hạn nhà quản trị cần được
kế toán cung cấp thông tin để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá
trình điều hành, chỉ đạo thực hiện các quyết định hằng ngày- các quyết định
ngắn hạn (quyết định bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó ;
quyết định tự sản xuất hay mua ngoài; quyết định nên bán nửa thành phẩm hay
bảo mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế
thị trường.
- Quản lý chi phí theo từng công trình, phù hợp với các giai đoạn đầu
tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định
của Nhà nước.
- Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được tính theo đúng
phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định và phù hợp độ dài thời
gian xây dựng công trình. Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được
phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình.
8
- Nhà nước thực hiện chức năng quản lý chi phí thông qua việc ban hành,
hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí.
- Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản
lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng công trình đưa
vào khai thác, sử dụng.
- Những quy đinh tại các nghị định, thông tư do nhà nước ban hành là căn
cứ để Nhà nước cũng như các bên liên quan đên công trình thi công tiến hành
thanh, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng công trình.
2.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xây dựng đến kế toán quản trị chi phí
a) Đặc điểm của hoạt động xây dựng
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng gồm các giai đoạn cơ
bản:
- Lập hồ sơ tham gia đấu thầu
- Ký kết hợp đồng xây dựng
- Khảo sát xây dựng
- Lựa chọn nhà thầu phụ (nếu có), mua sắm vật tư, thiết bị xây dựng…
- Thực hiện thi công
- Kiểm nghiệm công trình khi hoàn thành
- Quyết toán công trình (thanh lý hợp đồng xây dựng)
b) Đặc điểm của sản phẩm xây dựng
thêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công
trường, chi phí huy động công nhân, chi phí lán trại, nhà ở cho công nhân, chi
phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, Vì vậy công tác
hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng rất phức tạp, trong đó
có những khoản chi phí chung cần phân bổ đến từng công trình cụ thể, cần có
cách thức phân bổ phù hợp để phục vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo
công trình.
10
Chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây dựng, chi phí
lãi vay, chi phí bảo hành công cần được vốn hóa vào giá trị sản phẩm xây dựng.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ, dễ bị hư
hỏng tuỳ thuộc vào thời tiết, cần chú ý đến biện pháp bảo quản và kiểm soát chi phí.
Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm khoảng 13 - 15% trong tổng chi
phí sản xuất tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay
thấp. Chi phí sử dụng máy thi công chiếm tỷ trọng cao hay thấp tuỳ thuộc vào
từng công trình thi công bằng máy hay thủ công. Trong công tác kế toán chi phí
cũng cần dựa vào những đặc điểm này của chi phí để bước đầu có thể đánh giá
được mối tương quan của từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm của
từng công trình phục vụ kiểm soát chi phí.
Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công
việc thường xuyên và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có
phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc
quản trị chi phí.
Thời gian thi công kéo dài nên việc thheo dõi chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm ở công ty xây dựng không chỉ dừng lại ở việc tập hợp và theo dõi chi
phí phát sinh trong năm tài chính mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá
thành và doanh thu lũy kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công
cho đến thời điểm hiện tại.
2.1.1.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng
a) Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây
lắp bỏ ra (vật liệu chính, vật liệu phụ,…)
Chi phí này không kể vật liệu phụ cho máy móc, phương tiện thi công và
những vật liệu tính trong chi phí chung.
12
- Chi phí nhân công trực tiếp: phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia
quá trình hoạt động xây dựng, bao gồm cả những khoản phải trả cho người lao
động thuộc quản lý của doanh nghiệp và cho thuê ngoài theo từng công việc.
không trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên lương công nhân trực tiếp của hoạt động
xây dựng.
- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí trực tiếp phát sinh trong
quá trình sử dụng máy thi công để thực hiện khối lượng công việc bằng máy
theo phương thức thi công hỗn hợp vừa bằng thủ công vừa bằng máy. Các khoản
chi phí này bao gồm:
+ Chi phí vật liệu: dùng để chạy máy và sửa máy như xăng, dầu…
+ Chi phí nhân công liên quan đến việc trả lương, các khoản phụ cấp theo
lương cho công nhân máy thi công.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí khấu hao máy thi công: là số tiền trích khấu hao cơ bản của máy
thi công
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các chi phí về lao vụ, dịch vụ
từ bên ngoài sử dụng
cho máy thi công như: chi phí về điện máy chạy, chi phí nước, khí nén…
+ Chi phí khác bằng tiền: là những chi phí ngoài các chi phí kể trên phục
vụ cho máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung : bao gồm các khoản chi phí xuất dùng vào việc
quản lý sản xuất chung: bao gồm các phục vụ sản xuất chung ở tổ, đội sản xuất
trong doanh nghiệp xây dựng.
+ Chi phí vật liệu: chi phí o dưỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng
- Chi phí gián tiếp : Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí, chúng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu
14
chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Cách phân loại này có tác dụng trong
việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các
đối tượng tập hợp chi phí một cách hợp lý.
Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí
Do đặc thù của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhà quản trị để
ra quyết định quản lý kịp thời nên việc phân loại chi phí trong kế toán quản trị
chi phí còn được phân loại theo cách ứng xử chi phí, theo đó chi phsi được chia
thành chi phí khả biến (biến phí), chi phí bất biến ( định phí), chi phí hỗn hợp.
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số khi có
sự thay đổi mức hoạt động của doanh nghiệp xây dựng. Xét về tổng số, biến phí
thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng trên một đơn vị khối lượng
hoạt động thì biến phí có thể là hằng số đối với mọi mức hoạt động. Khi mức độ
hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng tăng theo tỷ lệ thuận và
ngược lại. Cụ thể:
+ Tổng biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động thực hiện,
còn biến phí cho một đơn vị khối lượng hoạt động không thay đổi, gọi là biến
phí tỷ lệ.
+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng của khối luwojng hoạt động,
như vậy biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng trung bình cũng tăng lên.
Trường hợp này xảy ra khi cường độ lao động vượt quá bình thường, hiệu lực
của các yếu tố sản xuất giảm đihoặc có sự tăng thêm khối lượng hoạt động đòi
hỏi phải tăng cường nhiều hơn các yếu tố chi phí s ản xuất.
+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động kéo theo biến phí
trung bình của một khối lượng hoạt động giảm xuống. Trường hợp này xảy ra
khi tăng khối lượng hoạt động đã tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn các yếu tố của
quá trình sản xuất.
-Chi phí bất biến ( định phí/chi phí cố định): là các chi phí mà tổng số
16
hoạt động thay đổi ở mức độ nào đó thì nó thể hiện đặc điểm của biến phí: tiền
điện thoại, chi phí thuê máy móc, chi phí nhân công bảo dưỡng máy móc.
b) Lập dự toán chi phí
Dự toán công trình được tính toán và xác định theo công trình xây dựng
cụ thể, trên cơ sở khối lượng các công việc, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản
vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình, hạng mục công
trình và hệ thống định mức xây dựng, giá xây dựng công trình. Dự toán công
trình là cơ sở để xác định giá gói thầu, giá xây dựng công trình, là căn cứ để đàm
phán, ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu.
Lập dự toán còn có những tác dụng khác nhau như cung cấp thông tin một
cách có hệ thống tất cả dự toán của các công trình trong doanh nghiệp; xác định
rõ các mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện sau này; lường
trước những khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịp thời và đúng đắn; liên
kết toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách hợp nhất các kế hoạch và
mục tiêu của các bộ phận khác nhau. Chính nhờ vậy, dự toán đảm bảo các kế
hoạch và mục tiêu của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh
nghiệp, đánh giá hiệu quả quản lý và thúc đẩy hiệu quả công việc. Căn cứ để lập
dự toán chi phí là dựa vào đơn giá xây dựng cơ bản, giá tính theo một đơn vị
diện tích hay công suất sử dụng, định mức các chi phí, phí, lệ phí tính theo tỷ lệ,
các tài liệu khác có liên quan.
Trình tự lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây dựng thường bao
gồm các nội dung sau:
• Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Là dự kiến số lượng và giá trị nguyên liệu vật liệu trực tiếp cần thiết sử
dụng trong kỳ.
- Căn cứ lập dự toán là: sản lượng sản xuất dự kiến, định mức nguyên vật
liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm, đơn giá nguyên vật liệu.
17
- Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu có
-
Số NVL tồn
thực tế đầu
kỳ
- Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toán
dựa vào việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu dự toán nguyên vật liệu trực
tiếp được xây dựng. Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán với nhà cung cấp.
Dự toán mua nguyên vật liệu còn tính thời điểm, và mức thanh toán tiền mua
nguyên vật liệu căn cứ vào chính sách bán hàng của nhà cung cấp. Đây là cơ sở
để lập dự toán vốn bằng tiền tại doanh nghiệp.
• Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
- Dự toán nhằm duy trì lực lượng lao động vừa đủ đáp ứng yêu cầu thi
công của công trình, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao
18
động. Dự toán này còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển
dụng trong quá trình hoạt động.
- Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với
khối lượng sản phẩm sản xuất. Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công
trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp ở các doanh
nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản
phẩm. Để lập dự toán này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân
công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
- Căn cứ lập dự toán là: sản lượng sản xuất dự toán, định mức lao động
trực tiếp bao gồm định mức thời gian lao động trực tiếp và định mức giá của một
giờ lao động trực tiếp để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Chi phí nhân công
trực tiếp được xác định:
CPNCTT =
ijGjQiM
n
i
1
Với: Qi là khối lượng ca máy làm việc thứ i
Gi là định mức đơn giá ca máy làm việc thứ i
• Dự toán chi phí sản xuất chung:
- Là dự kiến các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất phát sinh trong
phạm vi phân xưởng, chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí bất biến và chi
phí khả biến. Dự toán được xây dựng có tính đến cách ứng xử chi phí.
c) Tổ chức tập hợp chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình
Từ đặc điểm đặc trưng của hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng và
sản phẩm của ngành xây dựng, các khoản chi phí sản xuất được tập hợp theo dõi
cho từng công trình, hạng mục công trình cụ thể, và chia thành các khoản mục
sau:
- Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
20