tiểu luận môn kỹ thuật ngoại thương đề tài xuất khẩu linh kiện điện tử sang thị trường đài loan - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN MÔN KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ NGỌAI THƯƠNG
ĐỀ TÀI
XUẤT KHẨU LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ
TRƯỜNG ĐÀI LOAN
Giảng viên hướng dẫn: LÊ MINH HIẾU
NHÓM 2 TP HCM, THÁNG 04 NĂM 2014
1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 2

2.4 Dung lượng thị trường
2.5 Tập quán và thị hiếu người tiêu dùng
2.6 Đối thủ cạnh tranh
CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN THƯƠNG NHÂN & SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
3.1 Tư cách pháp lý và lĩnh vực kinh doanh
3.2 Uy tín
3.3 Soạn thảo hợp đồng
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN
4
LỜI MỞ ĐẦU
Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 10/2013 đạt mức kỷ lục từ trước tới nay
là 25,12 tỷ USD, tăng 11,9% so với tháng trước; trong đó, xuất khẩu đạt 12,61 tỷ USD,
tăng 12,8% và nhập khẩu là 12,51 tỷ USD, tăng 11%. Với kết quả này, cán cân thương
mại hàng hóa trong tháng 10 của Việt Nam có mức thặng dư hơn 100 triệu USD.
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 10 năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng
hoá của Việt Nam đạt 217,59 tỷ USD, tăng hơn 15,9% so với cùng kỳ năm trước; trong
đó, xuất khẩu đạt 108,72 tỷ USD, tăng 16% và nhập khẩu là 108,87 tỷ USD, tăng
15,9%. Kết quả là mức thâm hụt thương mại trong 10 tháng/2013 là 146 triệu USD,
giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong thời kì công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoạt động xuất nhập khẩu đóng
một vai trò vô cùng to lớn. Chính phủ và Nhà nước ta luôn ban hành những chính sách,
tạo những điều kiện thuận tốt nhất để phát triển lĩnh vực này. Việt Nam đang ngày càng
mở rộng thị trường của mình ra rộng hơn.
Trong những thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, có thể nói Đài Loan là một thị trường
tiềm năng, đã và đang đem lại cho nước ta nhiều lợi nhuận đáng kể. Theo thống kê của
Bộ Tài chính Đài Loan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2013 giữa
nước ta với Đài Loan đạt 7,48 tỷ USD tăng 6,02% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam
xuất khẩu qua thị trường Đài Loan rất nhiều sản phẩm, trong số đó, không thể không
nhắc tới mặt hàng linh kiện điện tử.

loại và linh kiện đạt 345.713.031 USD, tăng 39,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm
21,3% tổng trị giá xuất khẩu. Có thể nói rằng, đây là một trong những thành công của
Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp điện tử nói riêng và xuất khẩu nói chung.
Xuất phát từ vai trò, tính cấp thiết của việc xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử đối
với nền kinh tế thị trường và thông qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về nghiệp vụ
ngoại thương, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “ Xuất khẩu linh kiện điện tử
từ Việt Nam sang Đài Loan” .
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
• Hiểu rõ về sản phẩm linh kiện điện tử xuất khẩu.
6
• Nắm bắt thông tin về thị trường Đài Loan trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là
xuất nhập khẩu.
• Biết được thông tin về thương nhân tại Đài Loan trong lĩnh vực linh kiện điện
tử.
• Củng cố kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương.
• Vận dụng các điều khoản thương mại trong giao dịch, xuất khẩu hàng hóa.
• Vận dụng kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương, các kĩ năng về đàm phán, soạn
thảo hợp đồng thương mại.
7
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ SẢN PHẨM
1.1 Tên gọi của sản phẩm
Các linh kiện điện tử là các thành phần cơ bản có thể ghép nối thành mạch điện tử hay
thiết bị điện tử.
1.2 Phân loại sản phẩm
BẢNG PHÂN LOẠI LINH KIỆN ĐIỆN TỬ
Phân loại Tên linh kiện Kí hiệu Biểu tượng
Linh kiện điện tử
thụ động
Điện trở R
Cuộn cảm L

làm 3 loại:
• Điện trở công suất nhỏ
• Điện trở công suất trung bình
• Điện trở công suất lớn.
Tuy nhiên, do ứng dụng thực tế và do cấu tạo riêng của các vật chất tạo nên điện trở
nên thông thường, điện trở được chia thành 2 loại:
• Điện trở: là các loại điện trở có công suất trung bình và nhỏ hay là các điện trở
chỉ cho phép các dòng điện nhỏ đi qua.
• Điện trở công suất: là các điện trở dùng trong các mạch điện tử có dòng điện lớn
đi qua hay nói cách khác, các điện trở này khi mạch hoạt động sẽ tạo ra một lượng
nhiệt năng khá lớn. Chính vì thế, chúng được cấu tạo nên từ các vật liệu chịu nhiệt.
Cách đọc giá trị các điện trở này thông thường cũng được phân làm 2 cách đọc, tuỳ
theo các ký hiệu có trên điện trở. Dưới đây là hình về cách đọc điện trở theo vạch màu
trên điện trở.
9
Đối với các điện trở có giá trị được định nghĩa theo vạch màu thì chúng ta có 3 loại
điện trở: Điện trở 4 vạch màu và điện trở 5 vạch màu và 6 vạch màu. Loại điện trở 4
vạch màu và 5 vạch màu được chỉ ra trên hình vẽ. Khi đọc các giá trị điện trở 5 vạch
màu và 6 vạch màu thì chúng ta cần phải để ý một chút vì có sự khác nhau một chút về
các giá trị. Tuy nhiên, cách đọc điện trở màu đều dựa trên các giá trị màu sắc được ghi
trên điện trở 1 cách tuần tự:
Đối với điện trở 4 vạch màu
• Vạch màu thứ nhất: Chỉ giá trị hàng chục trong giá trị điện trở
• Vạch màu thứ hai: Chỉ giá trị hàng đơn vị trong giá trị điện trở
• Vạch màu thứ ba: Chỉ hệ số nhân với giá trị số mũ của 10 dùng nhân với giá trị
điện trở
• Vạch màu thứ tư: Chỉ giá trị sai số của điện trở
Đối với điện trở 5 vạch màu
• Vạch màu thứ nhất: Chỉ giá trị hàng trăm trong giá trị điện trở
• Vạch màu thứ hai: Chỉ giá trị hàng chục trong giá trị điện trở

chỉ lưu trữ chúng. Tụ điện có khả năng nạp và xả rất nhanh. Đây là một ưu thế của nó
so với ắc qui.

1.3.1.4 Đi-ốt
Điốt bán dẫn là các linh kiện điện tử thụ động và phi tuyến, cho phép dòng điện đi qua
nó theo một chiều mà không theo chiều ngược lại, sử dụng các tính chất của các
chất bán dẫn. Có nhiều loại điốt bán dẫn, như điốt chỉnh lưu thông thường, điốt
Zener, LED. Chúng đều có nguyên lý cấu tạo chung là một khối bán dẫn loại P ghép
với một khối bán dẫn loại N.
Vì điốt có đặc tính chỉ dẫn điện theo một chiều từ a-nốt đến ca-tốt khi phân cực thuận
nên điốt được dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều.
Ngoài ra điốt có nội trở thay đổi rất lớn, nếu phân cực thuận RD 0 (nối tắt), phân cực
nghịch RD (hở mạch), nên điốt được dùng làm các công tắc điện tử, đóng ngắt bằng
điều khiển mức điện áp. Điốt chỉnh lưu dòng điện, giúp chuyển dòng điện xoay chiều
thành dòng điện một chiều, điều đó có ý nghĩa rất lớn trong kĩ thuật điện tử. Vì vậy
điốt được ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật điện và điện tử.
11
1.3.2 Linh kiện điện tử chủ động
1.3.2.1 Transistor
Transistor (viết tắt của: "Transfer-resistor" tức điện trở chuyển)là một linh kiện bán
dẫn thường được sử dụng như một thiết bị khuếch đại hoặc một khóa điện tử.
Transistor là khối đơn vị cơ bản xây dựng nên cấu trúc mạch ở máy tính điện tử và tất
cả các thiết bị điện tử hiện đại khác. Vì đáp ứng nhanh và chính xác nên các transistor
được sử dụng trong nhiều ứng dụng tương tự và số, như khuếch đại, đóng cắt, điều
chỉnh điện áp, điều khiển tín hiệu, và tạo dao động.Transistor cũng thường được kết
hợp thành mạch tích hợp (IC),có thể tích hợp tới một tỷ transistor trên một diện tích
nhỏ.
Cũng giống như điốt, transistor được tạo thành từ hai chất bán dẫn điện. Khi ghép một
bán dẫn điện âm nằm giữa hai bán dẫn điện dương ta được một PNP Transistor. Khi
ghép một bán dẫn điện dương nằm giữa hai bán dẫn điện âm ta được một NPN

Bộ cảm biến là thiết bị điện tử cảm nhận những thay đổi từ môi trường bên ngoài và
biến đổi thành các tín hiệu điện để điều khiển các thiết bị khác. Cảm biến là một trong
ba thành phần cơ bản của hệ thống điều khiển.
Có nhiều loại cảm biến khác nhau như cảm biến nhiệt, cảm biến quang, cảm biến hồng
ngoại,
Bộ cảm biến được chia thành các loại sau:
1 .Biến trở tuyến tính, biến trở góc quay dùng để chuyển đổi sự dịch chuyển thành điện
áp. Ngoài ra còn có thể chuyển đổi kiểu điện cảm và điện dung Nguyên tắc chung để
đo các đại lượng không điện như nhiệt độ, quang thông, lực, ứng suất, kích thước, di
chuyển, tốc độ bằng phương pháp điện là biến đổi chúng thành tín hiệu điện. Cấu
trúc thiết bị đo gồm ba thành phần:
Bộ phận chuyển đổi hay cảm biến, cơ cấu đo điện và các sơ đồ mạch trung gian hay
mạch gia ông tín hiệu ví dụ như mạch khuếch đại, chỉnh lưu, ổn định. Cảm biến xenxin
làm phần tử đo lường trong các hệ bám sát góc quay, truyền chỉ thị góc quay ở cự ly xa
mà không thực hiện được bằng cơ khí.
Biến áp xoay (quay) dùng để biến đổi điện áp của cuộn sơ cấp hoặc góc quay của cuộn
sơ cấp thành tín hiệu ra tương ứng với chúng. Biến áp xoay sin, cos để đo góc quay
của rôto, trên đặt cuộn sơ cấp, thành điện áp tỉ lệ thuận với sin hay cos của góc quay
13
đó. Biến áp xoay tuyến tính biến đổi độ lệch góc quay của rôto thành điện áp tỉ lệ tuyến
tính.
Con quay 3 bậc tự do và con quay 2 bậc tụ do được sử dụng làm các bộ cảm biến đo
sai lệch góc và đo tốc độ góc tuyệt đối trong các hệ thống ổn định đường ngắm của các
dụng cụ quan sát và ngắm bắn.
2. Cảm biến tốc độ - bộ mã hóa quang học là đĩa mã trên có khắc vạch mà ánh sáng có
thể đi qua được. Phía sau đĩa mã đặt phototransistor chịu tác dụng của một nguồn sáng.
Động cơ và đĩa mã được gắn đồng trục, khi quay ánh sáng chiếu đến phototransistor
lúc bị ngăn lại, lúc không bị ngăn lại làm cho tín hiệu ở cực colecto là một chuỗi xung.
Trên đĩa mã có khắc hai vòng vạch, ngoài A trong B có cùng số vạch, nhưng lệch 90°
(vạch A trước B là 90°). Nếu đĩa mã quay theo chiều kim đồng hồ thì chuỗi xung B sẽ

xuất trong nước phải chịu sự kiểm tra, thanh tra các chỉ tiêu liên quan đến an toàn.
Trong tương lai con người chịu sự kiểm tra nhà nước các chỉ tiêu liên quan đến tương
thích điện tử từ trường (EMC) và các chỉ tiêu nhiễu tần số radio (RTEE). Trong những
năm gần đây tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ với mức tự động
hoá ngày càng cao cũng như việc phát triển mạng viễn thông có sự tham gia tích cực
của công nghệ thông tin vấn đề liên quan đến EMC và nhiễu tần số radio đang trở
thành vấn đề nóng bỏng cần có những giải pháp hữu ích để phòng ngừa những tác
động tiềm ẩn gây rối loạn hệ thống điều khiển tự động, từ xa và mạng viễn thông mang
tính toàn cầu. Tuy nhiên do năng lực thử nghiệm còn quá hạn chế cho nên việc quản lý
chất lượng về mặt an toàn, tương thích điện từ trường và nhiễu tần số radio mới chỉ
thực hiện được một số chỉ tiêu liên quan đến an toàn điện là chính.
- Yếu tố thứ hai liên quan đến chất lượng chính là các chỉ tiêu công dụng. Với tốc độ
phát triển của ngành công nghiệp chế tạo linh kiện cũng như công nghệ và cấu trúc của
các linh kiện thì đây là vấn đề đi trước cả yêu cầu mong đợi của người tiêu dùng. Có
thể nói người tiêu dùng ngày nay chưa kịp hưởng thụ hết các chức năng công dụng,
chưa khai thác hết tính năng sử dụng của thiết bị điện tử thì các mẫu mới đã xuất hiện
với thiết kế hoàn hảo hơn, có tính năng hơn hẳn đã có mặt trên thị trường. Đây chính là
một yếu tố kích thích tiêu dùng, tạo cơ hội cho phét triển của ngành công nghiệp điện
tử, tạo ra các sản phẩm có giá cả hợp lý để thoả mãn các đối tượng tiêu dùng có mức
thu nhập khác nhau. chính vì vậy có thể nói ngày nay khó có có thể tìm thấy người tiêu
dùng chê bai, phàn nàn về hàng điện tử kể cả sản xuất trong nước và nhập khẩu từ
nước ngoài.
Trong thời kỳ bao cấp, công tác tiêu chuẩn hoá đã được quan tâm một cách đáng kể từ
việc ban hành khá nhiều tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) cho đến việc bắt buộc các nhà
máy quốc doanh phải tuân thủ các tiêu chuẩn Việt Nam. Từ việc ban hành các TCVN
cho các loại linh kiện như điện trở, tụ điện các loại bóng bán dẫn, diốt cho đến các
TCVN cho các sản phẩm hoàn chỉnh. Đến khi thị trường được mở cửa thì hầu hết các
tiêu chuẩn này đã quá lạc hậu về tính năng của linh kiện vì vậy không còn thích hợp.
Hoạt động tiêu chuẩn hoá nói chung là để phục vụ cho hoạt động thương mại, là cầu
nối giữa ngành công nghiệp sản xuất với thị trường, cầu nối giữa nhà chế tạo với người

thiết bị này.
+ Tiêu chuẩn công ty (cơ sở)
Hoạt động tiêu chuẩn hó công ty đang còn rất yếu kém. Mặc dù mấy năm qua, kể từ
khi pháp lệnh chất lượng hàng hoá (sửa đổi/được ban hành cùng với quyết định 2425
của Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm khuyến khích, thúc đẩy công tác TCH ở công ty,
nâng cao tính tự chủ, khả năng cạnh tranh về chất lượng, song hoạt động này chỉ mang
tính hình thức. Biểu hiện của sự yếu kém, mang tính hình thức được thể hiện thông qua
hoạt động công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá:
- Phần lớn các công ty đã lấy TCVN để công bố tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm
của mình, trong khi sản phẩm của họ có nhiều tính năng mới, nhiều chỉ tiêu kỹ thuật
khác với TCVN.
- Các sản phẩm điện tử chưa có TCVN, các công ty rất lúng túng không có khả năng
thể hiện các thông số, đặc tính kỹ thuật của thiết bị thành tiêu chuẩn công ty. Đây chính
là hậu quả của việc sao chép các thiết kế, mẫu mã có sẵn trên thị trường thiếu sự
nghiên cứu sáng tạo để có được sản phẩm riêng, thiếu tính cạnh tranh dẫn đến hoạt
động TCH ở công ty kém hiệu quả.
16
CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU VỀ THỊ TRƯỜNG
2.1 Tình hình kinh tế, chính trị, chính sách thương mại trong nước
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế chính sách thương mại Việt Nam
Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012) .Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
năm 2013 tăng khoảng 6,04% - thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. CPI tăng thấp phần
lớn do kết quả điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Năm
2013, Ngân hàng Nhà nước đã điều tiết khá tốt mức cung tiền do đó kiểm soát được
lạm phát, thêm vào đó giá lương thực, thực phẩm cũng chỉ tăng nhẹ. . Sang năm 2014,
17
dự báo kinh tế thế giới thuận lợi hơn và môi trường vĩ mô trong nước dần đi vào ổn
định, kinh tế Việt Nam kỳ vọng có nhiều cải thiện đáng kể. Hai kịch bản tăng trưởng
cho năm 2014 là 5,71% với xác suất xảy ra tương đối cao và trong điều kiện tốt nhất có

mạnh cần phải chú trọng hơn nữa công tác thúc đẩy xuất khẩu, khai thác thị trường đầy
tiềm năng này. Trong vòng hai mươi năm qua, do có sự chênh lệch về trình độ phát
triển kinh tế nên cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa Việt Nam và Đài Loan khá khác biệt và
mang tính bổ sung cao. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Đài Loan
là các mặt hàng như điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, nông lâm thủy sản,
cao su, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, giấy và các sản phẩm từ giấy, gỗ và
sản phẩm gỗ, giầy dép các loại, sản phẩm gốm sứ, máy vi tính và sản phẩm điện tử,
18
linh kiện với hàm lượng giá trị xuất khẩu thấp. Về cơ bản, các mặt hàng Việt Nam
xuất khẩu sang Đài Loan trong hai mươi năm qua có thể chia thành 3 nhóm chính:
nhóm nông lâm thủy sản, nhóm nguyên nhiên liệu và khoáng sản, nhóm công nghiệp
chế biến. Đài Loan là thị trường nhiều tiềm năng với thị hiếu đa dạng, đồng thời đóng
vai trò trung gian cho rất nhiều loại sản phẩm của Việt Nam sang các thị trường Âu,
Mỹ và Đông Á. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng người Việt đông đảo
(khoảng hơn 200 nghìn người, chiếm 1% dân số Đài Loan) tại Đài Loan sẽ góp phần
thúc đẩy hoạt động thương mại song phương cũng như tuyên truyền về thói quen tiêu
dùng các mặt hàng trong nước tại Đài Loan. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Đài Loan tính đến hết tháng 12 năm 2011 là 2,081 tỉ USD tăng 27,7% so với cùng
kỳ năm ngoái. Top 5 mặt hàng xuất khẩu cũng không thay đổi so với năm 2011, tuy
nhiên các mặt hàng có mức tăng trưởng khác biệt do đó vị trí các mặt hàng cũng có sự
đảo lộn mạnh mẽ. Mặt hàng dệt may đã mất vị trí mặt hàng xuất khẩu hàng đầu bởi
điện thoại và linh kiện. Mặt hàng Điện thoại các loại và linh kiện khác chỉ đứng thứ 5
trong năm 2011 nhưng đến năm 2012 đã có sự tăng trưởng vượt bậc (229%) tiến lên
giữ vị trí dẫn đầu với tổng trị giá hơn 373 triệu USD
(Nguồn ham khao từ trang mạng như tinkinhte.com,các hội thảo ,nvinanet/haiquan)
2.2 Tình hình kinh tế, chính trị, chính sách thương mại nước ngoài
2.2.1 Kinh tế
Trong 5 thập niên qua, Đài Loan chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp, chậm
phát triển sang một nước công nghiệp phát triển, trong đó các ngành sản xuất là thành
phần chính tạo thành điều được gọi là 'phép lạ kinh tế Đài Loan.

Loan.
Năm 2010 2011 2112
GDP (ppp) 855,7 tỉ USD 890,2 tỉ USD 901,9 tỉ USD
Tăng trưởng GDP 10,7 % 4 % 1,3 %
GDP theo đầu người 36.900 USD 38.300 USD 38.500 USD
GDP theo ngành Nông nghiệp 1,8 % Công nghiệp 29,6% Dịch vụ 68,6%
Tỉ lệ thất nghiệp 5,2% 4,4% 4,3%
Tỉ lệ lạm phát 1% 1,4% 2,3%
Mặt hàng nông nghiệp Gạo, rau quả, trà, hoa, sản phẩm từ gia súc, gia cầm, cá.
Các ngành công nghiệp Điện tử, các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền
thông, tinh luyện xăng dầu, vũ khí, hóa chất, dệt may,
sắt thép, máy móc, xi măng, chế biến thực phẩm,
phương tiện giao thông, hàng tiêu dùng, dược phẩm.
Kim ngạch xuất khẩu 273,8 tỉ USD 307 tỉ USD 288,2 tỉ USD
Mặt hàng chính Điện tử, kim loại và các sản phẩm liên quan, cao su,
nhựa và các sản phẩm liên quan, máy móc, hóa chất.
Các đối tác xuất khẩu chính Trung Quốc + Hồng Kông (41,9%) Hoa kì (11,5%)
Nhật Bản (6,6%) Singapore (4,4%) (năm 2010)
Kim ngạch nhập khẩu 247,3 tỉ USD 279,2 tỉ USD 261,6 tỉ USD
Mặt hàng chính Khoáng sản, dầu thô, sản phẩm điện tử, hóa chất, máy
móc, kim loại và các sản phẩm liên quan.
Các đối tác nhập khẩu chính Trung Quốc ( 14,2%) Hoa Kì (10%) Nhật Bản (20,7%)
Hàn Quốc (6,4) Ả Rập Xê Út (4,7%) (năm 2010)
2.2.2 Chính trị
20
Hệ thống chính trị ở Đài Loan dựa trên cơ sở hiến pháp ban hành năm 1947. Văn kiện
này quy định một cơ cấu gồm nội các song hành với hệ thống các ban ngành trong
chính phủ. Tất cả công dân trên 20 tuổi đều có quyền đi bầu. Đầu thập niên 1990, Đài
Loan chuyển từ nhà nước độc đảng sang thể chế dân chủ.


Tự do hóa chính sách thương mại với mục tiêu thúc đẩy nhập khẩu vào những năm
cuối 1980 là nhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế tiềm năng và khôi phục
cân bằng kinh tế vĩ mô. Chẳng hạn, tăng nhu cầu nhập khẩu về mặt lý thuyết có thể
giảm áp lực đối với đồng NT$ và giúp nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu
Đài Loan trong dài hạn. Quá trình tự do hóa thương mại đã làm giảm đáng kể thuế
nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, nới lỏng các qui định về đăng ký kinh
21
doanh. Năm 1988, 3.467 mặt hàng, chiếm 45% tổng số các mặt hàng thương mại của
Đài Loan đã có mức giảm thuế 41,3%. Năm 1999, thêm 4.900 mặt hàng giảm thuế
trung bình 20,2%. Cùng năm đó, mức thuế danh nghĩa trung bình của Đài Loan đã
giảm xuống còn 9,7%, thấp hơn nhiều so với mức 30,8% của năm 1984. Như vậy, đã
có sự giảm thuế đáng kể vào nửa sau của những năm 1980 và đầu những năm 1990.
Năm 1998, Đài Loan đã đưa ra một danh sách các mặt hàng nhập khẩu cần có giấy
phép, số cần có giấy phép nhập khẩu đã giảm đi rất nhiều so với trước. Năm 2001, 98%
thị trường Đài Loan đã mở cửa cho hàng hóa nước ngoài vào chính thức và thuế nhập
khẩu trung bình giảm xuống còn 8,2%. Sau khi gia nhập WTO mức thuế nhập khẩu áp
dụng cho những sản phẩm hoàn chỉnh là 6,5%, với sản phẩm trung gian là 5,5%, với
nguyên liệu và các sản phẩm dược là 0%. Vào tháng 5 năm 2002, Đài Loan đã xóa bỏ
những hạn chế về nhập khẩu đối với 95% trong tổng số 10.616 mặt hàng nhập khẩu.
Trung tâm của chính sách thương mại hiện nay của Đài Loan là vấn đề trao đổi kinh tế
với Trung Quốc đại lục. Từ 1949 đến 1988, chính quyền Đài Loan cấm buôn bán với
Trung Quốc đại lục. Nhưng từ sau năm 1988, những hạn chế này đã dần được nới lỏng
mặc dù phần lớn hàng hóa được trao đổi thông qua Hồng Kông. Chính sách tự do hóa
thương mại của Đài Loan với Trung Quốc lục địa đã thúc đẩy sự bùng nổ về thương
mại giữa hai bờ eo biển Đài Loan trong những năm 1990. Trung Quốc đại lục trở thành
thị trường xuất khẩu, nguồn nhập khẩu nguyên liệu và bán thành phẩm quan trọng đối
với nền kinh tế Đài Loan. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong thương mại giữa hai
bờ eo biển. Chẳng hạn như việc cấm xuất khẩu hàng công nghệ cao mang tính chiến
lược sang Trung Quốc đã được ghi trong Luật Ngoại thương năm 1993, và những hạn
chế đó vẫn được duy trì sau khi đạo luật này được sửa đổi vào năm 1997 và 1999. Mặc

20%. Con số này ít hơn nhiều so với mức ước tính 30,7% đối với Hàn Quốc năm 1996
và 173% đối với Nhật Bản năm 1994. Tuy nhiên, Hàn Quốc đã xóa bỏ nhiều rào cản
thương mại vào nửa sau của những năm 1990, đặc biệt từ sau khủng hoảng tài chính
1997-1998 và Nhật Bản cũng làm như vậy thông qua chương trình phân quyền. Mức
thuế nhập khẩu 20% là mức độ bảo hộ khó có thể được bạn hàng của Đài Loan chấp
nhận khi đưa ra thảo luận trong các cuộc đàm phán song phương để Đài Loan gia nhập
WTO.
Quá trình gia nhập WTO của Đài Loan đã góp phần thúc đẩy tự do hóa chính sách
thương mại của Đài Loan trong những năm 1990. Đài Loan phải thực hiện các biện
pháp tự do hóa khác nhau trong vòng từ 2 đến 9 năm để đáp ứng yêu cầu đối với một
quốc gia muốn gia nhập WTO. Cụ thể là sẽ giảm thuế nhập khẩu nông sản từ 15,5%
xuống còn 12,9%, đối với hàng công nghiệp sẽ giảm từ 6,2 xuống 4,3% sau khi thực
hiện đầy đủ cam kết. Mức thuế này sẽ áp dụng đối với 1.021 mặt hàng nông sản và
3.470 mặt hàng công nghiệp. Thuế nhập khẩu ô tô sẽ giảm xuống còn 16% và 10 % đối
với linh kiện ô tô. Hàng dệt may sẽ giảm từ 12 xuống 10%, hàng điện tử sẽ giảm từ
trên 10% xuống dưới 10%. Giảm số giấy phép nhập khẩu.
Năm 2001, Đài Loan đã thực hiện những yêu cầu pháp lý khi gia nhập WTO về đồng
NT$. Tháng giêng năm 2002 Đài Loan đã chính thức trở thành thành viên của WTO.
Như vậy là mong muốn trở thành thành viên chính thức của WTO đã thúc đẩy Đài
Loan tự do hóa chính sách thương mại. Tuy nhiên, hoạt động của chính phủ vẫn còn
giữ vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy thương mại và trong chiến lược quốc tế hóa
của Đài Loan.
2.3 Điều kiện tiền tệ, tín dụng
Tân Đài Tệ nghĩa là Đô La Đài Loan, mã tiền tệ TWD, là đơn vị tiền tệ chính thức của
Trung Hoa Dân Quốc bên trong lãnh thổ Đài Loan. Ban đầu được phát hành bởi ngân
hành Đài Loan, hiện nay bởi ngân hàng trung ương Trung Hoa Dân Quốc.
2.4 Dung lượng thị trường
• Môi trường kinh tế
23
GDP: tính theo sức mua tương đương (PPP) – 631,2 tỉ USD

trong nội các không do dân bầu cử mà do chỉ định.
Đài Loan còn có cả một điều luật bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có nêu rõ các
quyền mà người tiêu dùng đượchưởng và những chế phạt cho những doanh
nghiệp vi phạm lợi ích của người tiêu dùng. Bộ luật được ban hành năm 1994 và
có hiệu lực thi hành từ 3/1994.
• Môi trường văn hóa
Dân số Đài Loan bao gồm 22.700.000 người.
Ngôn ngữ: tiếng phổ thông, Minna, thổ ngữ Hakka.
Tôn giáo: lão giáo, phật giáo, thiên chúa giáo.
Thành phần sắc tộc: người Đài Loan, người Hoa Lục, thổ dân.
Tuổi thọ trung bình: 80 đối với nữ, 74 đối với nam.
24
Với đặc điểm thành phần dân tộc và tôn giáo trên do vậy, người Đài Loan có
nhiều đặc điểm giống với người dân Việt Nam và Trung Quốc, đây cũng là một
trong những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi nắm bắt
tâm lí người tiêu dùng. Do vậy, người Đài Loan rất thích màu sắc và sự cầu kì
trong hoa văn họa tiết. Có nghĩa là người Đài Loan rất coi trọng mẫu mã. Yêu
cầu về chức năng sản phẩm nhưng thói quen sản phẩm được đánh giá là “ mẫu
mã đẹp và chất lượng tốt” .Đối với người Đài Loan họ có thể chấp nhận trả giá
cao hơn rất nhiều lần cho một sản phẩm có mẫu mã đẹp mặc dù chất lượng của
nó không phải là hoàn hảo so với sản phẩm cùng loại. Người Đài Loan luôn cho
rằng mẫu mã đẹp có thể lằm tăng thêm giá trị cho sảm phẩm và thể hiện khiếu
thẩm mỹ cả người tiêu dùng. Mẫu mã đẹp sẽ tương đương với việc đánh giá
danh tiếng của sản phẩm. Bất kể là loại đắt hay rẻ tiền nhưng nó được điều tiết
bởi sở thích và ý muốn trưng bày cho người khác xem và thưởng thức và thể
hiện thẩm mỹ của người tiêu dùng.
Bên cạch đó, người tiêu dùng Đài Loan còn rất quan tâm đến chất lượng sản
phẩm, quan niệm cũng có rất nhiều nhưng chất lượng thể hiện ở nguồn gốc sản
phẩm, về các yêu cầu đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Đã có nhiều hàng hóa
của Việt Nam bị cấm xuất khẩu sang Đài Loan hay bị trả lại do sự thiếu sót về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status