ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN - Pdf 10

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CN MÁC-LÊNIN
I: Phạm trù vật chất
1. Định nghĩa vật chất của Lê-Nin:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác".
2. Nội dung, ý nghĩa của định nghĩa vật chất:
- Theo Lênin, phạm trù vật chất là một phạm trù "rộng đến cùng cực, rộng nhất mà cho đến
nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt qua được" nên không thể định nghĩa vật chất
bằng phương pháp thông thường, đem quy nó về một vật thể, một thuộc tính hoặc vào một
phạm trù rộng lớn hơn được. Vì vậy, Lênin đã sử dụng phương pháp mới để định nghĩa vật
chất là đem đối lập vật chất với ý thức và xác định nó " là cái mà khi tác động lên giác quan
của chúng ta thì gây nên cảm giác".
Trước tiên, cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các quan
niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các dạng vật chất. Vật
chất với tư cách là một phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh
ra, không mất đi.
- Trong định nghĩa, Lênin đã chỉ rõ khi vật chất đối lập với ý thức trong nhận thức luận thì
cái quan trọng nhất để nhận biết nó chính là thuộc tính khách quan. "Vật chất là thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác .và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác".
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1. Vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và
không phụ thuộc vào ý thức.
2. Vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; cái gây nên cảm giác ở con người
khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên giác quan con người.
3. Cảm giác, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của vật chất. Ý thức con người là sự phản
ánh thực tại khách quan, nghĩa là con người có khả năng nhận thức được thế giới.
- Ý nghĩa: - Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết
học trên lập trường duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất là tính
thứ nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất

khách quan từ đó đề ra mục tiêu phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục
tiêu ấy.
Vai trò tích cực chủ động sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện
thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới
khách quan và các điều kiện khách quan.
3. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ MQH vật chất - ý thức:
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất của các qui luật tự nhiên và
XH-> trong hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách
quan làm căn cứ cho hoạt động của mình.
Phát huy tính năng động chủ quan phát huy vai trò của ý thức nhân tố con người trong việc
phản ánh đúng đắn thế giới khách quan.Nhận thức được qui luật, xác định được mục tiêu, ra
phương hướng hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.
III: Lý luận nhận thức duy vật biện chứng
1. Khái niệm thực tiễn, khái niệm nhận thức:
Khái niệm thực tiễn:
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải biến thế giới khách quan.
Thực tiễn là hoạt động vật chất. Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của
con người đều là hoạt động thực tiễn.
2
Là hoạt động có mục đích. Khác hoạt đông bản năng của động vật.
Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn
lịch sử nhất định.
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có 3 hình thức:
+ Hoạt động sản xuất vật chất
+ Hoạt động chính trị - xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học (Nhằm tạo ra môi trường giống hoặc gần giống môi
trường sống bên ngoài: hoạt động này ngày càng đóng vai trò quan trọng).
Trong 3 hoạt động trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng nhất, là cơ sở cho
các hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

• Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Làm sao để nhận biết được nhận thức của con
người đúng hay sai? Tiêu chuẩn để đánh giá cuối cùng không nằm trong lý luận, trong nhận
thức mà ở thực tiễn. Khi nhận thức được xác nhận là đúng, nhận thức đó sẽ trở thành chân
lý.
Tuy nhiên cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn kiểm nghiệm mới biết
nhận thức đó là đúng hay sai, mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận
thức đó là thế nào. Nhưng xét đến cùng thì những nguyên tắc đó cũng đã được chứng minh
từ trong thực tiễn.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò của hoạt động thực tiễn,không được xa
rời thực tiễn.
- Trong hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học phải kết hợp với họat động sản xuất thực
tiễn theo phương châm học đi đôi với hành =>học mới có kết quả.
IV: Quy luật phù hợp của CSHT, KTTT.
1. Khái niệm CSHT, KTTT:
a. Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
của một xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất
tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Trong đó, quan hệ
sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, nó
quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội. Bởi vậy, cơ sở hạ tầng của một xã
hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó. Tuy nhiên, quan hệ
sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định.
Như vậy, xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức phát triển
của lực lượng sản xuất, nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì các quan hệ sản xuất
"hợp thành" cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đó hình thành nên kiến trúc
thượng tầng tương ứng
b. Kiến trúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng với những thiết chế xã hội tương
ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v được hình thành trên cơ

hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã
hội.
Tuy sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nhưng lực lượng sản xuất không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất chỉ trực tiếp làm thay đổi quan hệ sản xuất, tức trực tiếp làm thay đổi
cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng.
Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp.
Trong đó có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay
đổi cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật, v.v Trong kiến trúc thượng tầng, có những yếu
tố thay đổi chậm như tôn giáo, nghệ thuật, v.v hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa
trong xã hội mới. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi đó phải thông qua đấu tranh giai cấp,
thông qua cách mạng xã hội.
b. Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ tầng. Tuy
nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau. Trong
xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là
bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế. Các yếu tố khác của kiến trúc
5
thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cũng đều tác động đến cơ sở
hạ tầng, nhưng chúng đều bị nhà nước, pháp luật chi phối.
Trong mỗi chế độ xã hội, sự tác động của các bộ phận của kiến trúc thượng tầng không phải
bao giờ cũng theo một xu hướng. Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng thống
trị là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm
suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó. Một giai cấp chỉ có thể giữ vững được sự thống trị
về kinh tế chừng nào xác lập và củng cố được sự thống trị về chính trị, tư tưởng.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều. Nếu kiến
trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh
tế, kìm hãm phát triển xã hội.
Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế, nhưng không

-Tuyệt đối hóa cái riêng coi nhẹ cái chung sẽ rơi vào CN kinh nghiệm, cục bộ địa phương,
CN dân tộc hẹp hòi.
-Nhiệm vụ của nhận thức cái chung thì phải xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện
tượng riêng lẻ
-Trong hoạt động thực tiễn thấy sự chuyển hóa nào có lợi cho ta cần chủ động tác động vào
nó để nhanh chóng trở thành hiện thực
VI. Hàng hóa
1. Khái niệm
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn được nhu cầu nào đó của con người thông
qua trao đổi, mua bán.
- Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực, thực phẩm hoặc ở dạng vô
hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ và nghệ sĩ
2. Hai thuộc tính của hàng hóa
a. Giá trị sử dụng của hàng hóa
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người.
-Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định. Chính công dụng đó
(tính có ích đó) làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng. Ví dụ, công dụng của gạo là để ăn, vậy
giá trị sử dụng của gạo là để ăn Cơ sở của Giá trị sử dụng của hàng hóa là do những
thuộc tính tự nhiên (lý, hoá học) của thực thể hàng hóa đó quyết định nên giá trị sử dụng là
phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sản xuất. Giá trị sử
dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật
và của lực lượng sản xuất nói chung.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa không
phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội, thông
qua trao đổi, mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm
đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.gtr trao đổi là tỉ lệ trao đổi giữa những hàng hóa
có gtr sử dụng khác nhau.
b. Giá trị của hàng hóa

Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hóa, nhưng quá trình thực
hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước
trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng.
Do đó nếu giá trị của hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
(Theo SGK:
Giữa hai thuộc tính của hàng hoá luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.Trong đó, giá trị
là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi ,còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá
trị bên ngoài.Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao
động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau.
Thực chất của quan hệ trao đổi là người trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa
đựng trong các hàng hoá.Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất
hàng hoá.Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá.Nếu giá trị sử
dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá.
Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự
thống nhất của hai mặt đối lập.
Sự đố lập mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ:Người làm ra hàng hóa
đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hoá do mình làm ra, nếu học có chú ý đến giá trị sử
dụng cũng chính là để có được giá trị.Ngược lại, người mua hàng hoá lại chỉ chú ý đến giá
trị sử dụng của hàng hoá, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá
8
trị của nó cho người bán.Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hịên
giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện.)
4. Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá giá trị hàng hóa.
• Lượng giá trị hàng hóa
Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội, lao động trừu tượng của người sản xuất hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng lượng lao động
tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó. Lượng lao động tiêu hao ấy được tính bằng thời gian
lao động.
Lượng giá trị của hàng hóa không phải do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao
động cá biệt quy định, mà nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết.

Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải
qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được
đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được.
-Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên.
VII. Quy luật giái trị
1. Nội dung (yêu cầu) của quy luật giá trị:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí
lao động xã hội cần thiết.
Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho
mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết
có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo
nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị.
Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị,
cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị. ở đây, giá trị như cái trục của giá
cả.
2. Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
+ Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi
cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức
lao động. Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất
mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất
càng được mở rộng.
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn. Tình hình
đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất
mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác
lại có thể tăng lên.

người được con người vận dụng để tạo ra của cải.Nó là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình
sản xuất
2. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
+ Người lao động phải được tự do về thân thể,có quyền chi phối sức lao động của mình
đê khi cần có thể bán
+ Khi người lao động không có tư liệu sản xuất hoặc tài sản hoặc không đủ lớn do đó để
sống họ phải bán sức lao động
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
• Giá trị của hàng hóa của sức lao động
- Là hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động
- Giá cả sức lao động là biểu hiện bằng tiền của hàng hóa sức lao động
- Tiền lương có 2 hình thức,trả theo thời gian và theo sản phẩm
- Giá trị hàng hóa sức lao động phụ thuộc :Khí hậu,điều kiện tự nhiên,thói quen tiêu dung và
trình độ văn minh
• Giá trị sử dụng của sức lao động
- Là công dụng có ích nào đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người mua.Người mua
hàng hóa sức lao động là nhà tư bản,nhà đầu tư nhu cầu của họ là tạo ra giá trị thặng dư
cho nên giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động phải là giá trị sử dụng đặc biệt:tạo ra
giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó
11
- Nhờ giá trị sử dụng đặc biệt của sức lao động hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải
quyết mâu thuẫn của công thức chung của chủ nghĩa tư bản.Cho nên trở thành tư bản khi
nó được sử dụng để mua hàng hóa sức lao động nhằm thu về giá trị thặng dư
Kết luận:hàng hóa sức lao động là nhân tố,là nguồn gốc của giá trị thặng dư và nó chính là
nguồn gốc để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung CNTB
4. So sánh hàng hoá slđ với hàng hoá thông thường
* Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính GT và GTSD.
* Khác nhau:
- Hàng hoá slđ Hàng hoá thông thường
- Người mua có quyền sd, ko có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua

Ví dụ: Có hai tư bản nông nghiệp và công nghiệp đều là 100, cấu tạo hữu cơ trong nông
nghiệp là 3/2, cấu tạo hữu cơ trong công nghiệp là 4/1. Giả sử m'=100%, thì giá trị sản
phẩm và giỏ trị thặng dư sản xuất ra trong từng lĩnh vực sẽ là, trong công nghiệp 80c + 20v
+ 20m = 120; trong nông nghiệp 60c + 40v + 40m = 140. Giá trị thặng dư dôi ra trong
nông nghiệp so với trong công nghiệp là 20. Số chênh lệch này không bị bình quân hóa mà
chuyển hóa thành địa tô tuyệt đối.
Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn
trong công nghiệp. Còn nguyên nhân tồn tại của địa tô tuyệt đối là chế độ độc quyền sở hữu
ruộng đất đó ngăn nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để hình thành lợi nhuận
bình quân.
c. Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa; nó có thể
tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các khu đất trong thành thị.
Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt, cho phép
trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩm đặc biệt. Trong công nghiệp khai thác,
địa tô độc quyền có ở khai thác kim loại, khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản có
nhu cầu vượt xa khả năng khai thác chúng. Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu
đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ,
nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao.
Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền
của sản phẩm thu được trên đất đai ấy, mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ.
3. Ý nghĩa lý luận địa tô của của Mác:
Ý nghĩa lý luận địa tô của C.Mác không chỉ nêu ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong
nông nghiệp, mà còn là cơ sở lý luận để nhà nước xây dựng các chính sách thuế đối với
nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai, để việc sử dụng đất đai có hiệu quả
hơn.
X. Thời kì quá độ lên CNXH:
1. Tính tất yếu của thời kì quá độ đi lên CNXH
Một là CNTB và CNXH khác nhau về bản chất. CNTB được xây dựng trên cơ sở chế
độ tư hữu TBCN và tư liêu sản xuất dựa trên chế độ áp bức bóc lột. CNXH được xây dựng
trên cơ sở chết độ công hữu về TLSX chủ yếu, tồn tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập

sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm phục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lao
động.
Việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể theo ý muốn
nóng vội, chủ quan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy luật kinh tế, đặc
biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phải tiến hành CNH
XHCN nhằm tạo ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH. Nhiệm vụ trọng tâm của
những nước này trong TKQĐ là phải tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế theo định hướng
XHCN. Quá trình CNH,HĐH XHCN diễn ra ở các nước khác nhau với những điều kiện lịch
sử khác nhau có thể được tiến hành với những nội dung cụ thể và hình thức, bước đi khác
nhau. Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN,
nên trong thời gian qua, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền tảng để đi lên
CNXH; bên cạnh đó là chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là
để giải phóng sức sản xuất, tiến tới một nền sản xuất lớn.
- Trong lĩnh vực chính trị: tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch
chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân chủ XHCN
ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội của nhân dân lao động, xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là nơi thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động; xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững
mạnh ngang tầm với các nhiệm vụ của mỗi thời kỳ lịch sử.
- Trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa: tuyên truyền, phổ biến những tư tưởng khoa học
và cách mạng của giai cấp công nhân trong toàn xã hội; khắc phục những tư tưởng và tâm lý
có ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình xây dựng CNXH; xây dựng nền văn hóa mới
14
XHCN, tiếp thu giá trị tinh hoa các nền văn hóa trên thế giới.
- Trong lĩnh vực xã hội: khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng bước
khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội
nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với
người theo mục tiêu lý tưởng: tự do của người này là điều kiện, tiền đề cho sự tự do của
người khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status