Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN KHẮC THÁI ĐỂN, CHÙA, ĐÌNH LÀNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1945 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Đàm Thị Uyên
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cảm ơn tập thể lớp cao học K17 chuyên ngành Lịch sử trường
ĐHSP Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và
đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả để hoàn thành luận văn này.
Tác giả Nguyễn Khắc Thái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục ................................................................................................................ i
Danh mục bảng .................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI
NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1945 ....................................................................... 7
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ........................................................... 7
1.2. Các thành phần dân tộc ........................................................................... 9
1.2.1. Dân tộc kinh ................................................................................... 10
1.2.2. Dân tộc Tày, Nùng ......................................................................... 10
1.2.3. Dân tộc Sán Dìu ............................................................................. 11
3.3. Đình, chùa là nơi lưu giữ nhiều hoài niệm lịch sử ................................ 72
3.4. Giá trị du lịch, gắn kết khối cộng đồng xã hội ...................................... 74
TIỂU KẾT. ................................................................................................... 77
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 82
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Các thành phần dân tộc của huyện Đồng Hỷ năm 2006 ................. 12
Bảng 2.1. Hệ thống đền và sự phân bố ............................................................ 27
Bảng 2.2. Số lượng và sự phân bố của đình làng ở huyện Đồng Hỷ ............ 28
Bảng 2.3. Hệ thống chùa ở huyện Đồng Hỷ .................................................... 30
Bảng 2.4. Hệ thống đình làng và các vị thần được thờ cúng ở huyện Đồng Hỷ .. 37
Bảng 2.5. Hệ thống đền ở huyện Đồng Hỷ và các vị thần được thờ cúng...... 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta có một nền văn hóa đa dạng phong phú, nó như một bức
Chùa gắn liền với một cơ sở lý luận, là nơi thờ tự của đạo Phật. Một tôn
giáo gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời, nó có sự ảnh hưởng đáng kể đến đời
sống tinh thần.
Đình làng là nơi thờ cúng thành hoàng - người có công khai phá lập làng
và đình làng đôi khi cũng là nơi thể hiện quyền uy của giai cấp trên ở địa
phương thông qua hương ước, lệ làng. Nhưng quan trọng hơn đình làng thường
xuyên là nơi tổ chức lễ hội, nơi giao lưu văn hóa của người dân thôn xã.
Đền là nơi thờ tự các bậc quân vương thánh hiền qua các thời kỳ lịch sử
với công lao to lớn làm cho quốc thịnh dân an, được nhân dân tôn kính.
Vì thế đã từ lâu: Đền, chùa, đình làng đã trở thành đối tượng nghiên
cứu dưới nhiều góc độ văn hóa dân gian, kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo, khảo
cổ học, dân tộc học, lịch sử học, ...
+ "Lệ làng, phép nước", nhà xuất bản Quốc gia 1985, của Bùi Xuân
Đình, hệ thống khá chân thực về lệ làng và phép nước, cũng như mối quan hệ
giữa 2 phạm trù này, đâu là mặt tích cực cũng như hạn chế của lệ làng.
+ "Hương ước lệ làng", nhà xuất bản chính trị Quốc gia 1998, của luật
gia Lê Đức Tiết chủ yếu phản ánh những giá trị tích cực gắn liền với biến cố
thăng trầm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ...
+ "Một số vấn đề làng xã Việt Nam", nhà xuất bản Quốc gia 2009,
của Nguyễn Quang Ngọc khái quát lại một cách phong phú về làng xã Việt
Nam cổ truyền với nếp sống linh hoạt cả về vật chất lẫn tinh thần từ đó
giúp ta có cái nhìn toàn cảnh về những nét biểu trưng của văn hóa làng xã
Việt Nam xưa và nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
+ "Chùa Việt" (Trần Lâm Biên), xuất bản 1996, đã khái quát về những
chuyển biến của chùa Việt, phân tích văn hóa, hướng bố cục chung và khảo tả
về hệ thống tượng thờ trong chùa.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là hệ thống đền, chùa, đình
làng của Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên trước cách mạng tháng 8/1945.
Về khía cạnh: niên đại các di tích, các vị thần, phật thành hoàng, các vị
quan tướng vua chúa qua các thời đại các câu chuyện truyền thuyết, những
điển tích, sắc phong. . . Cũng như nghệ thuật kiến trúc điêu khắc hội họa. Từ
đó thấy được mối quan hệ giữa đền, chùa, đình làng và vai trò của nó đối với
đời sống tinh thần của cư dân Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu gồm các di sản hiện hữu, còn dấu ấn trong nhân
dân hoặc những công trình đang được tôn tạo trên địa bàn.
3.3. Mục đích
Tôi mong muốn rằng qua đề tài luận văn này sẽ phản ánh được một
cách khái quát về hệ thống đền, chùa, đình làng Ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên
trước 1945 .
Từ đó tôi và cư dân trên địa bàn sẽ có sự hiểu biết đầy đủ hơn về những
nét văn hóa truyền thống tết đẹp của làng xã Việt Nam xưa và nay. Qua đó
cũng cung cấp thêm cho giáo viên và học sinh những nhận thức sâu sắc hơn
về văn hóa làng để phục vụ thiết thực cho công tác dạy và học từ đó nhân dân
có được sự nhận thức đúng đắn khách quan, tết đẹp về tín ngưỡng và tôn giáo
trên quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của
huyện Đồng Hỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Tìm hiểu đền, chùa, đình làng huyện Đồng Hỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
TRƢỚC NĂM 1945
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “ Huyện Đồng Hỷ ở cách
phủ 14 dặm về phía đông bắc, đông tây cách 41 dặm, nam bắc cách nhau 97
dặm, Phía đông đến địa giới huyện Tư Nông 6 dặm, phía tây đến địa giới
huyện Phú Lương phủ Tùng Hóa 35 dặm, Phía nam đến địa giới huyện Phổ
Yên 45 dặm, Phía bắc đến địa giới huyện Vũ Nhai 52 dặm” [15, tr 157].
Hiện nay Đồng Hỷ là một tỉnh miền núi của tỉnh Thái Nguyên cách
trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây Bắc. Toàn huyện có 17 xã và 3
thị trấn. Địa phận của huyện dài từ 12
o
32’ đến 21
o
51’ vĩ Bắc, 105
o
46’ đến
106
o
04’ kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai Và tỉnh Bắc Cạn, phía Nam
giáp huyện Phú Bình và Thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc
Giang, Phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.
Địa hình của huyện có đặc điểm là thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây
o
C, nhiều năm cao nhất đạt 27
o
C, thấp nhất đạt 20
o
C, mùa hè
tiết trời nóng bức, mùa đông lạnh, ảnh hưởng không tốt đến độ sinh trưởng của
cây trồng. Lượng mưa trung bình hàng năm là: 2200mm. Mùa mưa nước sông
dâng cao thường gây lũ lụt ảnh hưởng đến mùa màng và đời sống nhân dân.
Sông suối ở đ©y nhìn chung đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc
và Đông Bắc chảy vào Sông Cầu. Sông Cầu là con sông lớn nhất chảy theo
hướng Bắc Nam, dài 47km, nằm ở biên giới phía Tây huyện Đồng Hỷ. Sông
là nguồn cung cấp nước chính của huyện, không chỉ cung cấp cho sản xuất
nông nghiệp mà còn cho phép khai thác vận tải đường thủy với các tỉnh Bắc
Cạn, Bắc Gang, Bắc Ninh, Hải Dương v.v… Bên cạnh đó, huyện còn có các
con suối: Khe Mo, Ngàn Me, Thác Rạc có giá trị không nhỏ trong việc phục
vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
Giao thông đường bộ của huyện tương đối phát triển, với tổng chiều dài
729,8 km, trong đó tuyến đường 1B từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn là tuyến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
đường quan trong nhất. Điều đó đã tạo điều kiện cho việc tăng cường sự giao
lưu giữa các khu vực trong huyên và giữa huyện với các bên ngoài.
Huyện Đồng Hỷ nằm trong vành đai sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam,
thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương nên tài nguyên khoáng sản
phong phú. Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “sắt ở huyện Phổ Yên, Đồng
Hỷ và Phú Lương…” [23, tr 180]. Cụm mỏ sắt trại Cau có khối lượng khoảng
20 triệu tấn, là mỏ sắt được sắp xếp vào loại tốt nhất. Ngoài ra, còn có các loại
hầu hết các xã trong huyện.
Người Kinh có mặt làm ăn sinh sống và quần tụ ở đây từ rất sớm ngay
từ thời Lý - Trần. Họ chủ yếu là dân di cư từ miền xuôi lên theo nhiều con
đường khác nhau. Có một bộ phận là con cháu nhà Mạc hoặc dân tha phương
cầu thực lên đây khai phá ruộng đất, buôn bán làm ăn sinh cơ lập nghiệp tại
đó. Bên cạnh đó, còn có mặt của quan quân triều đình được cử lên đây theo
chế độ “Lưu quan” của triều Nguyễn. Họ mang theo cả gia quyến ở lâu dài tại
địa phương.
Để thích nghi với môi trường mới, người Việt đã có sự ảnh hưởng nét văn
hóa của các dân tộc cùng cộng cư. Đồng thời đồng bào các dân tộc nơi đây đều
có sự ảnh hưởng bởi phong tục tập quán văn hóa người Việt. Điều đó, đã tạo nên
sự phong phú trong nét văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Đồng Hỷ.
1.2.2. Dân tộc Tày, Nùng
Người Tày, Nùng định cư nhiều ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên
Quang,Thái Nguyên từ khá sớm.Trên địa bàn Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
hiện có 3 nhóm Nùng: Nùng Phảnslình, Nùng Cháo, Nùng An. Trong thời
điểm nửa đầu thế kỷ XIX họ tâp trung ở: “Năm Tổng: Thượng Nùng, Vân
Lăng, Hoá Thượng, Lịch Sơn, Minh Lý phần lớn là người Thổ” [26,tr.799].
Hiện nay, tập chung ở các xã Tân Long, Nam Hoà, Khe Mo, Hoá Trung...
Đồng bào Tày, Nùng có đời sống văn hóa vật chất, tinh thần khá phong phú,
kỹ thuật sản xuất nông nghiệp khá thành thạo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
1.2.3. Dân tộc Sán Dìu
Theo số liệu thống kê thì ở Đồng Hỷ là nơi tập trung đông nhất số
lượng Sán Dìu sinh sống trong toàn tỉnh (chiếm 40,8%) và là thành phần dân
tộc chiếm đa số trong huyện. Ngày nay, họ cư trú chủ yếu ở các xã: Nam Hoà,
Cao Ngạn, Minh Lập, Hoá Thượng...
nhiên, chiếm số lượng không nhiều. Sống tập Trung chủ yếu ở các xã: Tân
Long, Văn Hán, Hoá Thượng, Minh Lập, Quang Sơn...
Các dân tộc phân bố trên địa bàn huyện đều có đặc điểm chung là:
Sống xen cư, lấy hoạt động kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo. Họ đã tạo nên
sự cố kết, hoà hợp bền chặt trở thành một khối cộng đồng cư dân thống nhất,
đoàn kết cùng xây dựng địa phương giàu mạnh.
Số lượng các thành phần dân tộc được thể hiện qua bảng sau: (Bảng 1)
Bảng 1.1. Các thành phần dân tộc của huyện Đồng Hỷ năm 2006
STT Dân tộc Số ngƣời Tỉ lệ (%)
1 Kinh 78.705 63,25%
2 Sán Dìu 16.659 13,38%
3 Nùng 15.927 12,80%
4 Dao 5.726 4,60%
5 Tày 2.861 2,29%
6 Sán Chay 2.202 1,76%
7 Mông 2.214 1,77%
8 Dân tộc khác 133 0,10%
Tổng cộng 124.427 100%
( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên)
1.3. Khái quát về lịch sử hành chính
Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “ Đời Lý là châu Thái
Nguyên, thời thuộc Minh là huyện Đồng Hỷ, đời Lê Hồng Đức đổi làm Đồng
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
13
Gia, sau i li theo tờn c, phiờn thn h Ma ni i qun tr, bn triu u
i gia Long vn theo nh th. Nm Minh Mnh th 16 i t lu quan, lónh
Hầu hết các xã, Thị trấn của huyện hiện nay đều có đường ô tô đi vào
trung tâm, 100% số xã, thị trấn được trang bị điện thoại, đài phát thanh, Internet.
Về điều kiện đất đai địa hình được sự bồi đắp của con s«ng Cầu, Đồng
Hỷ thuận lợi phát triển các loại hình kinh tế nông lâm, ngư và công nghiệp.
Với sự quyết tâm cố gắng đồng lòng của §ảng bộ và nhân dân huyện từ
năm 2006 – 2010 nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt: Lĩnh vực Nông
– Lâm nghiệp huyện có 11.300ha điện tích đạt 51 triệu đồng/ha/năm trong đó
có 350ha cho thu nhập 100 triệu đồng/năm trên địa bàn huyện có 50 trang trại,
trong đó có 31 trang trại chăn nuôi quy mô công ngiệp. Rất nhiều hộ nông
nghiệp thu nhập hàng năm đạt trên 100 triệu đồng. đặc biệt là huyện đã hình
thành nhiều cùng sản xuất tập trung có giá trị kinh tế cao như: rau mầu, hoa,
chè, lúa…
Tèc độ tăng trưởng kinh tÕ GDP bình quân của huyện là 18,89%, vượt
chỉ tiêu đại hội đề ra; trong đó nông nghiệp tăng 35,13%, dịch vụ tăng 12,3%
nông nghiệp tăng 5,9%. Cơ cấu kinh tế năm 2010 ước.
Trong khi đó Công nghiệp đạt 48,29%, Dịch vụ đạt 31% nông nghiệp
đạt 20,8%. GDP bình quân ước tính năm 2010 đạt 17,6 triệu, tăng 3,56 lần so
với 2005. Thu ngân sách hàng năm tăng 24,4%, tăng 4,49 lần so vớinghị
quyết đại hội đề ra 2005. Sau 5 năm huyện đã triển khai 4 cụm nông nghiệp,
trong đó 3 cụm được quy hoạch chi tiết với 124 doanh nghiệp 36 hợp tác xã,
đã góp phần đẻ tạo môi trường tốt để huyện giải quyết vấn đề việc làm cho
lao động địa phương, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăng ngân sách, [7 tr 188]
(Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ)
Toàn huyÖn đã làm mới được trên 153km đường bộ, 66km đường nhựa,
hơn 100km đường cấp phối cùng với đó huyện đẩy mạnh nâng cao chất lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
biểu như nhất là: vào mùa xuân ra tết nguyên đán có các lễ hội như lễ hội chùa
Hang, lễ hội đình chùa B¶o Nang, thắng cảnh Linh Sơn, §ền Hích…
Nhìn chung cư dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ họ có một đời sống văn
hóa phong phú, ngày càng hòa quện với người miền xuôi. Hộ coi mái đình,
đÒn, ngôi chùa làng là nơi gặp gỡ trao đổi văn hóa tinh thần, nơi sinh hoạt văn
hóa tâm linh. Nhưng bên cạnh đó truyền tục thờ cúng tổ tiên vẫn được coi trọng
chẳng thế mà dân gian ta có câu “Thứ nhất thì tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba
tu chùa” âu đó cũng chính là nét đặc tr-ng của người Việt ta.
1.4.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Thời Lý (1010 – 1225), miền đất Thái Nguyên là Châu Thái Nguyên.
Đó là vùng đất rộng lớn bao gồm Thái Nguyên, Bắc Kạn và một phần Cao
Bằng ngày nay, được xem là “phiên dậu thứ 2 về phương Bắc” Trong khi đó
Đồng Hỷ giữ một vai trò quan trọng, nối liền mạch máu kinh tế, văn hoá,
chính trị giữa vùng biên giới phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Theo “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn”: xứ Thái Nguyên có vàng
bạc, đồng, sắt, tre, gỗ, củi, than công tư đầy đủ, loại có chè, dâu, gai và tôm cá
mối lợi dồi dào [23, tr162].
Trên vùng đất tiềm năng đó, hệ thống Sông Cầu, Sông Công, Sông Bắc
Giang và những con đường do thế hệ người xưa mở mang đã mở ra những
huyết mạch giao thông nèi liÒn Thái Nguyên với cả vùng Việt Bắc hùng vĩ,
rộng lớn và gắn liền với đồng bằng Bắc Bộ phì nhiêu trung tâm của cả nước.
Có địa thế chiến lược, tài nguyên đa dạng là điểm nối giữa kinh đô
Thăng Long với vùng biên thùy phía Bắc, nơi đây còn đóng góp nhân tài vật
lực góp phần cùng nhân dân cả nước kháng chiến chống xâm lược phương
Bắc bảo vệ nền độc lập dân tộc trong suốt thêi kú B¾c thuéc.
Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên hiện nay là nơi sinh
sống của các dân tộc Nùng, Sán chí, Tày, Dao, Cao Lan, Mông, Kinh.cùng
khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp lơi. Trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
18
Dng ỡnh Cỳc lónh o (1806 1824) khi ngha Nụng Vn Võn (1833
1835). Con em ng bo cỏc dõn tc ng H hng hỏi tham gia khi ngha
lm cho triu ỡnh nh Nguyn thờm lỳng tỳng.
T gia th k XIX li dng s suy yu ca triu ỡnh nh Nguyn
thc dõn Phỏp vo xõm lc nc ta. Sau khi thit lp b mỏy cai tr chỳng
ỏnh lờn cỏc tnh min nỳi phớa Bc, ti õy chỳng ó vp phi sc chin u
qu cm ca nhõn dõn trong vựng di s lónh o ca nhiu v anh hựng dõn
tc nh : Hong Hoa Thỏm, Trnh Vn Cn, Lng Ngc QuynVi õm
mu dựng ngi Vit tr ngi Vit. Ti ng H chỳng y mnh vic
phõn bit i x chia r khi i on kt ra sc búc lt sc ngi sc ca
thụng qua các chính sách su cao thu nng lm cho nhõn dõn ta tr nờn điờu
ứng. Phong tro chng gic cp nc li bựng nổ mnh m, tiờu biu cho
phong tro chng Phỏp cui thế kỷ XIX l khi ngha Yờn Th, do Hong
Hoa Thỏm lónh o. T Yờn Th, a bn hot ng ca ngha quõn lan rng
sang cỏc tnh Bc Giang, Bc Ninh, Phỳc Yờn, Thỏi Nguyờn. Nm 1908,
ngha quõn tng hot ng Hóa Thng, Tri Cau ng H v c nhõn
dõn trong vựng ht lũng ng h giỳp . Chỳng phi tha nhn: Ton b
vựng Nam Thỏi Nguyờn . đu thuc Đ Thỏm v cú thỏi chng i rừ rt
cỏc nh cm quyn Phỏp v bn x [25 tr,79]
Ngy 30/8/1917, di s ch huy ca Trnh Vn Cn (ội Cn), Lng
Ngc Quyn, anh em binh lớnh ngi Vit Thỏi Nguyờn ó ni dy khi ngha
phỏ nh lao, gii phúng 180 tự chớnh tr, lm ch th xó. Cựng vi th xó nhõn dõn
cỏc xó: Gia Sng, ng Quang, ng Bm tớch cc ng h ngha quõn, tham
gia lp phũng tuyn Gia Sng chn quõn tip vin Phỏp t H Ni lờn.
Ngy 3/2/1930, ng Cng Sn Vit Nam ra i ó m ra bc ngot