câu hỏi ôn tập môn những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa mác lê nin - Pdf 24


NỘI DUNG 1: Điều kiện ra đời, ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa? Vận dụng vào
thực tiễn phát triển kinh tế thị trường Việt Nam?
1. Điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa:
- Thứ nhất: phân công lao động xã hội
+ Là sự phân chia lao động xã hội ra các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất khác nhau tạo nên sự chuyên môn hoá lao động và theo đó là
chuyên môn hoá sản xuất thành những ngành nghề khác nhau.
+ Quá trình chuyên môn hóa sản xuất làm cho người lao động chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm thậm chí chỉ sản xuất ra một
chi tiết sản phẩm.
+ Nhưng con người cần rất nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đòi hỏi con người cần phải có
mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, cần có sự trao đổi mua bán giữa họ với nhau.
Tuy nhiên phân công lao động mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại vì vậy
phải có điều kiện thứ 2
- Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặc kinh tế của những người sản xuất
+ Sự tách biệt do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động dẫn đến sự tách biệt về kinh tế và lợi ích, làm
cho lao động của người sản xuất mang tính chất là lao dộng tư nhân.
+ Bên cạnh đó, những người sản xuất lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu
dung. Người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi sản phẩm dưới hình thái hàng hoá nhằm đảm bảo
sự ngang bằng về lợi ích cho mỗi bên.Quá trình trao đổi hàng hóa ra đời.
- Bên cạnh những điều kiện đã nêu trên, thế mạnh về con người, về tài nguyên thiên nhiên, về khoa học và công nghiệ cũng là một
trong những động lực thúc đẩy hàng hóa diễn ra.
2: Ưu thế, hạn chế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp tự túc.
* Ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Thứ nhất: do mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự
nhiên mà để thỏa mản nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu nhu cầu của thị trường là một động
lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Thứ 2: Cạnh tranh ngày càng gay gắt, bắt buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất kinh doanh, phải thường
xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng xuất lao động, nâng cai chất lượng sản phẩm. nhằm tiêu thụ được hàng hóa
và thu được lơi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lưc lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
- Thứ 3: Sự phát triển của sản xuất xã hội làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát
triển. từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời song vật chất và văn hóa của nhân dân.

dung. Do đó nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
+ Đối với người sản xuất hàng hóa, họ tạo ra giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ
quan tâm đến giá trị sử dụng để đạt được mục đích giá trị.Ngược lại, đối với người mua cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thỏa
mãn nhu cầu của mình chứ không phải là giá trị.
4. Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng gía trị
* Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó và được tính bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
- Năng xuất lao động: là sức sản xuất của lao động. Nó được biểu hiện bằng số lượng sản phẩm tạo ra trên một đơn vị thời gian hoặc
là thời gian cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.
W=Q/t
Khi năng suất lao động tăng
+ Tổng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên.
+ Lượng lao động hao phí để làm ra một đơn vị sản phẩm giảm.
+ Thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm
+ Giá trị sản phẩm đó giảm (chú ý : giá trị của hàng hóa giảm không đồng nhất với giá trị sử dụng của nó giảm).
Quan hệ tương quan giữa mức tăng năng suất lao động với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là tương quan tỷ lệ nghịch.
- Cường độ lao động: là mức hao phí lao động trên1 đơn vị thời gian nó phản ảnh mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của
lao động.
Khi cường độ lao động tăng lên à Mức hao phí cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng à Số lượng hàng hóa sản xuất nhưng
lượng lao động hao phí trong một đơn vị sản phẩm không đổi à Giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi.
Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động.
- Tính chất của lao động: Lao động giản đơn, lao động phức tạp
+ Lao động giản đơn: là sự hao phí lao động một cách thông thường mà bất kỳ 1 lao động bình thường nào không cần phải dược đào
tạo cũng có thể thực hiện được.
+ Lao động phức tạp: Là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động lành nghề
Trên thị trường sản phẩm đem ra trao đổi có thể là kết quả của lao động giản đơn hoặc lao động phức tạp. Trong cùng một đơn vị
thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Vì vậy, trong quá trình trao đổi, thị trường sẽ tự phát huy đổi
các lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình cần thiết.
NỘI DUNG 3: Quy luật giá trị, sự phát triển của quy luật giá trị và các giai đoạn phát

2. Tác động của quy luật giá trị
a. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
+ Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng
quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển
sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng.
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc
sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở
ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp
ứng nhu cầu của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá
cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
b. Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị
trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết. Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có
mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi. Điều đó
kích thích những người sản xuất hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm nhằm
tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng
sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
c. Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người lao động thành kẻ giàu, người nghèo.
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng
hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở
rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.
Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán
hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê.
Ý nghĩa lý luận:Quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Mặt
khác, phân hóa xã hội thành người giàu, người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng xã hội.

của công nhân mà tăng lên (tức là có sự thay đổi về lượng).
Ký hiệu: v
* Cơ sở phân chia c và v: căn cứ vào vai trò khác nhau của từng bộ phận trong quá trình hình thành giá trị hàng hóa. c : giá trị được
bảo toàn và di chuyển nguyên vẹn; v: bản chất có khả năng lớn lên về lượng.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu cvà v: vạch rõ nguồn gốc sinh ra m là do v nhưng C là điều kiện cần thiết, không thể thiếu. Từ đó bác
bỏ quan điểm sai lầm cảu các nhà kinh tế học tư sản khi cho rằng “máy móc sinh ra lời – kẻ góp của, người góp công”
Do đó, muốn tăng giá trị thặng dư thì phải tăng cường quản lý, sử dụng v có hiệu quả đồng thời sử dụng hết công suất của máy móc.
b. Tư bản cố định và tưu bản lưu động
* Tư bản cố định là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận chủ yếu của tư bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà
xưởng ) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng
phẩn theo mức độ hao mòn của nó trong quá trình sản xuất.
Ký hiệu : C
1
* Tư bản lưu động là một bộ phận của tư bản sản xuất gồm một phần tư bản bất biến (nguyên liệu, nhiên liệu vật liệu phụ ) và tư bản
khả biến (sức lao động) được tiêu dùng hoàn toàn trong chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá
trình sản xuất.
Ký hiệu: C
2
+ v
* Căn cứ của sự phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động là phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm
trong quá trình sản xuất, hay dựa vào phương thức chu chuyển của tư bản.
* Việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng trong quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý,
sử dụng vốn cố định, vốn lưu động một cách có hiệu quả cao, đặc biệt với sự phát triển của cách mạng khoa học không nghệ, sự đổi
mới tiến bộ của thiết bị, công nghệ diễn ra hết sức nhanh chóng thì việc giảm tối đa hao mòn tài sản cố định, nhất là hao mòn vô hình
là đòi hỏi bức xúc đối với khoa học và nghệ thuật quản lý kinh tế.
3. So sánh hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường
* Giống nhau: đều là hàng hóa, đều có 2 thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng
* Khác nhau:
Hàng hoá sức lao động là một hàng hoá đặc biệt, nó tồn tại trong con người và người ta chỉ có thể bán nó trong một khoản thời gian
nhất định. Vì thế giá trị và giá trị sử dụng của nó khác với hàng hoá thông thường… Nội dung còn lại tự bổ sung.

cạnh tranh giữa các nhà TB
- Thặng dư thu được chỉ thuộc về một bộ phận các nhà
tư bản
NỘI DUNG 5: Tính tất yếu, nội dung và đặc điểm của thời kì quá độ lên CNXH. Trình bày
mục tiêu tổng quát của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam, phương hướng hoàn thành
mục tiêu đó theo tinh thần đại hội đảng lần thứ XI.kj

1. Tính tất yếu:
- Một là: CNTB và CNXH khác nhau về bản chất. CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chử yếu,
không còn đối kháng giai cấp, không còn tình trạng áp bức bốc lột, muốn có 1 XH như vậy cần có một thời gian cải biến lâu dài
- Hai là: CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có trình độ cao. Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định cho CNXH, nhưng phải có time sắp xắp xếp lại
- Ba là: các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát nảy sinh trong lòng XH TB chung là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo
XHCN. Do vậy cần phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển những quan hệ đó
- Bốn là: công cuộc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp, cần phải có thời gian để giai cấp công nhân
từng bước làm quen với những công việc đó
2. Đặc điểm
Đặc điểm nổi bật của thời kì quá độ lên CNXH là những nhân tố của XH mới và những tàn tích của XH cũ tồn tại đan xen lẫn nhau,
đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa – tư tưởng.
+ Trên lĩnh vực kinh tế: là nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, đảm nhận
các khâu then chốt và các lĩnh vực trọng yếu, nhất là trong công nghiệp cơ sở hạ tầng và tài chính tín dụng.
+ Trên lĩnh vực chính trị: Nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập, cũng cố ngày càng hoàn thiện
+ Trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng: chủ nghĩa Mac- Lênin là thế giới quan và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân từng bước giữ vai
trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Bên cạnh đó còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu nông…
-Thực chất của thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản đã bị lật đổ nhưng chưa bị xóa bỏ hoàn
toàn với giai cấp công nhân và quần chúng lao động dã giành được chính quyền đang ra sức đưa đất nước đi lên CNXH. Cuộc đấu
tranh giai cấp với nội dung hình thức mới, diễn ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa tưởng bằng tuyên truyền vận động là chủ
yếu bằng hành chính pháp luật
3. Nội dung
- Trên lĩnh vực chính trị: Xây dựng và bảo vê nhà nước xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bảo đảm quyền

trường; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Xây
dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công băng xã hội…

NỘI DUNG 6: Khái niệm, bản chất của nhà nước XHCN, chức năng nhiệm vụ của nhà
nước XNCN
1. Khái niệm:
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của hệ thống chính trị XHCN, một công cu quản lý mà
đảng cộng sản lãnh đạo nhân dan tổ chức ra để qua đó, nhân dân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích của mình; cũng qua đó ma
giai cấp công nhân và đảng công sản lãnh đạo được toàn xã hội trong công cuộc xây dựng xã hội mới.
2. Đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Do bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa mang bản chất của giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc
sâu sắc nên nhà nước xã hội chủ nghĩa còn có những đặc trưng riêng của nó, đó là những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Một là, nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ để đàn áp một giai cấp nào đó, nhà nước đó thực hiện một chính sách giai
cấp vì lợi ích của tất cả những người lao động nhưng đồng thời vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó
đối với nhà nước vẫn được duy trì.
- Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc trưng về nguyên tắc khác hẳn với nhà nước tư sản. Cũng là công cụ của chuyên chính giai
cấp, nhưng vì lợi ích của tất cả những người lao động tức là tuyệt đại đa số nhân dân, nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện sự trấn
áp những kẻ chống đối phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt tổ chức
xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản. V.I.Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản
không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức xây dựng toàn
diện xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
- Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, và theo V.I.Lênin, con đường vận động, phát triển của
nó là: ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân, mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
- Năm là, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nhà nước”. Sau khi
những cơ sở kinh tế – xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong”.Đây cũng là
một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản.
Với những đặc trưng đó, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở việc quản lý xã hội trên tất cả
các lĩnh vực bằng pháp luật.

năng động sáng tạo của nhân dân xây dựng xã hội mới:
Những thiếu sót này đã làm cho nhiều thế hệ người sống trong xã hội mới lâm vào tình trạng thụ động, ỉ lại, xuôi chiều.
Tất cả những sai lầm nêu trên đã hạn chế tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và cuối cùng, chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng toàn
diện, buộc các nước phải cải tô, cải cách, đổi mới.Trong quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới, nhiều Đảng Cộng sản lại mắc phải những
sai lầm mang tính chất nguyên tắc.Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch ở bên ngoài, kết hợp với những kẻ phản bội ở bên trong
đã tấn công làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Au và Liên Xô.
2. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp
Nếu nói khái quát về nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đo của chủ nghĩa xã hội hiện thực vào những năm cuối thập niên 80 và
đầu thập niên 90(Thế kỷ XX) thì có thể nêu lên 3 nguyên nhân:
+ Thứ nhất, do sai lầm chủ quan của các Đảng Cộng sản ở các nước Xã hội chủ nghĩa.
+ Thứ hai, do sự phản bội của các phần tử cơ hội trong các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.
+ Thứ ba, do sự tiến công điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước.
Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình CNXH Xô Viết
1. Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội SôViết
- Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đi và thời kỳ khủng hoảng
- Từ tháng 4 năm 1989 sự đổ vở diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu
- Tháng 9 năm 1991 chế độ CNXH ở Liên Xô và 6 nước Đông Âu đã bị sụp đổ hoàn toàn
2. Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết
a. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết
Nguyên nhân sâu xa là những sai lầm về mô hình phát triển của CNXH XôViết. Sakhi Lênin qua đời chính sách kinh tế mới không
được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hoá tập trung cao độ.
1. Kinh tế, chính trị:
Chậm đổi mới về kinh tế, thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã hạn chế nhiều động lực kinh tế dẫn đến khủng
hoảng suy thoái
Liên Xô, Đông Âu đã có si lầm về hệ tư tưởng và đường lối chính trị, từ chổ nhận thức vận dụng sai đến chổ xa rời bác bỏ hệ tư tưởng
Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội , Đảng cộng sản dẫ đến sụp đổ CNXH. Các nước XHCN khác như Việt Nam tuy không từ bỉ chủ nghĩa
Mác-lênin nhưng sai lệch trong nhận thức và vận dụng chỉ đạo chiến lược dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội.
1. Về văn hoá xã hội
Chưa chú ý đến lợi ích của con người trên mọi lĩnh vực, bình quân chủ nghĩa, triệt tiêu nhiều động lực xã hội kết hợp với tư tưởng
phong kiến gia trưởng và lối sống tiêu cực của phương Tây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status