ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MAC LENIN - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CN
MAC-LENIN
ĐỀ CƯƠNG MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MAC –
LÊNIN
Câu 1: Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ? Liên hệ
vấn đề này trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân ?
TL:
- Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi xuất phát từ thực tế khách quan ,
tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan.
- Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan
của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản là tôn trọng
quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của đời sống
vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi ttrong nhận
thức và hành động của con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục
đích đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách
quan làm cơ sở, phương tiên; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức nhân tố ấy
thành lực lượng vật chất để hành động.
- Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của
ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng
động, sáng tạo ấy. Điều này còn người phải tôn trọng tri thức khoa học và truyền bá nó
vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng
hành động. Mặt khác phải tự tu dưỡng rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan
cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học
và tính nhân văn trong định hướng hành động.
- Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong
nhân thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí;
đó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý
muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách
lược Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức
khoa học, xem thường lí luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn.

họ trong các mối quan hệ với bạn bè và gia đình, xã hội không nên đánh giá, nhận xét
một người chỉ qua vẻ bề ngoài hay một mặt nào đó.
- Trong cuộc sống khi giải quyết các tình huống cần phải xem xét quá trình cũng như các
hoạt động từ quá khứ đến hiện tại trong các mối liên hệ qua lại lẫn nhau để có cách giair
quyết xử lý tốt nhất.
Câu 3: Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển? Vận dụng vấn đề
này trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân ?
TL:
- Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế
giới và cải tạo thế giới.Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần có quan
điểm phát triển.
- Quan điểm đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự
phát triển.
+ Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn,
một mặt cần phải đặt sự vật hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con
đường của sự phát triển lại là một quá tình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy
mâu thuẫn, vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện
tượng trong quá trình phát triên của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể trong
nhận thức và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa
dạng, phức tạp của nó.
+ Như vậy, với tư cách là khoa học về mối liên phổ biến và sự phát triển , phép biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Leenin giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận
thức và thực tiễn. Khẳng định vai trò đó của phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen viết:
“ Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và
những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng,
trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng. V.I Leenin cũng
cho rằng: “Phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối
quan hẹ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó.
* Vận dụng vấn đề này trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân là:
- Trong cuộc sống có những điều ta xuất phát từ con số không nhưng quan quá trình rèn

* Vận dụng vấn đề này trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân là:
- Trong cuộc sống khi chúng ta học từ tiệu học lên trung học, cấp 3 khi đã tích lũy đủ về
lượng để thể hiện bước nhảy thi tốt nghiệp cấp 3 và kì thi đại học cao đẳng. Như vậy đã
có sự biến đổi từ học sinh thành sinh viên (sự biến đổi về chất)
- Trong giảng dạy tích lũy những kinh nghiệm trong dạy học tập khi tham gia các kì thi
giáo viên dạy giỏi cấp trường cấp thành phố
Câu 5: Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quy luật mâu thuẫn ? Vận dụng vấn đề này
trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân ?
TL:
- Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận
động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát
triển mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc,
khuynh hướng của sự vận động và phát triển.
- Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết
mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại
mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp. Trong quá trình hoạt động nhận thức
và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn ttrong từng hoàn
cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải
quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng nhất.
* Vận dụng vấn đề này trong cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân là:
- Trong cuộc sống khi có mâu thuẫn xảy ra có thể là giữa phương pháp dạy với phương
tiện giáo dục cần phải bình tĩnh tìm ra chỗ mâu thuẫn để có cách giải quyết đúng và
không ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục.
Câu 6: Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quy luật phủ định của phủ định? Vận dụng ý
nghĩa phương pháp luận đó trong việc thực hiện đối mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hiện nay ?
TL:
- Quy luật phủ định của phủ địnhlà cơ sở để chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về xu
hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó không diễn ra theo
đường thẳng mà là con đường quanh co, phức tạp , gồm nhiều giai đoạn, nhiêu giai đoạn

Vận dụng vấn đề này trong việc đánh giá thực tế giáo dục của của địa phương với cả
nước, giáo dục của Việt Nam với giáo dục thế giới ?
TL:
- Cần phải nhận thức cái chung về vận dụng vào cái riêng trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn. Không nhận thức được cái chung thì trong thực tiễn khi giải quyết mối cái
riêng, mối trường hợp cụ thể sẽ nhất định vấp phải những sai lầm, mất phương hướng.
- Mạt khác cần phải cụ thể hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, khắc
phục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng mỗi
cái chung để giải quyết mỗi trường hợp cụ thể.
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cũng cần phải biết vận dụng các điều kiện thích
hợp cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo những mục đích nhất định,
bới vì giữa cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện
xác định.
* Vận dụng vấn đề này trong việc đánh giá thực tế giáo dục của địa phương với cả nước,
giáo dục của VN với giáo dục thế giới là:
- Thực tế giáo giáo dục của địa phương với cả nước: Các địa phương luôn luôn chấp hành
đúng theo chỉ đạo của bộ giáo dục và đạo tạo, và nhà nước. Cả nước đang thay đổi
chương trình giáo dục từng môn, từng lớp, nền giáo dục cũng phải thay đổi và làm theo.
Cả nước thay đổi, đổi mới phương pháp giảng dạy, song một số thầy cô ở địa phương đã
không thay đổi theo những phương pháp mới đó nên dẫn đến tình trạng nền giáo dục ở
địa phương đạt kết quả không cao.
- Thực tế giáo dục ở nước ta với thế giới: so với thế giới thì nền giáo dục của ta vẫn chưa
theo kịp họ. Vì ta vẫn giáo dục theo những phương pháp rất lạc hậu.
Câu 8: Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vấn
đề này ? Vận dụng quan điểm thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản
thân ?
TL:
- Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của
chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức.
- Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu,

thủ của một số hình thái ý thức xã hội.
- Ba là ý thức xã hội gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai
cấp nhất định trong xã hội.
* Vận dụng kiến thức về vấn đề này vào việc giải thích những quan điểm lạc hậu về giáo
dục còn tồn tại ở nước ta hiện nay là:
- Hiện nay ý thức xã hội về vấn đề giáo dục nước ta vẫn còn một số lạc hậu rõ rệt. Trước
hết, về phía gia đình học sinh, phụ huynh quá bận rộn với công việc hàng ngày nên không
chăm lo đến việc học hành của con cái, học giao trách nhiệm này cho giáo viên và nhà
trường. Về phía nhà trường, giáo viên vẫn còn giữ cách dạy rất lạc hậu đó là hình thức
đọc – chép. Làm như vậy học sinh rất thụ động khi tiếp thu bài giảng của thầy cô. Học
sinh sữ hình thành thói quen xấu và luôn ỷ lại vào thầy cô vì thầy cô sẽ làm hết cho
chúng và chúng vẫn được điểm cao, phụ huynh rất yên tâm về còn cái mình. Họ không
biết đó chỉ là những kết quả giả.
Câu 10: Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Vận dụng vấn đề này
vào việc phát huy sức mạnh của tập thể trong quá trình công tác ?
TL:
- Theoquan điểm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra
lịch sử, lực lượng quyết định sự phát triển củ lịch sử. Do đó, lịch sử trước hết và căn bản
là lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế
xã hội.
- Vai trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quần
chúng nhân dân được phân tích từ ba giác ngộ sau đây:
+ Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp
sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn
tại và phát triển của con người, của xã hội – đây là nhu cầu quan trọng bậc nhất của mọi
xã hội ở mọi thơì đại, mọi giai đoạn lịch sử.
+ Thứ hai, cùng với quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, quần chúng nhân dân đồng thời
cũng là lực lượng trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các giá trị tinh thần của xã hội; là lực
lượng trực tiếp hay gián tiếp “kiểm chứng” các giá trị tinh thần đã được các thế hệ và các
cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử.

+ Sở dĩ hai hàng hóa khác nhau là vải và thóc lại có thể trao đổi được với nhau, bới vì
giữa những hàng hóa khác nhau đó có một cái gì đó chung, cái chung đó không phải là
vải, là thóc , nhưng lại là cái mà cả vải và thóc đều có thể quy về được. Các giá trị trao
đổi khác nhau phải được quy thành cái chung đó, và mỗi giá trị trao đổi đều đại biểu cho
một lượng hay ít của cái chung ấy.
+ Nếu gạt đi gái trị sử dụng của vật thể hàng háo ra một bên, thì vật thể hàng hóa chỉ có
một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩm của lao động.
+ Như vậy nếu bóc cái vỏ giá trị sử dụng, cũng như tính hữu ích của lao động ra, gạt đi
cái vỏ bề ngoài tùy tiện ngẫu nhiên của gí trị trao đổi, thì ta sẽ thấy tất cả các hàng hóa
đều giống nhau hoàn toàn, đều có một thực thể xã hội như nhau, đều là những vật kết tinh
đồng nhất – đó là sức lao động của con người tích lũy lại. Nhờ có cơ sở chung đó mà các
hàng háo có thể trao đổi được với nhau. Vì vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau
chẳng qua là trao đổi lao động của mình ẩn giấu trong những hàng hóa ấy. Chính lao
động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của việc trao đổi và nó tạo thành giá trị
trao đối của hàng hóa.
+ Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, còn giá
trị trao đổi chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hóa.
+ Nhưng cũng cần nhận thấy hao phí lao động của con người kết tinh trong sản phẩm
không phải lúc nào cũng là giá trị. Trong các xã hội mà người ta sử dụng sức lao động
làm ra sản phẩm để tự tiêu dùng cho bản thân và gia đình mình, thì sự hao phí lao động
đó không có hình thái giá trị.
+ Như vật thuộc tính tự nhiên của hàng hóa là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hội của hàng
hóa là hao phí lao động kết tinh trong nó và là giá trị. Bất kỳ một vật nào muốn trở thành
hàng hóa đều phải có đủ hai thuộc tính: giá trí sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai
thuộc tính đó, sản phẩm không thể là hàng hóa.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện
nay là:
- Giá trị sử dụng là công cụ của hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Còn gía trị hàng hóa là lao động xã hội của nhà sản xuất. Hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa. Thực chất của giá trị hàng hóa chính là lao động. Để do giá trị hàng hóa dịch vụ cần

sản xuất sẽ đổ xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy. Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động
chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên. Ngược lại, khi cung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả
hàng hóa giảm xuống, hàng hóa bán không chạy và có thể lỗ vốn.Tình hình ấy buộc
người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có
giá cả hàng hóa cao.
+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường. Sự biến
động cảu giá cả thị trường cúng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi
giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt.
- Thứ hai, kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc
đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
+ Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ,
phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao
động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức
quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng xuất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt
càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng
sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
- Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoáng]ời sản xuaatshangf hóa thành
người giàu, người nghèo.
+ Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ
thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ
đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất
kinh doanh. Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ắn kém cỏi, hoặc
gặp phải rủi rotrong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.
+ Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và
thực tế hết sức to lớn: một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các
yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ
giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
* Vận dụng vấn đề này vào việc giải thích hiện tượng “cháy máu chất xám” của giáo dục
VN hiện nay là:

phát cũng tăng.
Câu 15: Phân tích mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Vận dụng mối quan hệ đó vào
cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân ?
TL:
- Trong đó, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của nó; cái chúng không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng, tức mỗi sự vật, hiện tượng,
quá trình cụ thể.
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồn tại độc lập
tuyệt đối tách rời cái chung.
- Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ
phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
- Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định.
- Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung đã được V.I. Lenin khái quát ngắn
gọn: “Như vậy, các mặt đối lập là cái đồng nhất: cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ
đưa đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái
riêng là cái chung. Bất cứ cái chung naò cũng là của cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng
chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không
gia nhập đầy đủ vào cái chung. Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự
chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác.
* Vận dụng mối quan hệ đó vào cuộc sống và công tác giảng dạy của bản thân là:
- Chúng ta đã biết rằng cái chung và cái riêng tồn tại rất gần gũi với chúng ta xung quanh
cuộc sống của chúng ta bao giờ cũng có những sự khác nhau không chỉ là sự khác nhau
giữa con người với con người mà còn có sự khác nhau giữa tất cả các mối quan hệ khác.
Trong cuộc sống cái riêng có thể là:
VD: Một đặc tính riêng của một người nào đó hay một sự vật nào đó, là cái đơn nhất
trong giới tự nhiên, hay là tên riêng của một con người cho một gia đình nào đó cũng là
cái riêng. Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật ra nhập vào một nhóm các sự vật
rộng hơn, phổ biến hơn. Sự tồn tại cá biệt đó của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong
bản thân những thuộc tính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác. Tính chất này
được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng

còn các giai cấp và tầng lớp xã hội khác ở vào địa vị phụ thuộc đối với quyền lực nàh
nước. Các chính sách và pháp luật của nhà nước, suy đến cùng chỉ là phản ánh nhu cầu
thống trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu
của xã hội.
+ Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng có nguyên nhân từ
tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, dù đó là lĩnh vực
thực tiễn chính trị, pháp luật, hay lĩnh vực sinh hoạt tinh thần của xã hội.
- Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiều
phương thức. Điều đó tùy thuộc vào bản chất của mỗi nhân tố trong kiến trúc thượng
tầng, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, trong điều
kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức tác động của các yếu tố
khác tới cơ sở kinh tế của xã hội mà phải thông qua nhân tố nhà nước mới có thể thực sự
phát huy mạnh mẽ vai trò của nó. Nhà nước là nhân tố có tác đọng trực tiếp nhất và mạnh
mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng kinh tế.
* Sự vận dụng của Đảng CSVN trong công cuộc đổi mới là:
- VN trong sự phát triển của đông á và dông nam á hay nói rộng hơn là vòng cung châu á
- thái bình dương, hiện nay đang thu hút được nhiều người trong giới lãnh đạo và giới
kinh doanh trên thế giới. Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng xã hội ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
- Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó có thành phần kinh tế quốc
doanh, tập thể và nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tính chất đan xen về kết cấu của
cơ sở kinh tế vừa làm cho nền kinh tế sôi động, phong phú, vừa mang tính phức tạp trong
quá trình phát triển nền kinh tế. Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú được
phản chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là nền kiến trúc
thượng tầng cũng phải đổi mới.
- Đáng ta khẳng định: Phải tập trung nguồn vốn đầu tư nha nước cho việc xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội và một số công trình cong nghiệp then chốt đã được chuẩn bị vốn
và công nghệ. Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, thông

tổng hòa những quan hệ xã hội”.
- Hạn chế căn bản của quan niệm duy vật siêu hình, trực quan là đã trừu tượng hóa, tuyệt
đối hóa phương diện tự nhiên của con người, thường xem nhẹ việc lý giải con người từ
phương diện lịc sử xã hội của nó, do đó về căn bản chỉ thấy bản tính tự nhiên của con
người. Khác với quan niệm đó, quan niệm duy vật biện chứng về con người trong khi
thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ
lịch sử xã hội, từ đó phát triển bản tính xã hội của nó. Hơn nữa, chính bản chất xã hội của
con người, phân biệt con người với các tồn tại khác của giới tự nhiên.
- Vậy bản chất của con người, xét trên phương diện tính hiện thực của nó, chính là “tổng
hòa các quan hệ xã hội”, bởi xã hội chính là xã hội của con người, được tạo nên từ toàn
bộ các quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa.
-Theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất xã hội của con người thì sự hình thành
và phát triển của con người cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó cần phải được
tiếp cận từ giác độ phân tích và lý giải sự hình thành và phát triển của những quan hệ xẫ
hội của nó trong lịch sử.
- Như vậy, không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với những điều kiện hoàn
cảnh lịch sử nhất định.
- Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người trong haotj động thực tiễn, thông qua
hoạt động thực tiễn, tác động vào giới tự nhiên, làm cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu
sinh tồn và phát triển của nó thì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính
nó, thực hiện sự phát triển của lịch sử đó
* Vận dụng vấn đề này vào việc xây dựng con người VN trong sự nghiệp đổi mới ở nước
ta hiện nay là:
- Hơn bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu nào khác , lĩnh vực phát triển con người là mục
tiêu cao cả nhất của toàn dân , đưa loài người tới một kỉ nguyên mới , mở ra nhiều khả
năng để tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương lai con đường khả quan nhất cho sự
nghiệp phát trienr con người trong sự nghiệp CNH , HĐH đất nước .
- Do nhận thức được vai trò và tàm quan trọng của vấn đè con người đặc biệt là vấn đè
con người trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước ta hiện nay . Đảng và nhân dân ta đã và
đang xây dựng ,phát triển đất nước toàn diện về nhiều mặt đặc biệt là lĩnh vực kinh tế ,

Câu 20: Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả ? Vận
dụng vấn đề này vào cuộc sống và nghề nghiệp của bản thân ?
TL:
- Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức
và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân quả.Trong thế giới hiện thực không thể tồn
tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại
không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định.
- Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại
nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể
trong nhận thức và thực tiễn.
- Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do
nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và
lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân quả.
* Vận dụng vấn đề này vào cuộc sống và nghề nghiệp của bản thân là:
- Nhu cầu học của con người tăng lên dẫn đến các trường đào tọa nan rải
- Phương pháp dạy học của các trường mang tính lí thuyết , chưa thực hành mà thực hành
thì chỉ mang tính chất tương đối.
- Như cầu về băng cấp trong xh cao ,dẫn đến tình trạng “ thừa thầy, thiếu thợ”
- Sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều, làm không đúng ngành nghề, nguyên nhân do
chất lượng đào tạo chưa đáp ứng theo nhu cầu của xã hội.
Câu 21: Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng ? Vận
dụng vấn đề này trong công tác đánh giá học sinh ?
TL:
- Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng thì không dừng lại ở hiện tượng bên ngoài mà
phải đi vào bản chất. Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thức đúng bản
chất. Theo Lenin: “Tư tưởng của người ta đi sâu một cahcs vô hạn, từ hiện tượng đến bản
chất, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai ?
- Mặt khác, bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức và thực tiễn
cần phải căn cứ vào bản chất chứ không căn cứ vào hiện tượng thì mới có thể đánh giá
bản chất một cách chính xác về sự vật, hiện tượng đó và mới có thể cải tạo căn bản sự

dân tộc độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình
đẳng.
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: Đây là tư tưởng, nội dung cơ bản trong cương
linhxdaan tọc của V.I. Lenin. Tư tưởng này là sự thể hieenjbanr chất quốc tế giai cấp
công nhân, phong trào công nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng
dân tộc với giải phóng giai cấp.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc đề ra chính sách dân tộc của Đảng
và nhà nước ta hiện nay là:
- VN là một quốc gia có 54 dân tộc anh em . Nhà nước ta đặc biệt coi trọng chính sách
dt , bảo dảm quyền bình dẳng giũa các dt , coi đó là một trong những nhân tố quyết định
cho sự phát triển bền vững đất nước .Chính sách này được thể hiện một cách toàn diện
trên mọi lĩnh vực : chính trị ,kinh tế , văn hoa , xh được thể hiện trong đường lối chính
sách pháp luật cảu đảng và nhà nước vn. Nhà nước có trách nhiệm giúp các dt có kinh tế
chậm phát triển dể cùng đạt được trình đọ phát triển chung vơi các dt khác trong cả
nước . Bình đẳng về văn hóa , xã hội bảo đảm cho việc giữa gìn phát huy bản sắc của dt ,
làm phong phú đa dang nền văn hóa vn
-Đảng và nhà nước ta làm nhiều chủ trương chính sách ưu tiên với đồng bào dt thiểu sso
một cách đồng bộ và toàn diện , trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xh , triển kahi thực
hiện nhiều chương trình , dự án đầu tư phát triển trên đại bàn miền núi , vùng đòng bào dt
như: chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng , chương trình xóa đói giảm nghèo
Câu 23: Phân tích bản chất của ý thức. Liên hệ vấn đề này trong công tác giảng dạy của
bản thân ?
TL:
- Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng hoạt
động tam – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc
thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể
tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận. Tính chất
năng động sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người taioj
ra những ý tưởng, giả thiết, huyền thoại trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái
quát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các

hướng dãn các hoạt động cho người học , đối thoại với người học từ đó giúp người học
tìm kiếm kiến thức . GV có thể là người khẳng định những ý kiens của hs hay đưa ra
những ý kiến đó thành nội dung bàn luận trong một tập thể người học . Cũng chính bằng
cách này mà hoạt đọng dạy học có thể đạt được mục đích khuyến khích phát triển tư duy
thông qua hình thức tự học , hình thưc thu nạp kiến thức quan trọng cho bất cứ ai tại bất
kì nơi đâu .
- Để bồi dưỡng và tạo đK nâng cao khả năng tự học , khả năng tổ chức và làm việc theo
nhóm thì yêu cầu về tài liệu hay nói rộng hơn là các nguồn tai nguyên trong giáo dục
đóng vai trò vô cùng quan trọng
Câu 25: Trình bày nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lenin trong việc giải quyết vấn đề tôn
giáo. Liên hệ thực tế VN về vấn đề này ?
TL:
- Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội
phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đó là yêu cầu khách
quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Hai là, khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân thì
nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không
tín ngưỡng của mọi công dân. Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau.
- Ba là, thực hiện đoàn kết những người có tôn giáo với những người không có tôn giáo,
đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết những người theo tôn giáo với những người không theo
tôn giáo, đoàn kết toàn dân toccj xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo. Mặt tư tưởng
thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, khắc
phục mặt này là việc làm thường xuyên, lâu dài.
-Năm là, phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
* Liên hệ thực tế VN về vấn đề này là:
- VN là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng , tôn giáo .Vói vị trí đại lí nằm ở khhu vực
ĐNA có 3 mặt giáp biển ,VN rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới
và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luống văn hóa ,các tôn giáo trên thế giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status