chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở việt nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………1
B. NỘI DUNG TIỂU LUẬN………………………………………………………5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……………………………… 5
1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan…………………………………5
1.2. Khái quát quá trình hình thành nền kinh tế tri thức……………………… 6
1.3. Một số đặc điểm cơ bản của kinh tế tri thức…………………………………7
1.4. Kinh tế tri thức và chủ nghĩa Mác – Lênin………………………………… 9
1.5. Quan điểm của Đảng và nhà nước về kinh tế tri thức………………………11
CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG NỀN KTTT VÀ MỘT SỐ GIẢI GIẢI
PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TÊ TRI
THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA……….12
2.1.Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới trong thế kỷ
XXI………………………………………………………………………………12
2.2.Chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hóa hiện nay……………………………………………………………….14
2.3. Giải pháp chủ yếu cho nền kinh tế tri thức của Việt Nam hiện nay…………22
C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Kinh tế tri thức là một khái niệm mới, về nội hàm, kinh tế tri thức phản ánh một
trình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của loài người. Hiện nay xu
hướng phát triển kinh tế tri thức đang tác động ngày càng sâu rộng trên mọi khía
cạnh, lĩnh vực của đời sống nhân loại; có thể nói kinh tế tri thức vừa là mục tiêu
vừa là xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người trong tương lai gần. Kinh tế tri
thức được xác định chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế đang phát triển
tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đón bắt và tận
dụng cơ hội. Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra thách thức lớn hơn bao giờ hết
đối với các nước đang phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là khoảng cách ngày
càng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển.

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2004.
- Nghiên cứu kinh tế tri thức nhiều năm, cho đến năm 2006, PGS.TS Phí Mạnh
Hồng chủ trì đề tài “ Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức – Cơ hội và thách
thức đặt ra cho Việt nam”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*Mục đích: Cần làm rõ chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong
quá trình công nghiệp hóa hiện nay:
- Về mặt lý luận: Cần làm rõ được khái niệm kinh tế tri thức đặc điểm cũng như vai
trò của kinh tế tri thức; nêu nên một số quan điểm của C.Mác của Đảng và nhà
nước về kinh tế tri thức; chứng minh phát triển kinh tế tri thức là tất yếu trong giai
đoạn hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: Cần khảo sát, đánh giá thực trạng nền kinh tế tri thức ở các
nước phát triển và các nước đang phát triển và của Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, có những cơ hội và thách thức gì khi xây dựng nền kinh tế tri thức và
đưa ra những biện pháp để xây dừng thành công nền kinh tế tri thức.
* Nhiệm vụ:
- Thứ nhất: Một số khái niệm có liên quan như ( kinh tế tri thức là gì? CNH-HĐH
là gì? ); đặc điểm của kinh tế tri thức. Quan điểm của Đảng và nhà nước về kinh tế
tri thức.
- Thứ hai: Nghiên cứu tình hình kinh tế tri thức trên quốc tế và nêu nên thực trạng
kinh tế tri thức của nước ta trong thời gian qua. Từ đó rút ra những mặt mạnh và
mặt yếu của Việt Nam trên con đường xây dựng nền kinh tế tri thức
- Thứ ba: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trên con đường xây dựng nền kinh
tế tri thức của Việt Nam, từ đó đưa ra một vài giải pháp tiếp cận để xây dựng
thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế tri
thức ở Việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện nay.
- Thứ nhất: Đánh giá nền kinh tế tri thức của Việt Nam đang ở mức độ nào, những

2010] có đưa ra quan điểm: “Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh
tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và
dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia”
b.Tri thức: Theo OECD: “Tri thức bao gồm toàn bộ kết quả, về trí lực của loài
người sáng tạo ra từ trước đến nay, trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về
quản lý là các bộ phận quan trọng nhất”[ chuyên đề kinh tế chính trị Mác – Lênin,
tr 51, tr 52].
c. Kinh tế tri thức: Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về kinh
tế tri thức, trong đó khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất là khái niệm của tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD ( Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế).
Năm 1996, OECD đưa ra định nghĩa: “ Kinh tế tri thức là những nền kinh tế dựa
trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin”. Nhưng
đến năm 2000, OECD và APEC đã điều chỉnh lai: “ Kinh tế tri thức là nền kinh tế
trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của
sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành khinh tế”.
1.1.2. Chiến lược: Là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách
để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng
có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết
kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện
pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong quân sự, chiến lược
khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi
chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau. Nghĩa là
cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng.
1.1.3. Công nghiệp hóa: Là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức
lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công công nghệ, phương tiện, phương pháp ngay tiến, hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao
động xã hội cao.
1.2. Khái quát quá trình hình thành nền kinh tế tri thức:

năng, nguồn phát minh và công nghệ hiện đại đã trở thành lợi thế cạnh tranh quyết
định. Lực lượng nắm giữ tri thức sẽ là động lực phát triển của xã hội và là tầng lớp
quyết định vận mệnh của mỗi dân tộc
1.3.2. Kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh:
Trong nền kinh tế tri thức có sự biến đổi sâu sắc và nhanh chóng cơ cấu tổ
chức, phương thức hoạt động [chuyên đề kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr 56]. Các
ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học công
nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số. Các ngành kinh tế như công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, điện tử, viễn thông… ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong nền
kinh tế. Sáng tạo trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển. Cái có giá trị nhất
là cái chưa biết, sự hao mòn vô hình diễn da rất nhanh đối với những cái đã biết
đã được sử dụng.[chuyên đề kinh tế chính trị Mác- Lênin, tr 57].
Trong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chính là sự sáng tạo ra
cái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới người tiêu dùng nhanh hơn. Sự phát
triển kinh tế là do sự không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm. Do đó
nền kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rất nhanh, “ làm việc và kinh doanh theo
mức độ của tư duy” ( Bill Gates, 2000).Sản xuất công nghệ trở thành ngành sản
xuất chủ đạo. Các khu công nghệ phát triển nhanh, đó là hình thức tổ chức sản xuất
cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. KTTT là nền kinh tế rất nhiều biến động, có
nhiều rủi ro. Có người gọi KTTT là nền kinh tể rủi ro, kinh tế mạo hiểm.
1.3.3. Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất:
Nhờ có mạng thông tin, tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi người; mạng
gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau, rút ngắn thời gian, xoá khoảng cách
không gian; các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên sôi động, nhanh nhạy, sản
xuất gắn chặt với thị trường; tổ chức quản lý có hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triển
dân chủ, công khai, minh bạch. Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng
nhất của nền kinh tế. Nhiều người gọi nền KTTT là kinh tế thông tin. Có xã hội
thông tin mới có KTTT.
1.3.4. Học tập trở thành yêu cầu thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời
của mỗi người:

Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ
thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động mà phụ thuộc ngày càng nhiều
vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc
vào việc ứng dụng khoa học hay vào sản xuất. Tính chất của lao động cũng thay
đổi. Con người là người kiểm soát và điều tiết bản thân quá trình sản xuất.
-Việc hệ thống máy móc tự động thay thế lao động giản đơn, làm giảm lao
động trực tiếp không hề có ý nghĩa là giảm vai trò nhân tố con người trong lao
động sản xuất. Bời vì, như C.Mác đã khẳng định:“ Thiên nhiên không chế tạo ra
máy móc…Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người…đều là
sức mạnh đã vật hóa của tri thức…”
Những điều nói trên hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của kinh tế tri thức hiện
nay: hệ thống máy móc phát triển cùng với sự tích lũy những tri thức xã hội và nói
chung, sự tích lũy sức sản xuất. Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ, sản xuất
ngày càng trở nên chặt chẽ. Tri thức, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trự
tiếp.
- Trong nền kinh tế tri thức, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lự chủ
yếu thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất. Muốn thắng trong cạnh tranh, phải luôn
luôn tìm được công nghệ mới. Các Mác đã chỉ rõ: “ Phát minh trở thành một nghề
đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp
tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”.
- C.Mác đã dự đoán rằng, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sẽ
nâng cao năng xuất lao động xã hội. Cơ sở chủ yếu của sản xuất và của cải không
phải là lao động trực tiếp do chính con người thực hiện, không phải là thời gian
trong đó anh ta lao động, mà là sự chiếm hữu sức sản xuất của chính con người, là
nhận thức của con người về giới tự nhiên và sự thống trị giới tự nhiên do sự tồn tại
của con người với tư cách là một cơ thể mang tính xã hội.
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tri thức.
Đại hội VII của Đảng quyết định chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã
hội 1991- 2000. Đại hội IX đánh giá việc thực hiện chiến lược đó và thực hiện
chiến lược phát triển kinh tê- xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI- “ Chiến lược đẩy

nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở
mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ,
từng bước phát triển kinh tế tri thức”[Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 91].
CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ
MỘT SỐ GIẢI GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG VIỆC XÂY
DỰNG NỀN KINH TÊ TRI THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA
2.1. Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới trong thế kỷ XXI
Thực tế cho thấy, việc Mỹ và các nước EU đã vượt trội so với các nước châu Á
và các nước thuộc châu lục khác trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức không chỉ
do họ có những điều kiện xuất phát về kinh tế và kỹ thuật cao hơn, mà trước hết là
do các nước này đã sớm nhận thức được vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức,
tính tất yếu và những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế
này. Họ đã hiểu rằng công nghệ thông tin và rộng hơn là nền kinh tế tri thức không
những đòi hỏi những điều kiện ra đời và phát triển khác hẳn và một khi nó xuất
hiện nó cũng khiến cho các điều kiện cũ trở nên lỗi thời một cách nhanh chóng, do
đó họ sớm có những giải pháp đúng đắn để phát triển hoặc tạo điều kiện cho sự ra
đời của nền kinh tế tri thức. Mỹ là nước đang dẫn đầu xu thế chuyển từ nền kinh tế
hậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức, đứng đầu là công
nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin đã xuất hiện sớm và khá thành công ở
Mỹ. Ngoài ra, những yếu tố của nền kinh tế tri thức cũng đã phát triển và đạt được
mức khá cao trong nhiều nước EU.
Trong khi đó, ở không ít các nước châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh, người ta còn
hết sức mơ hồ về nền kinh tế tri thức. Cho nên, ở các nước này, sự đầu tư cho việc
phát triển khoa học công nghệ mà trước hết là công nghệ thông tin và cho việc xây
dựng nền kinh tế tri thức chưa được quan tâm thích đáng. Ở nhiều nước, người ta
vẫn bám lấy và coi trọng những tư duy và thể chế cũ và hậu quả là nền kinh tế của
các nước này bị lạc hậu tương đối so với các nước Âu Mỹ trong việc phát triển
khoa học kỹ thuật và trong việc tiến đến nền kinh tế tri thức. Những cuộc điều tra

nghiệp hóa hiện nay.
2.2.1. Những thời cơ và thách thức của Việt Nam để xây dựng nền kinh tế tri
thức.
a. Thời cơ xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam: Quá trình của
các nền kinh tế phát triển tới kinh tế tri thức là một quá trình tự nhiên, hợp quy luật
phát triển của lịch sử xã hội loài người. Trước xu thế phát triển nền kinh tế tri thức
toàn cầu, các nước đang phát triển ý thức ưu thế vượt trội của kinh tế tri thức so
với kinh tế công nghiệp; họ chủ động chuyển khai các công trình, chiến lược, kế
hoạch hành động đi vào kinh tế tri thức. Hội nhập quốc tế, khai thác những ưu thế
của kinh tế tri thức toàn cầu để phát triển đất nước, đó là sự lựa chọn khả quan di
nhất đối với các nước đang phát triển. Tự do hóa thị trường đang tạo tiền đề thuận
lợi cho kinh tế thế giới, đặc biệt là thông tin, viễn thông vận tải, từ đó hình thành
một kết cấu hạ tầng toàn cầu thúc đẩy rất mạnh việc điều chỉnh các ngành cũ và
phát triển các ngành mới. Hệ thống thông tin toàn cầu tạo cơ hội cho nhiều nước
đang phát triển có thể truy cập, khai thác kho tri thức toàn cầu để phát triển nhanh,
thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, nhưng đồng thời cũng làm tăng sự lệ
thuộc vào các siêu cường. Các công ty xuyên quốc gia phát triển một nền kỹ thuật
tiên tiến hơn, vừa đem đến cho các nước đang phát triển những sản phẩm có giá
thành thấp hơn nhờ nguồn tài nguyên dồi dào và sức lao động rẻ của các nước đang
phát triển. Các nước đi sau trong đó có Việt Nam phải có đủ điều kiện và bản lĩnh
tiếp kịp các nước đi trước, nếu không đủ bản lĩnh, không chớp lấy thời cơ thì đất
nước sẽ bị tụt hậu ngày càng xa hơn, và bị gạt ra ngoài lề.
b. Thách thức của Việt Nam khi tiến lên xây dựng nền kinh tế tri thức: Khó
khăn lớn nhất đối với nước ta hiện này là trình độ chung về hiện đại hóa nông
nghiệp còn thấp, thiếu công nghiệp hiện đại, năng suất và hiệu quả sản xuất nông
nghiệp tương đối thấp. Toàn cầu hóa cũng đặt ra cho Việt nam những thách thức
tưởng chừng không thể vượt qua được, gia nhập AFTA và WTO, Chúng ta phải
đương đầu với sự cạnh tranh quốc tế do toàn cầu hóa mậu dich đem lai. Tri thức là
của nhân loại, các thành tựu khoa học chủ yếu được các nước giàu có tạo ra, để
chuyển giao công nghệ các nước nghèo như Việt Nam phải tốn rất nhiều của cải,

sản Việt Nam ]
Sự đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các
quốc gia trong khu vực là rất thấp. Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3%
GDP cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là
1%, Singapore là 3%. Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển
dụng: năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy
mô hoạt động, Việt Nam vẫn “khát” nhân sự có trình độ. Hiện nay, tỷ lệ lao động
qua đào tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con số rất thấp so với các nước
trong khu vực và trên thế giới.
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công
nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều
thiếu thông tin về công nghệ. Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu và Quản lý
TW trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới công nghệ.
Xét một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay đang ở thời kỳ hình thành.
2.2.3. Những thành công và thất bại trong bước đầu xây dựng nền kinh tế tri
thức ở nước ta.
a. Thành công:
Ngày càng nhiều nghề đỏi hỏi kỹ thuật cao phát triển, cùng với đó là các tập
đoàn lớn trong lĩnh vực này xuất hiện. Tiêu biểu nhất chúng ta phải kể đến tập
đoàn FPT- tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam. Ngành công nghệ
thông tin ngày càng đống góp nhiều hơn vào ngân sách chung của cả nước. Công
nghệ thông tin cũng đã được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ.
Chúng ta cũng đã có các dịch vụ bán hàng qua mạng, tìm kiếm trên mạng…Ngoài
ra, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã có trang web riêng có đầy đủ các tin tức về
Đẳng, các Nghị quyết, chính sách, các bộ luật hiện hành. Ngoài ra việc tham khảo,
mọi người còn có thể đóng góp ý kiến của mình thông qua mạng. Người Việt nam
ngày càng có cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơ. Số lượng sinh viên du học ngày càng
tăng, đây là lực lượng rất quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước sau này.
Chúng ta cũng có nhiều nhân tài công nghệ thông tin đang theo học nước ngoài.

Trong xu thế toàn cầu hóa, nước ta ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại với
nhiều quốc gia trên thế giới theo tiêu chí: “ Việt Nam sẵn sang là bạn với tất cả
các quốc gia trên thế giới”. Việc gia nhập WTO và tổ chức thành công hội nghị
APEC lần thứ 14 ( năm 2006) càng chứng tỏ được vị thế của nước ta trên trường
quốc tế. Tuy tiếp xúc với các nền văn hóa mới trên thế giới nhưng nền văn hóa
Việt nam vẫn luôn được các nước trên thế giới coi là một nền văn hóa đậm đàn bản
sắc dân tộc.
b. Thất bại:
Việc tuyên truyền và giáo dục cho mọi người hiểu về kinh tế tri thức ở nước ta
vẫn còn hạn chế. Rất nhiều người thậm chí còn chưa hề nghe thấy tên “ Kinh tế tri
thức”.Tuy tăng trưởng kinh tế của nước ta luôn ở mức cao nhưng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở nước ta vẫn còn chậm. Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp ở
nước ta vẫn còn chậm chạp và gặp nhiều khó khăn. Đây là nguyên nhân chính làm
cho nền kinh tế nước ta vẫn còn thiên về đâu tư hữu hình theo kiểu toàn dân, trong
khi đó đầu tư vô hình, vốn trí tuệ chưa được quan tâm xây dựng và phát triển đúng
mức; một số cơ chế chính sách của ta vẫn còn mang đậm tàn dư của nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung bao ấp. Khả năng giải quyết việc làm của nước ta chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tế: mỗi năm nước ta có thêm khoảng 1,3 triệu lao động mới
nhưng chỉ có 1,1 triệu trong số này có được việc làm. Vì vậy, tỉ lệ thất nghiệp ở
nước ta đang có xu hướng tăng lên.
Nguồn nhân lực- nhân tố quan trọng nhất cho nước ta tiến vào kinh tế tri thức
tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều điều đáng nói: Hiện nay, Việt Nam có
trên 43 triệu lao động nhưng 74,7% chưa được qua đào tạo, còn số còn lại thì
không thật giỏi nghề. Tỉ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 5,5%.
Những công việc đòi hỏi trình độ cao cấp thì hầu hết chúng ta vẫn phải thuê lao
động, chuyên gia nước ngoài. Xuất khẩu lao động là giải pháp giải quyết việc làm
rất có hiệu quả, nhưng nhiều người lao động ở nước ngoài tự ý phá hợp đồng, điều
này tạo ra ấn tượng không tốt, làm mất danh tiếng của người lao động Việt Nam
đối với bạn bè quốc tế. Khả năng làm việc theo nhóm của lao động nước ta là rất
kém, những việc đòi hỏi sự phối hợp của nhiều người thì hiệu quả thường không

thuốc lá Vinataba bị Indonesia sử dụng ở 10 nước, chúng ta chỉ mới đòi lại được
thương hiệu ở 2 nước là Lào và Campuchia.
2.3. Một số giải pháp để thực hiện thành công việc xây dựng nền kinh tế tri
thức của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa.
Coi trọng nhân tài, coi nhân tài là vốn quý của đất nước. Hướng các doanh
nghiệp, công sở vào khai thác những ưu thế của công nghệ thông tin. Xây dựng
quan điểm và phương thức điều hàn ở tầm vi mô và vĩ mô phù hợp với nền kinh tế
tri thức. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, tìm kiếm mô hình mới, phát triển lý luận dựa
trên bối cảnh mới của thời đại. Để nền kinh tế tri thức Việt Nam phát triển nhanh,
ổn định trong thế kỷ XXI, chúng ta phải dứt khoát phải tìm đến các giải pháp sau:
[TS. Trần Xuân Kiên, “ Triển vọng kinh tế Việt Nam trong thế kỷ XXI”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr 204].
a. Các giải pháp về giáo dục, khoa học công nghệ: Đầu tư thỏa đáng cho giáo
dục, đặc biệt là giáo dục kỹ thuật; cần cải tiến hệ thống giáo dục, cho phép các
viện, trung tâm nghiên cứu của các tổ chức xã hội nghề nghiệp được đào tạo từ cử
nhân đến tiến sĩ; việc đào tạo tiến sĩ nên giao cho các cơ sở chứ bộ chủ quản không
nên làm thay. Đầu tư nhiều hơn cho khoa học và công nghệ, khuyến khích các viện
nghiên cứu phi chính phủ thực hiên các dự án, đề tài khoa học; Chính phủ cần hỗ
trợ xây trụ sở, vốn để thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ. Khuyến khích
quá trình học tập suốt đời của mọi công dân.
b. Các giải pháp tài chính ngân hàng: Sửa đổi hợp lý các chính sách tài chính,
tiền tệ. Phát triển mạng lưới ngân hàng ở khu vực nông thôn và miề núi, tạo điều
kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và các xí nghiệp dân doanh được vay vốn dễ
dàng để phát triển sản xuất.
c. Các giải pháp về cải cách hành chính: Đẩy mạnh cải cách hành chính theo
chiều sâu, đẩy nhanh việc bãi bỏ cơ chế “ xin-cho” bằng cơ chế “ yêu cầu thực
hiên”; Giảm các chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp; Tăng lương để đội ngũ
công chức đủ sống bằng lương của mình; Khuyến khích các doanh nghiệp vừa và
nhỏ của khu vực kinh tế dân doanh; Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý trong
doanh nghiệp nhà nước và dân doanh theo ba hướng: (Mạnh dạn áp dụng công

tài; Có đãi ngộ xứng đáng; Có quy hoạch bài bản, quy hoạch thường xuyên và dài
hạn 1 năm, 2 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm cho các chức danh: Trưởng, phó ban các
ban, ngành, vụ, viện, trường học cho đến Thứ trưởng, Bộ trưởng các bộ, ngành, Ủy
viên dự khuyết, Ủy viên Trung ương, Phó Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch
nước, Thủ tướng, Tổng Bí thư…
h. Một nền văn hóa thích hợp với kinh tế tri thức: Nền văn hóa thích hợp với
kinh tế tri thức cần phải có 4 nét đặc trưng lớn: Thứ nhất là chủ nghĩa nhân văn;
Thứ hai là trình độ học vấn hiện đại tương ứng với từng cấp, từ tiểu học đến sau
đại học, mỗi cấp ấy có sự hiện đại của nó. Cộng với trình độ học vấn hiện đại ấy là
một kỹ năng đa phương diện, chứ không phải đơn tuyến chỉ chuyên sâu; Thứ ba là
khát vọng và khả năng đổi mới, sáng tạo. Có nhiều người cho rằng đây là đặc trưng
quan trọng nhất của văn hóa thích hợp với kinh tế tri thức; Thứ tư là khả năng thiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status