CÂU HỎI ÔN TẬP
Môn: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật XHCN
Câu 1: Phân tích các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam
* Khái niệm nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà nước pháp quyền XHCN VN là nhà nước XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp quản lý
XH theo Pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân do Đảng tiền phong của giiai cấp
công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân.
* Đặc trưng của nhà nước pháp quyền
- Là nhà nước quản lý XH bằng pháp luật, trong hệ thống PL Hiến Pháp là tối cao.
- PL trong NN pháp quyền mang tính nhân văn, nhân đạo phục vụ con người, vì con người.
- Mọi cơ quan NN, CBCC NN đều ph ải tôn trọng PL, nghiêm chỉnh chấp hành PL, dặt mình
dưới PL.
- Các quyền tự do, lợi ích của công dân được mở rộng có cơ chế bảo đảm và được bảo vệ trong
hiện thực CS.
- Q.hệ giữa NN và công dân, công dân với NN được thiết lập trên cơ sở trách nhiệm qua lại,
tương tác gắ bó hữu cơ với nhau ở các lĩnh vực đ/s XH
- Trong NNPQ, vai trò của tòa án được đề cao trong bảo vệ PL tránh cho PL sự xâm hại từ mọi
phía.
* Phân tích các đặc trưng của NN PQ XHCN Việt Nam
1. Là nhà nước thực sự của dân, do dân và vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện(qua
cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào xâydựng và
bảo vệ nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của nhà nước, của cán bộ, công chức, viênchức nhà
nước. Đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, xây dựng xã hội phất triển toàn diện vì nhân
dân, lôi cuốn thu hút nhân dân tham gia sâu rộng ngày càng nhiều vào hoạt động quản lý nhà
nứơc, quản lý xã hội,tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ trong
hoạt động của nhà nước của xã hội, phấn đấu đạt đến mục đich “dân giàu, nước mạnh, xã hội
côngbằng, dân chủ và văn minh”.
2. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực
phạm thì nhà nước có trách nhiệm đứng ra bảo vệ.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường
được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo
vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân,chịu trách nhiệm trước công
dân về mọi hoạt động của mình. Chất lượng cuộc sống của nhân dânchính là một thước đo hiệu
lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do
dân và vì dân.
5. Đó là nhà nước do ĐCSVN lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám
sát và phản biện XH của MTTQ VN và các tổ chức thành viên của Mặt trận. .Đảng đề ra những đường
lối, chính sách phát triển xã hội phù hợp với quy luật và có đầy đủ khảnăng để tổ chức thực hiện
thành công đường lối, chính sách đó. Đảng cộng sản VN là đảng duy nhất lãnh dạo toàn diện
và tuyệt đối hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở các hìnhthức sau: định ra chiến
lược, mục tiêu cơ bản, đường lối chính sách phát triển XH làm cơ sở cho các hoạt động của các tổ
chức trong hệ thống chính trị. Đảng tiến hành kiểm tra các hoạt động củacác cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện đưòng lối chính sách của Đảng. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận
và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của CM Việt Nam
6. Là nhà nước thực hiện đường lối hoà bình, hữu nghị với nhân dân các nước, các
dân tộc, các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập độc lập chủ quyền toàn ven
lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng
và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
Câu 2: Vì sao nói xét xử là chức năng đặc thù chỉ thuộc về tòa án?
Trả lời:
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện xét xử các
vụ hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và các vụ án khác theo quy
dịnh của pháp luật.
Xét xử chỉ thuộc về tòa án bởi đây là chức năng mang tính chất đặc thù của tòa án. Đó là việc
đưa ra phán quyết dưới hình thức một bản án hoặc quyết định của tòa án có thẩm quyền nhằm giải
quyết các xung đột trong trong các quan hệ pháp lý cụ thể do pháp luật quy định. Việc làm này chỉ có
thể do tòa án thực hiện mà không thể là cơ quan khác, được cụ thể thông qua các đặc điểm của xét xử.
- Những người làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ pháp lý rất cao, đủ
khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp như xác định tội phạm và người phạm tội và áp dụng
hình phạt, phán quyết các tranh chấp, các sự kiện liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức.
- Lao động xét xử là lao động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi hỏi tư duy ở trình độ cao
của người Thẩm phán. Họ phải tiếp cận với một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành, kể cả pháp luật của các quốc gia khác khi có liên quan và cả pháp luật quốc tế.
- Lao động xét xử luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của pháp luật tố tụng về
chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết định.
- Việc xét xử phải tuân theo các nguyên tắc Hiến định cũng như nguyên tắc tố tụng. Các Tòa án
về nguyên lý không tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất mà tổ chức thành từng cấp, độc lập
với nhau khi xét xử. Trong số các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Toà án thì nguyên
tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chiếm vị trí đặc biệt và là
nguyên tắc rất đặc trưng.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của toà án lại càng được khẳng
định. Vì toà án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhà nước và việc thực thi quyền
này lại ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu và các giá trị của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam, toà án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý của chế độ, đồng
thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của cả hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Nguyên tắc độc lập xét xử là một giá trị phổ biến khi nói về một nền tư pháp công bằng, là một
trong những đặc thù của việc thực hiện quyền tư pháp và là một nguyên tắc rất quan trọng trong tổ
chức và hoạt động của toà án trong nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi ở Toà án các yếu tố, chuẩn mực như sự công minh, công
bằng, dân chủ, hiệu quả, hiệu lực, trong đó thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử là cơ sở nền tảng thực
hiện các đòi hỏi này. Độc lập xét xử được xem như một điều kiện bảo đảm sự vận hành bình thường
của Toà án, cho một trình tự tư pháp công bằng trong Nhà nước pháp quyền XHCN.
Từ việc phân tích các đặc điểm của hoạt động xét xử trên cho thấy, xét xử là chức năng đặc thù
chỉ thuộc về tòa án.
Cau 3: * Trách nhiệm của Đại biểu Hội đồng nhân dân
thuộc nội dung, chương trình kỳ họp;
- Biểu quyết thông qua những vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp.
3. Tiếp xúc cử tri, tiếp công dân
Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tiếp xúc cử tri ở đơn
vị bầu cử của mình, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân với Hội đồng nhân dân và các cơ
quan Nhà nước, báo cáo kết quả kỳ họp với cử tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp luật.
Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của
công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng
dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khi nhận được ý kiến, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân xem xét, nghiên
cứu để phản ánh tới Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền.
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm
nghiên cứu và hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp hoặc thông qua
Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét
giải quyết. Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân phải tổng hợp ý kiến, kiến nghị, đơn thư khiếu nại,
tố cáo của công dân để báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân.
* Quyền hạn
1. Quyền chất vấn
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các
thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả
lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.
Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi chất vấn đến Thường
trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ họp
đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân có thể quyết định cho trả lời tại
không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp
khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay
với Chủ tọa kỳ họp.
Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại
biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp.
6. Quyền xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý
do khác. Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng
nhân dân cùng cấp xét và quyết định.
7. Quyền giới thiệu và ứng cử
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ quy định tại các điểm
sau:
- Chủ tịch Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ
tọa kỳ họp;
- Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các
thành viên khác của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự
giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ
tịch Hội đồng nhân dân;
- Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân;
- Thư ký kỳ họp của mỗi khoá Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tọa kỳ họp;
Bãi nhiệm, tạm đình chỉ nhiệm vụ đại biểu
Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức
độ phạm sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm. Thường trực Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng
nhân dân theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm
phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm được tiến hành
thức, kỹ năng hoạt động đại biểu để thực hiện ngày càng tốt hơn trách nhiệm của mình.
- Mỗi đại biểu phải tích cực nghiên cứu, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và Nghị quyết của HĐND; thường xuyên trau dồi kỹ năng hoạt động, kỹ năng thu thập
và xử lý thông tin, nghe dân nói và nói dân nghe.
- Tích cực nắm bắt thông tin, nắm tình hình thực tế của địa phương để tham gia thực hiện tốt
công tác giám sát, thẩm tra, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng tại diễn đàn kỳ họp của
HĐND.
- Chủ động nghiên cứu tài liệu, thể hiện đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh của mình trong hoạt động
chất vấn; tích cực tham gia thảo luận, tranh luận tại kỳ họp để làm sáng tỏ các vấn đề; cùng HĐND bàn
bạc và đi đến quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng, hiệu quả của kỳ họp HĐND.
- Đại biểu HĐND cần tích cực hơn trong hoạt động, khắc phục khó khăn, chủ động sắp xếp thời
gian để tham gia đầy đủ các hoạt động của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND, cố gắng làm
tròn trách nhiệm của người đại biểu nhân dân.
Câu hỏi 5: Anh/chị hãy cho biết trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan trong thực hiện dân chủ
trong hoạt động của cơ quan. Liên hệ việc thực hiện trách nhiệm đó của thủ trưởng cơ quan anh
chị công tác.
Trả lời:
Dân chủ là một hình thức chính trị - nhà nước của xã hội. Có thể hiểu dân chủ là chính quyền
thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể quyền lực của nhà nước, Nhà nước dân chủ là nhà nước thừa
nhận và bảo đảm các quyền tự do và bình đẳng của công dân.
Dân chủ trong nội bộ cơ quan quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan và của cán bộ,
công chức trong thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan; những việc phải công khai để
cán bộ, công chức biết; những việc cán bộ, công chức tham gia ý kiến; những việc cán bộ, công chức
giám sát, kiểm tra.
Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ,
công chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất
chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất
lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước; phòng ngừa, ngăn chặn và chống
các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.
của cán bộ, công chức; giải đáp thắc mắc đề nghị của cán bộ, công chức; bàn các biện pháp cải tiến
điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức; tham gia ý kiến về các vấn đề của cơ
quan trước khi thủ trưởng cơ quan quyết định, thực hiện khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích.
Phần liên hệ anh/chị liên hệ thực tế cơ quan anh chị công tác
Câu hỏi 6: Đ/C hãy cho biết thế nào là áp dụng pháp luật lý giải vì sao ADPL là
hình thức áp dụng đặc thù.
Trả lời:
Khái niệm ADPL:
ADPL là 1 hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà
nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định
của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát
sinh, chấm dứt, hay thay đỏi những quan hệ pháp luật cụ thể.
ADPL vừa là 1 hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền
hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của nhà nước. Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của
cơ quan nhà nước, được xem như là đảm bảo đặc thù của nhà nước cho các quy phạm pháp
luật được thực hiện có hiệu qủa trong đời sống xã hội. Là 1 dạng thực hiện pháp luật quan
trọng, ADPL cần làm rõ các vấn đề sau:
Các trường hợp ADPL;
- ADPL cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp cần sử dụng
các biện pháp cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp
luật.
- ADPL khi các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không
có sự tác động của Nhà nước.
- ADPL khi sẩy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia các
quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được.
- ADPL trong các trường hợp Nhà nước thấy cần thiết tham gia để kiểm tra, giám sát
hoạt động các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại
của 1 số sự việc, sự kiện thực tế.
Đặc điểm ADPL;
- ADPL về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành. Pháp
nghị lần thứ nhất thông qua luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú soạn thảo. Cương lĩnh chính trị
và luận cương chính trị là những văn kiện thể hiện đường lối quan điểm cách mạng của Đảng ta, vậy
hai văn kiện này có đặc điểm gì giống và khác nhau chúng ta cùng đi tìm hiểu để làm rõ nội dung này.
Hai văn kiện trên được xây dựng trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, xác định rõ phương
hướng chiến lược, nhiệm vụ cụ thể và cơ bản, lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng, đoàn kết
quốc tế và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10-1930 có những điểm
giống nhau sau:
- Về phương hướng chiến lược của cách mạng: cả hai văn kiện đều xác định tính chất của cách
mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa
để tiến lên cộng sản chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ cách mạng nối tiếp nhau. Phương hướng chiến
lươc thể hiện xu thế phát triển của thời đại và nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam.
- Về nhiệm vụ cách mạng: cả hai văn kiện đều nêu ra nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong
kiến để giành độc lập cho dân tộc, lấy lại ruộng đất cho nông dân.
- Về lực lượng cách mạng: hai văn kiện đã chỉ ra chủ yếu là lực lượng nông dân và công nhân.
Đây là hai lực lượng nòng cốt cơ bản và đông đảo trong xã hội góp phần to lón vào công cuộc giải
phóng dân tộc nước ta.
- Về phương pháp cách mạng: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính
trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến giành chính
quyền về tay công nông.
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản: với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân
thì Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được
dân chúng.
Sự giống nhau của hai văn kiện trên là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Bên cạnh những điểm giống nhau nói trên, Chính cương sách lược vắn tắt và Luận cương chính
trị tháng 10-1930 của Đảng còn có những điểm khác nhau như sau:
- Cương lĩnh chính trị xây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam còn Luận cương thì rộng
hơn là ( Đông Dương).
Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, xác định được nòng cốt của cách mạng. Tuy
nhiên, Luận cương chính trị tháng 10-1930 cũng có một số hạn chế nhất định: sử dụng một cách máy
móc dập khuôn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam còn quá nhấn mạnh đấu tranh gia cấp.
Còn Cương lĩnh chính trị tuy còn sơ lược vắn tắt nhưng nó đã vạch ra phương hướng cơ bản của cách
mạng Việt Nam phát triển từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh thể hiện sự vận dụng đúng đắn quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam kết hopự nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại và nhu cầu khách quan của lịch sử.
Chính cương sách lược đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10-1930 cùng với sự
ra đời thống nhất về tổ chức có ý nghĩa hết sức to lớn cùng với sự ra đời của Đảng ta, là sự chuẩn bị
đầu tiên có tính chất quyết định cho nhũng bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử cách mạng
của dân tộc ta. Chúng là nền tảng cho những văn kiện xây dựng và phát triển đất nước sau này. Sự
đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta từ khi
Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.