Một số trò chơi dân gian - Pdf 25

Dân tộc Việt nam có truyền thống văn hóa lâu đời, trong đó các trò chơi văn hóa- thể thao dân gian là một
hình thức không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân, dễ chơi, không tốn kém lại phù hợp với
mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp. Việc tổ chức các hoạt động văn hóa- thể thao dân gian trong đời sống sinh hoạt
thường ngày, trong các lễ hội không những làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đẩy
mạnh xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, việc đưa các hoạt động văn hóa- thể thao dân gian vào
trong các trường học sẽ tạo ra sân chơi lành mạnh, bổ ích, nâng cao sức khỏe, thể chất cho các em học
sinh, giảm bớt các tệ nạn xã hội trong thanh, thiếu niên; giáo dục truyền thống quê hương, phẩm chất, ý
thức, đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh, hòa nhập với cộng đồng xã hội.

xin giới thiệu cùng độc giả một số trò chơi văn hóa- thể thao dân gian phổ biến ở vùng quê của chúng ta.
1. BỊP MẮT BẮT DÊ:
Luật chơi: Người làm dê phải kêu "be be be" để người bắt dê định hướng
Cách chơi: Cho tất cả mọi người ngồi hoặc đứng thành vòng tròn. Mỗi lần chơi chọn hai người. Một
người làm "dê", một người làm người bắt dê. Một người khác bịp mắt cả hai người lại. Khi chơi cả hai cùng
bò trong một vòng tròn. Người làm "dê" vừa bò vừa kêu "be be be" còn người kia phải chú ý lắng nghe để
tìm được "con dê". Nếu mọi người bắt được "dê" là thắng cuộc, trò chơi tiếp tục và chọn hai người khác lên
chơi.
2. TRỐN TÌM:
Khoảng 5 đến 6 người chơi. Các bạn "oẳn tù tì", ai thua thì làm người đi tìm và nhắm mắt lại và đếm từ 1
đến 10, trong khi đó các bạn khác tìm chỗ trốn. Người đi tìm đếm xong từ 1 đến 10 thì mở mắt ra và đi tìm
người đi trốn. Nếu người đi tìm nhìn thấy người trốn thì chỉ tay về phía bạn đó và gọi tên bạn đó. Trò chơi
tiếp tục, người vừa bị phát hiện và gọi tên sẽ trở thành người đi tìm của vòng tiếp theo.
3. CHI CHI CHÀNH CHÀNH:

a. Cách chơi: khoảng từ 4 đến 5 người một nhóm. Một người làm "cái" xòe bàn tay ra, các bạn khác đặt
ngón tay vào lòng bàn tay bạn làm "cái". Một người làm "cái" vừa gõ ngón tay vừa đọc theo nhịp bài hát:
Chi chi chành chành Ba vương ngũ đế
Cái đanh thổi lửa Bắt dế đi tìm
Con ngựa đứt cương Ù à ù ập
Đếm đến "ập" người làm "cái" nắm tay để bắt ngón tay của các bạn. Các bạn rút nhanh tay ra khỏi bàn tay

một vòng, trồng chuối ) hay phải đứng ra làm cái cho một trò chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú tìm, cá sấu lên
bờ )
6. THẢ ĐỈA BA BA:
Trò chơi thể hiện việc qua sông, ruộng ngập nước mà ở dưới nước thường có đỉa. Cả nhóm làm sao
xuống nước mà đỉa không bắt được.
Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay quy định khoảng trống nào đó) giả định là sông
nước. Một bạn ra giữa vòng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:
Thả đỉa / ba ba
Chớ bắt / đàn bà
Tha tội / đàn ông
Cơm trắng / gạo trắng
Gạo thuyền như nước
Ðổ mắm / đổ muối
Ðổ chuối / hạt tiêu
Ðổ niêu / nước chè
Ðổ phải nhà nào
Nhà ấy chịu
Từ "chịu" trúng bạn nào thì bạn ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông
góc nọ. "Ðỉa" rượt để bắt. Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Ðỉa" rượt bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay
lại bên kia thì lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may ai bị "đỉa" vớ được thì phải
trở thành "đỉa" và cứ thế trò chơi lại tiếp tục.
7. ĐÁNH CHUYỀN:
Đây là trò chơi của con gái. Số người chơi từ 2-5 người. Đồ chơi gồm có 10 que nhỏ và một quả tròn
nặng (quả cà). Cầm quả cà ở tay phải tung lên không trung và nhặt từng que. Lặp lại cho đến khi quả cà rơi
xuống đất là mất lượt. Chơi từ bàn 1 (lấy một que một lần tung cà) bàn 2 (lấy hai que một lần) cho đến 10,
vừa nhặt quả chuyền vừa hát những câu thơ phù hợp với từng bàn. Một mốt, một mai, con trai, con hến,…
Đôi tôi, đôi chị… Ba lá đa, ba lá đề v.v. Hết bàn mười thì chuyền bằng hai tay: chuyền một vòng, hai vòng
hoặc ba vòng và hát: “Đầu quạ, quá giang, sang sông, trồng cây, ăn quả, nhả hột…” khoảng 10 lần là hết
một bàn chuyền, đi liền mấy ván sau và tính điểm được thua theo ván.

Bắt đầu một lần rải quân, khi đến quân cuối cùng, những quân trong ô có đường bao lại được lấy lên để rải
tiếp

Sau khi rải tiếp, ô có đường bao quân màu đỏ sẽ bị ăn
• Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng: người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi
cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn. Tùy theo luật chơi từng địa phương hoặc thỏa
thuận giữa hai người chơi nhưng phổ biến là 1 quan được quy đổi bằng 10 dân hoặc 5 dân.
• Di chuyển quân: từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo phương án để có
thể ăn được càng nhiều dân và quan hơn đối phương càng tốt. Người thực hiện lượt đi đầu tiên
thường được xác định bằng cách oẳn tù tìhay thỏa thuận. Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số
quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình
để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim
đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau:
o Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải
tiếp theo chiều đã chọn.
o Nếu liền sau đó là một ô trống (không phân biệt ô quan hay ô dân) rồi đến một ô có chứa
quân thì người chơi sẽ được ăn tất cả số quân trong ô đó. Số quân bị ăn sẽ được loại ra khỏi bàn
chơi để người chơi tính điểm khi kết thúc. Nếu liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến
một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này Do đó trong cuộc chơi có
thể có phương án rải quân làm cho người chơi ăn hết toàn bộ số quân trên bàn chơi chỉ trong một
lượt đi của mình. Một ô có nhiều dân thường được trẻ em gọi là ô nhà giàu, rất nhiều dân thì gọi
là giàu sụ. Người chơi có thể bằng kinh nghiệm hoặc tính toán phương án nhằm nuôi ô nhà
giàu rồi mới ăn để được nhiều điểm và có cảm giác thích thú.
o Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc 2 ô trống trở lên hoặc sau khi vừa ăn thì
người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương.
• Trường hợp đến lượt đi nhưng cả 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của người chơi đều không
có dân thì người đó sẽ phải dùng 5 dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô 1 dân để có thể thực
hiện việc di chuyển quân. Nếu người chơi không đủ 5 dân thì phải vay của đối phương và trả lại khi
tính điểm.
• Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô quan đã bị ăn hết. Trường hợp hai ô

xuống mặt sân chơi, con quay của ai quay được lâu nhất thì coi là thắng cuộc, âm thanh phát ra từ
những con quay nghe rất vui tai. Chơi biểu diễn còn có thể vẽ một vòng tròn trên mặt đất rồi cho con
quay quay trong đó.
• Hầm (còn gọi là đồng hầm): những người chơi cùng thực hiện bổ con quay, một hoặc nhiều người
chơi (tùy thỏa thuận) có con quay dừng sớm nhất sẽ bịhầm, nghĩa là phải để cho những người
khác bổ con quay vào con quay của mình. Thể thức này cũng có thể chia làm hai phe để chơi, hai bên
cử một đại diện ra để xác định đội bị hầm. Hầm lại có hai thể thức chính là hầm động vàhầm tĩnh, trẻ
em gọi là hầm sống và hầm chết. Nếu hầm sống thì những người bị hầm sẽ cho con quay của mình
quay và những người được hầm tìm cách bổtrúng. Nếu hầm chết thì những người chơi sẽ vẽ một vòng
tròn trên mặt sân chơi, những con quay bị hầm được cho vào đó để người được hầm bổ xuống. Trong
thể thức hầm sống, con quay rất dễ bị đinh bổ trúng tu và nếu tu bị mất hẳn thì không thể quấn dây để
chơi được nữa. Trong khi hầm, nếu con quay của người được hầm không, hay gần như không quay
được trên mặt đất hoặc quay bằng tu chứ không phải bằng đinh thì con quay đó sẽ trở thành bị hầm. Ở
thể thức hầm chết, ngoài trường hợp vừa nêu, nếu con quay của người đượchầm khi dừng quay nằm
lại trong lò thì con quay đó cũng bị đưa vào hầm; ngược lại, con quay đang bị hầm mà sau khi bị va
chạm văng ra khỏi lò thì coi như được cứu thoát và người chủ có quyền hầm những con quay còn lại.
Để "cứu" một con quay đang bị hầm, người chơi hay áp dụng kỹ thuật bổ vát còn để gây thiệt hại thì
dùng bổ thượng. Còn có một biến thể mà ít ai muốn con quay của mình bị hầm là chỉ chọn ra một con
quay duy nhất cho vào lò, những người được hầm sẽ bổ con quay của mình nhằm đưa "nạn nhân" đến
một vị trí bất lợi như vũng nước, hố vôi, cống nước thải thậm chí ao nước. Chỉ khi nào những người
được hầm đạt mục đích thì vòng chơi mới bắt đầu lại bằng cách chọn ra một con quay khác để hầm.
Tuy nhiên trong cách chơi này những người được hầm cũng rất dễ trở thành nạn nhân vì nếu không
khéo léo chính con quay của họ cũng có thể rơi xuống vị trí không mong muốn ấy.
• Ăn vố, trả vố: đây là thể thức thường dùng khi chỉ có hai người chơi, mỗi người sẽ lần lượt đặt
hoặc cho con quay của mình quay để người còn lại bổ.
11. RỒNG RẮN LÊN MÂY:

Một người đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại sắp hàng một, tay người sau nắm vạt áo người
trước hoặc đặt trên vai của người phía trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi
vừa hát:

người cuối cùng thì người đó phải ra thay làm thầy thuốc.
Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò
chơi.
12. BẮN BI: (nguồn: Internet)
Công cụ để chơi bi rất đơn giản, chỉ là những viên bi. Bi là viên hình cầu có đường kính khoảng 0,5 cm
đến hơn 1 cm nhưng cá biệt có thể lớn hơn. Bi có thể làm từ đất nung (có thể sơn các màu sặc sỡ), gạch,
đá hoặc thủy tinh bằng phương pháp thủ công hay sản xuất công nghiệp. Bi đất nếu làm thủ công thường
có chất lượng không cao: dễ vỡ, không tròn nên trẻ em thường chế tác một vài viên bi chất lượng tốt dùng
làm bi cái khi chơi. Có hai cách phổ biến là:
• Tìm hoặc đập một viên đá nhỏ rồi dùng dao đẽo gọt cho có dạng gần hình cầu. Sau đó dùng một
vật có lỗ tròn, đường kính như đường kính của viên bi định làm và miệng lỗ cứng để mài viên đá đó
thành bi, gọi là xoáy bi. Vật thường dùng để xoáy bi là vỏ đạn súng trường/tiểu liên, thậm chí vỏ trai,
ốc nhồi mài đều xuống nền sân cứng cũng tạo thành lỗ xoáy bi.
• Dùng một viên bi đất có sẵn rồi cũng xoáy cho thật tròn sau đó nung trong lửa thành sành.
Với những cách như vậy, làm một viên bi cái mất khá nhiều thời gian nhưng thu được viên bi bền, cứng và
tròn để chơi.
Kỹ thuật chơi chính là động tác bắn bi, có các cách thường dùng sau đây:
• Kẹp viên bi giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, móng của ngón giữa tiếp xúc với đốt ngón tay cái.
Nhằm về mục tiêu rồi bật ngón tay trỏ cho viên bi bắn ra.
• Ngón tay trỏ cuộn viên bi vào giữa, gập ngón tay cái vào phía trong ở phía sau bi. Nhằm về mục
tiêu rồi bật ngón tay cái cho bi bắn ra.
Kỹ thuật bắn bi đòi hỏi độ khéo léo, chính xác để trúng mục tiêu theo những cự ly khác nhau. Khi bắn có
thể dùng tay kia làm bệ tỳ để viên bi ở độ cao thuận lợi hơn tùy từng tình huống.
13. ĐÁNH CHẮT:
Trò chơi này dành cho các em gái đòi hỏi sự khéo léo, nhẹ nhàng biết tung, hứng nhịp nhàng để bắt
được sỏi. Có thể chơi bốn năm em và các em thường chọn chơi trên sân hoặc trong nhà
Trước khi chơi, mỗi em kiếm từ 5 đến 10 hòn sỏi, rồi ngồi quây vòng lại và oẳn tù tỳ để xếp thứ tự hoặc
nhường nhịn nhau thứ tự đi trước, đi sau. Khi bắt đầu chơi, mỗi em sẽ góp 3 hòn sỏi để bạn được đi đầu
tiên sẽ thu số sỏi đó, rồi khum bàn tay thuận của mình vào và đặt số sỏi đó trong lòng bàn tay, sau đó tung
lên rồi lật úp bàn tay xuống để hứng lấy số sỏi tung lên ấy bằng mu bàn tay (nếu biết khéo giữ mu bàn tay

bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.
16. ĐÁNH ĐU:
Trong các ngày hội, các làng thôn thường trồng một vài cây đu ở giữa thửa ruộng gần đình để trai gái lên
đu với nhau.
Cây đu được trồng bởi bốn, sáu hay tám cây tre dài vững chắc để chịu đựng được sức nặng của hai
người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ vừa tay cầm.
Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh, đu càng lên cao, cần đu đưa lên vun vút, bên nọ
sang bên kia. Cần đu lên ngang với ngọn đu là hay nhất, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một vòng. Nhiều
nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải.
Đẹp nhất là đu đôi, các đôi trai gái ưng ý lựa chọn nhau lên đu, người nhún người đẩy. Tài năng và lòng
dũng cảm của các chàng trai cô gái được phô bày ở đây như dịp tự thể hiện bản thân. Hồ Xuân Hương đã
miêu tả trò chơi đu rằng :
"Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song”
17. CỜ NGƯỜI: (nguồn: Internet)
Cờ người là tên gọi cuộc chơi cờ tướng, gồm 32 quân (như cỗ bài tam cúc), mỗi phe 16 quân (trong mỗi
phe có một Tướng. Tướng nam gọi là tướng Ông, trang phục đen hoặc xanh; tướng nữ còn gọi là tướng
Bà, trang phục đỏ). Chơi cờ tướng là chơi trên bàn cờ. Ba mươi hai quân cờ bằng gỗ, sừng, hay ngà tiện
tròn, đường kính 2cm, dày 1cm. Chơi cờ người cũng vẫn là luật lệ của cờ tướng. Nhưng quân cờ là người
thật, và bàn cờ là sân đất rộng, đủ đường đi nước bước cho 32 người.
Cuộc đấu cờ người thường được tổ chức trong các hội hè. Ở các hội làng, bàn cờ là sân đình, sân chùa,
hay bãi ruộng khô phẳng gần nơi đình chùa, tức là gần diễn chùa trường chính của hội. Cuộc đấu cờ người
được chuẩn bị chu đáo hàng tháng trời. Ðịnh được bàn cờ -sân bãi-chỉ mới là việc phụ. Ðầu tiên là việc
tuyển tìm người. Những người được chọn làm quân cờ phải là những trai thanh gái lịch, con cái của những
gia đình có nề nếp được dân làng quý trọng, đồng tình. Số lượng cần thiết là 16 nam,16 nữ. Trong số này
phải chọn ra hai tướng: một nam, một nữ tướng Ông, tướng Bà. Ngoài ra, không thể thiếu người thứ 33 là
tổng cờ (trọng tài) trực tiếp giúp ban giám khảo theo dõi cuộc đấu. Ba người này (tổng cờ và hai tướng) là
thuộc loaị gia đình khá giả, phong lưu, có thể "khao quân" khi cần thiết. Chọn xong, tổng cờ họp hai đội
nam, nữ thông báo về trang phục, dặn dò về phong thái trong lúc làm nhiệm vụ "quân cờ". Quần áo mỗi
người tự sắm, song phải thống nhất trong từng phe (quân đen, quân đỏ) khi ra sân bãi, bàn cờ được tạo ra

Diễn biến chung của một keo vật:
Đô vật khi dự vật mình trần trùng trục và chỉ đóng một chiếc khố. Trước khi vật, hai đối thủ cùng nhau lên
đài, múa tay co chân, đi lại rình miếng lẫn nhau. Sau đó hộ xông vào nhau ôm lấy nhau mà vật.
Có hai người làm nhiệm vụ phất cờ và đánh trống trong lúc các đối thủ vật nhau . Người đánh trống cầm
một chiếc trống khẩu ghé vào tai các lực sĩ đánh ba tiếng một như để khuyến khích thúc giục. Người phất
cầm cờ cán dài để ngăn cản người xem khỏi lấn vào sân vật và phất cờ theo nhịp trống khi có người thắng
cuộc để cổ động người thắng.
Lúc vật, khi biết mình bị " bắt bài" (gọi là lỡ miếng ), đô vật liền nằm bò sát đất, mặc cho đối phương vằn
bốc nhằm trành bị nhấc khỏi mặt đất, và chỉ nhổm dậy khi đối phương hở cơ.
Hai loại tấn công chủ đạo của vật cổ truyền là những miếng ngáng, miếng đệm làm cho đối phương ngã
xuống và những miếng bốc để nhấc bổng đối thủ lên.
Vật tại Giao Thủy trước đây thường được tổ chức dưới dạng các hội vật vào tháng Giêng âm lịch. Vật có
nhiều giải phụ và ba giải chính. Những giải phụ gọi là giải hàng dành cho ai thắng một keo vật bất kỳ.
Những giải chính hàng năm đều có người giữ với điều kiện người đó phải thắng trong suốt thời gian mở
hội. Người phá giải là người vật thắng người giữ giải năm trước, tuy nhiên phải vật ngã thêm một số đồ vật
khác mới thắng giải. Trước đây Giao Thủy nổi tiếng có nhiều đô vật giỏi giành nhiều giải của tỉnh và toàn
quốc, nhiều vùng quê có truyền thống đấu vật như Giao Hải, Giao Xuân, Giao An, Giao Thanh Tuy nhiên
những năm gần đây, đấu vật đang bị mai một dần, nhiều đô vật già có kinh nghiệm không tiếp tục tham gia
các giải đấu được vì lí do sức khỏe còn lớp trẻ không mấy mặn mà với môn thể thao cổ truyền của cha ông.
Hiện nay dòng họ Lê xã Giao Hải còn có nhiều đô vật nhưng cả chục năm nay giải vật truyền thống đã
không còn được tổ chức tại địa phương.

20. BƠI CHẢI:
Hiếm có môn thể thao nào lại thu hút được đông đảo quần chúng tham gia cổ vũ cũng như mang tinh
thần cố kết cộng động như bơi chải. Lịch sử hình thành vùng đất Giao Thủy gắn liền với nền văn hóa mở
đất, cuộc sống sinh hoạt và lao động sản xuất của nhân dân gắn liền với sông nước chính vì vậy bơi chải là
môn thể thao dân gian thường có trong các lễ hội truyền thống. Các cuộc thi bơi chải thường diễn ra ở sông
hoặc hồ lớn, 1 thuyền bơi chải dài 11m40, số người bơi trên 1 chải gồm 15 người, trong đó có 12 người
chèo, 1 lái trưởng, 1 mõ, 1 tát nước.
Căn cứ vào số đội tham gia, ban tổ chức cho bốc thăm chia bảng đấu loại bấm giờ lấy 4 đội có thành tích

cơm treo trên ngọn cần về phía trước, người kia lo củi lửa và đun nấu.
Sau hiệu lệnh, người nấu phải tạo lửa từ hai thanh nứa già, sau đó châm lửa vào cây đuốc hơ dưới đáy
niêu cơm. Cả hai người đều cùng phải bước đi quanh sân đình. Hết tuần hương là lúc kết thúc cuộc thi.
Nhóm nào có cơm chín dẻo, ngon là người thắng cuộc.
24. MÚA LÂN:
Múa lân là một môn nghệ thuật múa dân gian đường phố, thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội,
đặc biệt là tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, vì lân là con thú tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh
phúc, hanh thông Trong màn trình diễn múa lân, không thể thiếu ông Địa, một người bụng phệ (do độn vải)
mặc áo dài đen, tay cầm quạt giấy to phe phẩy, mang mặt nạ ông địa đầu hói tròn cười toe toét đi theo giỡn
lân, giỡn khách xem múa hoặc mua vui cho gia chủ. Ông Địa được cho là hiện thân của Đức Di Lặc, một vị
Phật lúc nào cũng tươi vui hiền lành. Truyền thuyết kể rằng Đức Di Lặc đã hóa thân thành người và chế
ngự được một quái vật (con lân) từ dưới biển lên bờ phá hoại. Đức Di Lặc hóa thân thành người, gọi là ông
Địa, lấy cỏlinh chi trên núi cho quái vật ăn và hàng phục được nó, biến nó thành con thú ăn thực vật. Từ đó,
mỗi năm ông Địa lại dẫn nó xuống núi chúc Tết mọi người, chứng tỏ quái thú đã thành thú lành, cái ác trở
thành cái thiện. Ông Địa và con lân đi đến đâu là giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh
và giấy đỏ đón chào. Sau này, người có tiền thường treo giải bằng tiền buộc trong một miếng vải đỏ, treo
cùng bắp cải hoặc rau xanh. Lân phải trèo lên cao lấy bằng được "thức ăn" này. Tất nhiên, ông Địa không
cùng trèo với Lân mà chỉ cùng lân múa, phe phẩy chiếc quạt to, ru lân ngủ hoặc đánh thức lân dậy. Cảnh
ông Địa vuốt ve lân và lân mơn trớn ông Địa, thể hiện được tình cảm và sự hòa hợp sâu sắc giữa loài vật
và loài người trong một bầu không khí thanh bình, hoan lạc.
Hiện nay một số địa phương trong huyện như Giao Hải, Giao Yến, Giao Phong vẫn còn duy trì được
đội múa lân nhưng ít có dịp để biểu diễn.
22. CÀ KHEO:
Cà kheo là một dụng cụ mưu sinh gắn liền với các ngư dân miền biển. Cách đây gần nửa thế kỷ, khu vực
vùng biển giao Thủy còn là những vùng bãi lầy hoang dã. Người dân ở đây đã nghĩ ra cách để lội xuống
biển bắt cá, bắt tôm, đánh moi do thời kỳ đó chưa có các ghe, thuyền. Ngoài ra cà kheo còn giúp họ "cất
te", "đi xẻo" và "quăng chài".
Người ta dùng 2 cây tre, trên đó cột 2 cái khấc cũng bằng tre làm bàn đạp để đứng lên đó đi thay chân.
Để đi được trên cà kheo, đòi hỏi người sử dụng phải có một sự khéo léo nhất định. Ngày nay cà kheo
thường được sử dụng như một môn thi trong những ngày lễ hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status