câu hỏi và đáp án môn những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa mác lê nin - Pdf 24

ĐÁP ÁN 20 CÂU HỎI TRIẾT HỌC
Câu 1: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với
tính cách là hạt nhân lý luận của Thế giới quan khoa học (TGQKH).
Trả lời: Trang 15-25 sách GK.
1. Nội dung: của CNDVBC với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế giới quan khoa học bao
gồm 2 nhóm quan niệm. Đó là nhóm quan niệm duy vật về thế giới nói chung và nhóm duy vật
vầ xã hội nói riêng:
a)Quan điểm duy vật về thế giới:
 Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thể thống
nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại. Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất của
nó, tính vật chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và
khoa học tự nhiên.
 Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:
 Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận.
 Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất định;
đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối
bởi các quy luật khách quan của TGVC.
 Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao; thế giới thống
nhất và duy nhất.
 Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và
tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
 Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết trong
bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do con người
sáng tạo ra. Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó tri thức và tình
cảm có vai trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào
hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tác động lên thế giới góp phần biến đổi thế giới.
Quan điểm duy vật về xã hội:
 Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có
quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động
thực tiễn.

tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng.
 CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới.
 CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới
tiến bộ.
 CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của
nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận
dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Trả lời: trang 28-33 SGK
* Cơ sở lý luận :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về
tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận
thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm
bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện .
- Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển
nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong
quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta
về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt”
đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa
mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo
trong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó.
- Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự
tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào
“thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật,
hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn.
Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù
hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy
tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng .
- Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình ra thành
các hiện tượng điển hình. Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì bộc lộ ra trước chủ

xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm
yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản
trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp.
* Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của
lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:
 Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải:
- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được
tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan.
- Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết
khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng
thực nghiệm.
 Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải :
- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó.
- Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach,
tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat
động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình
cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat
động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới.
* Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:
Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là:
- Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường
lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.
- Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối,
chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.
- Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực
chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích
chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội ) thành
động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới.

bất chấp quy luật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ra những
hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo dài.
Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiện nguyên tắc
khách quan. Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tư duy biện chứng, Vận dụng
nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan trong hoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai
lầm trong chính sách phát triển đất nước.
Câu 2: trình bày thêm
Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủ trương của
Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Để làm được điều đó Phải tôn
trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết định của VC, tức:
 Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch định chiến
lược, sách lược phát triển đất nước;
 Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân – cộng đồng, kinh tế –
quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…) để hiện thực hóa chúng.
 Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ
yếu phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (kinh tế, chính trị, tinh
thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới
Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai trò của các yếu tố chủ quan
(t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố CN trong h.động nhận thức & thực tiễn
cải tạo đất nước. Cụ thể:
 Coi sự thống nhất nhiệt tình CM & tri thức KH là động lực tinh thần thúc đẩy công
cuộc Đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; Bồi dưỡng nhiệt tình, phẩm chất
cách mạng; Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, tài trí người Việt Nam,…
 Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư
tưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & con đường đi lên CNXH);
 Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân.
 Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ,
hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng; bất chấp quy luật
khách quan.
Câu 4: Lý luận? phương pháp? Mối quan hệ giữa chúng? Anh/chị hãy nêu những yêu cầu

nhau. Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học.
- Lý luận ngành: lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành;
làm cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho hoạt động của ngành đó, chẳng
hạn như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật,…
- Lý luận triết học: hệ thống những quan điểm chung nhất về thế giới và con người, là thế
giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
2. Phương pháp là gì?
Định nghĩa: Phương pháp là hệ thống các yêu cầu mà chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự
để đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu.
Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan
để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Nguồn gốc, chức năng: từ hiểu biết về thuộc tính, quy luật của sự vật, hiện tượng thuộc
các lĩnh vực khác nhau mà các phương pháp khác nhau được xây dựng; và sau đó, chúng được
vận dụng như công cụ tinh thần vào quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiên cải tạo
hiệu quả thế giới của nhân loại.
Phân loại: sự đa dạng của các đối tượng phải nghiên cứu hay cải tạo dẫn đến sự đa dạng
của phương pháp.
- Dựa theo phạm vi áp dụng, phương pháp được chia thành phương pháp riêng (phương
pháp áp dụng cho từng ngành khoa học), phương pháp chung (phương pháp áp dụng cho nhiều
ngành khoa học) và phương pháp phổ biến (phương pháp áp dụng cho mọi ngành khoa học, cho
toàn bộ hoạt động thực tiễn của con người, tức các phương pháp của triết học).
- Dựa theo lĩnh vực áp dụng, phương pháp được chia thành phương pháp chỉ đạo hoạt
động thực tiễn (trước hết là thực tiễn cách mạng cải tạo thế giới) và phương pháp hướng dẫn hoạt
động nhận thức (trước hết là nhận thức khoa học hiện đại).
- Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những
phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng
buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng. Phép biện chứng duy vật không chỉ
đưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện tượng nghiên cứu, mà
đồng thời còn là điểm xuất phát đề đánh giá những kết quả đạt được. Mọi nhạn thức về thế giới
của Mác, đó không phải là học thuyết mà là phương pháp. Nhận thức thế giới của Mác không

Mối liên hệ mang tính khách quan và phổ biến. Nó chi phối tổng quát sự vận động, phát
triển của mọi sự vật, quá trình xãy ra trong thế giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện
chứng.
Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các phạm trù biện chứng như mối liên hệ giữa:
mặt đối lập- mặt đối lập; chất – lượng, cái cũ – cái mới; cái riêng- cái chung; nguyên nhân- kết
quả; nội dung – hình thức; bản chất- hiện tượng; tất nhiên- ngẫu nhiên; khả năng – hiện thực.
Nội dung nguyên lý:
◊ Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn
nhau.
◊ Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến
◊ Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá
trình vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng xảy ra trong thế giới.
Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện:
• Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu
tố, mặt,…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt
- Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố,
mặt,…) nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định ; còn những mối liên hệ, quan hệ (hay những
đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn
định…;
- Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) bên
trong cơ bản, tất nhiên, ổn định… Để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc
điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) còn lại. Qua đó xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống
nhất các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…); phát hiện ra quy
luật (bản chất) của nó.
• Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu
tố, mặt,…) chi phối sự vật.
- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp
thích hợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những

đều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp.
Đọc thêm trang112-114 Đề cương CCLLCT.
Câu 5: Nguyên lý? Nguyên tắc? Mối quan hệ giữa chúng. Anh/Chị hãy nêu những yêu cầu
phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Việc tuân thủ
nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn.
1. Nguyên lý là gì?
- Nguyên lý là những luận điểm xuất phát (tư tưởng chủ đạo) của một học thuyết (lý luận)
mà tính chân lý của nó là hiển nhiên, tức không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không
mâu thuẫn với thực tiễn và nhận thức về lĩnh vực mà học thuyết đó phản ánh.
- Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn – nhận thức lâu dài của con
người. Nó vừa là cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải –
tiên đoán) và cải tạo thế giới.
- Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nền tảng) và
nguyên lý của triết học. Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản. Đó là nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
2. Nguyên tắc là gì?
- Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự nhằm
đạt mục đích đề ra một cách tối ưu.
3. Mối liên hệ giữa nguyên lý và nguyên tắc
- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng. Nghĩa
là cơ sở lý luận của các nguyên tắc là các nguyên lý: cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện và
nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung
nguyên lý về sự phát triển…
4. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển
Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:
- Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản thân sự
vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó;
- Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những giai
đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển (bản chất) của sự vật.

- Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa
dạng: phát triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển
trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần.
Nội dung nguyên lý
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển.
- Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một hệ
thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo
xu thế phủ định của phủ định.
6. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn.
Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm siêu hình, đầu óc bảo thủ định kiến,
cung cách suy nghĩ xơ cứng giáo điều; nó xa lạ với sự tuyệt đối hóa một giai đoạn nào đó trong
quá trình vận động của đối tượng nhận thức cũng như cả bản thân quá trình nhận thức đối tượng,
nó cũng xa lạ với đầu óc trọng cổ, chủ nghĩa lý lịch, chũ nghĩa thực tại, chủ nghĩa vị lai,…
Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan
điểm (tư duy) siêu hình, bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của
chính mình.
Đọc thêm trang 118, 119 đề cương CCLLCT.
Câu 6: Phân tích nội dung quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất và ngược lại, và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Quy luật chuyển hóa từ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất & ngược lại:
Chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy:
 Chất - tính quy đònh vốn có của sự vật, đặc trưng cho sự vật là nó, giúp phân biệt nó
với sự vật khác.
 Lượng - tính quy đònh vốn có của sự vật, biểu thò quy mô, tốc độ vận động, phát triển
của sự vật cũng như của các thuộc tính (chất) của nó.
 Độ - giới hạn mà trong đó sự thay đổi về Lượng chưa làm Chất thay đổi căn bản.
 Điểm nút - mốc (giới hạn) mà sự thay đổi về Lượng vượt qua nó sẽ làm Chất thay đổi
căn bản.

ra đời, chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng. Chất mới có thể làm thay đổi quy
mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhòp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật đó.
Ýùnghóa phương pháp luận:
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
 Phát hiện chính xác các quy đònh về chất và lượng của sự vật; thấy được sự thống nhất
giữa chúng để xác đònh đúng độ, điểm nút của sự vật;
 Phân tích kết cấu và điều kiện tồn tại của sự vật để xác đònh đúng tính chất, quy mô,
tiến độ của bước nhảy có thể xảy ra;
 Hiểu rằng, chất chỉ thay đổi khi lượng thay đổi vượt quá độ, quá điểm nút; còn nếu lượng
chưa thay đổi qua độ, chưa qua điểm nút thì bước chưa thể xảy ra, chất chưa thay đổi căn
bản được;
 Xác đònh được chất mới (sau khi sự vật thực hiện bước nhảy), qua đó xác đònh lượng độ,
điểm nút và bước nhảy, tức đònh hình được sự vật mới phải ra đời thay thế sự vật cũ như
thế nào.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
 Hiểu rõphương thức vận động và phát triển của sự vật; từ đó xây dựng các đối sách thích
hợp;
 Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng linh hoạt các công cụ, phương tiện vật chất can
thiệp đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ vào tiến trình vận động và phát triểncủa sự vật,
lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích cùa chúng ta. Cụ thể:
◊ Muốn có sự thay đổi về chất phải kiên trì tích lũy thay đổi về lượng;
◊ Muốn duy trì sự ổn đònh của chất phải giữ sự thay đổi về lượng trong phạm vi giới
hạn độ;
◊ Khi lượng thay đổi đạt tới giới hạn độphải kiên quyết thực hiện bước nhảy.
Câu 7 : Bằng lý luận và thực tiễn, Anh/ chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái cũ
và cái mới ln là qúa trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời
nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ.
* Về mặt lý luận: SGK trang 48-49
+ Quy luật phủ định của phủ định của phép tư duy biện chứng chỉ ra rằng: Bất cứ sự vật
hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua q trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong. Sự vật

tư sản đang hình thành trong nền kinh tế.
Câu hỏi 8: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể (LS-CT) là “linh hồn”
phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc
LSCT.
Trả lời: SGK trang 73-76
a/ Cơ sở khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể (LS-CT) là “linh hồn” phương pháp luận
của triết học Mác – Lênin
- Triết học Mác-Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy
triết học trong lịch sử nhân lọai.
- Triết học Mác-Lênin xem xét lịch sử xuất phát từ con người và cho rằng con người là sản
phẩm của lịch sử.
b/ Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc LS-CT
1. Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển
cụ thể của những sự vật cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nghĩa là:
- Phải biết sự vật đã ra đời và đã tồn tại như thế nào, trong những điều kiện, hoàn cảnh nào,
bị chi phối bởi những quy luật nào;
- Hiện giờ sự vật đang tồn tại như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh ra sao, do
những quy luật nào chi phối;
- Trên cơ sở đó, phải nắm bắt được sự vật có thể sẽ phải tồn tại như thế nào (trên những nét
cơ bản) trong tương lai.
2. Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng
cho những sự vật cụ thể, đang tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà không
nên áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn
cảnh, quan hệ nào.
3. Nguyên tắc LS-CT được V.I. Lênin cô đọng trong nhận định: “Xem xét mỗi vấn đề theo
quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, những hiện
tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát
triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào”.
Điều này có nghĩa là nguyên tắc LS-CT đỏi hỏi phải phân tích sự vật cụ thể trong những tình hình
cụ thể để thấy được:

nguyên tắc này vào xem xét tình hình thế giới lúc này có những thay đổi lớn mà V.I. Lênin đã đi
đến kết luận đúng đắn là: cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi ở vài nước, ở khâu yếu nhất của
CNTB.
Đảng CS Việt Nam, Đảng CS Trung Quốc cũng đang quán triệt và vận dụng sáng tạo
nguyên tắc này vào thực tiễn cách mạng mỗi nước để xây dựng cho quốc gia mình một con
đường riêng đi lên CNXH.
Vận dụng nguyên tắc LS-CT, từ năm 1930, Đảng ta đã lựa chọn con đường CNXH. Ngày
nay, để xây dựng thành công CNXH, Đảng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
vững; thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi
trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường an ninh, quốc phòng; bảo vệ và xây
dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Câu 9: Lý luận? thực tiễn? Anh/chị hãy phân tích những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Trả lời: SGK trang 78-88
1. Phạm trù thực tiễn
Thực tiễn là hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội, nhằm cải
tạo tự nhiện và xã hội. Phạm trù “thực tiễn” là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
triết học Mác- Lê nin nói chung và lý luận nhận thức mácxít nói riêng.
I.1. Thực tiễn là một hoạt động vật chất
Trong hoạt động vật chất, con người sử dụng các phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất
của mình để tác động vào tự nhiên, xã hội nhằm cải tại, biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của
mình. Đây là một quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể. Trong đó, chủ thể hướng vào
việc cải tạo khách thể. Cho nên thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người với
thế giới bên ngoài.
I.2. Hoạt động thực tiễn có mục đích
1.2.1 Hoạt động thực tiễn là bản chất của con người.

phạm vi phản ánh của nó và vai trò của phương pháp luận).
3. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
3.1. Thực tiễn và lý luận có mối quan hệ biện chứng cho nhau. Thực tiễn là cơ sở, là động lực,
là mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận. Lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực
tiễn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
3.1.1 Như ở trên ta đã nói, thực tiễn là cơ sở của lý luận. Con người nhận thức giới tự nhiên đầu
tiên bằng hoạt động thực tiễn . Sự tác động của con người buộc giới tự nhiên bộc lộ những thuộc
tính, quy luật để từ đó con người có kinh nghiệm. Quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát kinh
nghiệm thành một môn khoa học lý luận. Thực tiễn đề ra những vấn đề mà lý luận phải trả lời.
3.1.2 Thực tiễn là động lực của lý luận. Qua hoạt thực tiễn luôn nảy sinh những vấn đề đòi hỏi
lý luận phải hoàn thiện chính mình để bao quát và giải quyết tốt các vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Điều này càng làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn.
3.1.3 Thực tiễn là mục đích của lý luận. Không có thực tiễn thì lý luận không thể đem lại lợi ích
cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người và qua thực tiễn đã giúp cho lý luận
hoàn thành được mục đích của mình. Lý luận hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn làm cho thực tiễn ngày
càng hiệu quả hơn.
3.1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận: Lý luận chỉ được coi là chân lý khi nó phù hợp
với thực tiễn khách quan mà nó phản ánh, và đồng thời nó được thực tiễn kiểm nghiệm. Thông
qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tang tri thức nhân loại.
3.2. Lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn.
Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận để làm cho thực tiễn có hiệu quả nhất.
3.2.1. Hoạt động thực tiễn của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường.
Khi lý luận đạt đến chân lý thì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng,
phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển của các mối
quan hệ thực tiễn.
3.2.2. Vận dụng lý luận vào thực tiễn cần phân tích rõ từng tình hình cụ thể, tránh vận dụng lý
luận máy móc, giáo điều kinh viện. Như vậy chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm
phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn
3.2.3. Từ lý luận xây dựng mô hình thực tiễn phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những
yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.

3/. Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả:
Hoàn cảnh giai cấp vô sản của nước ta trong buổi đầu cách mạng vừa giành độc lập tự do
làm mảnh đất màu mỡ cho các bệnh này phát triển nhanh, tuy nhiên chúng ta đã để chúng tồn tại
quá dài. Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác – Lênin. Cụ thể:
- Bám sát thực tiễn, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, thường xuyên kiểm tra trong thực
tiễn và không ngừng phát triển cùng thực tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ
sung, vận dụng lý luận phù hợp với thực tiễn;
- Phải coi trọng lý luận và công tác lý luận; nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục
và đào tạo, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học – công nghệ…;
- Phải đổi mới công tác lý luận của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt nhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phương châm lớn chỉ
đạo hoạt động lý luận của Đảng;
- Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì kinh tế thị trường luôn vận
động và biến đổi, đòi hỏi mọi thành phần, mọi chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, phải
thường xuyên bám sát thị trường để ứng phó cho phù hợp
- Phải đổi mới tư duy lý luận, khắc phục sự lạc hậu của lý luận, thu hẹp khoảng cách giữa
lý luận và thực tiễn bằng cách:
+ từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, tư biện;
+ thường xuyên đối chiếu lý luận với cuộc sống, vận dụng lý luận vào hoàn cảnh thực tế
của nước ta;
- Coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn, qua đó sửa đổi, phát triển lý luận đã có, bổ
sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách, hình thành lý luận mới, quan điểm mới để chỉ đạo sự
nghiệm đổi mới xã hội.
Câu 11: Anh/chị hãy phân tích những tiền đề xuất phát mà Các Mác dựa vào để xây dựng
lý luận hình thái kinh tế, xã hội?
Trả lời: SGK trang 94-99
Các nhà triết học duy tâm trước Mác đã tiếp cận các vấn đề xã hội từ góc độ nhân tố tinh
thần như: đạo đức, niềm tin tôn giáo, chính trị…, đã “lấy sự thống trị của tôn giáo” làm tiền đề.
Và dần dà, người ta tuyên bố mọi quan hệ thống trị là một quan hệ tôn giáo và người ta biến quan

giữa con người với con người). Hai mặt này của sản xuất vật chất tồn tại thống nhất với nhau, tạo
thành phương thức sản xuất. Sự tác động qua lại giữa chúng trong một phương thức sản xuất đã
tạo nên quy luật: quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động sản xuất, Mác đi tới việc nghiên cứu các mặt của đời
sống xã hội như chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo…có liên hệ ràng buộc với nhau. Ở đây,
Mác đã phát hiện ra các quy luật: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội; phương thức sản xuất quyết định mọi mặt của đời sống xã hội. Từ kết
quả này, trong tư duy Mác hình thành quan niệm cho rằng xã hội là một hệ thống, trong đó các
mặt liên hệ, tác động lẫn nhau làm cho xã hội vận động và phát triển theo các quy luật khách
quan; tuy nhiên các quy luật đó không tác động bên ngoài hoạt động sống có ý thức của con
người cụ thể. Xã hội là sự thống nhất mặt khách quan và mặt chủ quan.
Tóm lại, xuất phát từ vai trò quyết định của sản xuất vật chất, Mác đã phân tích một cách
khoa học mối quan hệ của tất cả các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội; cũng như phát hiện ra
các quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội. Trên cơ sở đó, Ông đã đi tới sự
khái quát khoa học về lý luận hình thái kinh tế xã hội.
Câu 12: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
Trả lời: Đáp án 186-193
I Biện chứng giữa lực lượng sản xuất (PTSX) và quan hệ sản xuất (QHSX)
1.1 khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
1.1PTSX : là cách thức con người tiến hành sản xuất vật chất ở từng giai đoạn lịch sử nhất
định của xã hội loài người.
- Mỗi xã hội được đặc tưng bằng một PTSX nhất định.
- PTSX đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội : Kinh tế, chính
trị, văn hóa và xã hội.
- Sự thay thế kế tiếp nhau của các PTSX trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội
loài ngưòi từ thấp đến cao.
- Trong sản xuất, con người có quan hệ : Một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, tức
là LLSX, mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất. PTSX chính là sự
thống nhất giữa LLSX ở một trình độ nhất định với QHSX tương ứng.

kỹ năng của người lao động, quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động… Trình độ của LLSX
gắn với tính chất của LLSX. Tính chất của LLSX : Khi SX còn trình độ thấp kém thì LLSX có
tính chất cá nhân, khi SX đạt tới trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì
LLSX có tính xã hội hóa. Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả
cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải thiện, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những
công cụ lao động mới, tinh xảo hơn, đồng thời kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng
sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ theo.
Như vậy, sự thay đổi của xã hội bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi LLSX. Cùng với sự
phát triển của LLSX, QHSX cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ
của LLSX. Sự phù hợp đólà động lực làm cho LLSX phát triển mạnh mẽ.
QHSX phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp tối ưu giữa TLSX và người lao động.
Mở ra điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh thần đối với người lao động. Nhưng
LLSX luôn luôn phát triển còn QHSX có xu hướng tương đối ổn định. Khi LLSX phát triển lên
một trình độ mới, QHSX không còn phù hợp nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của
nó sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của PTSX. Sự phát triển khách đó tất yếu dẫn đến
việc xóa bỏ QHSX cũ, thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của
LLSX, mở đường cho LLSX phát triển. Việc xóa bỏ QHSX cũ, thay thế bằng QHSX mới cũng có
nghĩa là sự diệt vong của một PTSX lỗi thời và sự ra đời của PTSX mới. Trong xã hội có giai cấp
đối kháng, mâu thuẫn giữa LLSX mới và QHSX lỗi thời là cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh
giai cấp, đồng thời là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội. Đây là quy luật phổ biến tác
động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại “Quy luật QHSX phù hợp với trình độ PT của
LLSX”. QHSX phù hợp với trình độ của LLSX lại trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường
cho LLSX phát triển. QHSX không phù hợp với trình độ của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Song tác động kìm hãm đó cũng chỉ có tính chất tạm thời, theo tính tất yếu khách quan,
cuối cùng QH cũng se phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Sở dĩ
QHSX có tác động trở lại mạnh mẽ với LLSX là vì nó qui định: Mục đích của SX, hệ thống quản
lý của SX và quản lý xã hội, Phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao
động được hưởng. Từ đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện để kích thích việc cải tiến lao động và kỹ
thuật sản xuất, thúc đẩy LLSX phát triển. Thực tiễn đã cho thấy LLSX chỉ có thể phát triển khi có
một QHSX hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó. QHSX lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo

lịch sử đều do tác động của các quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật phát triển khách quan của xã hội, Mac đã đi đến kết luận: “sự
phát triển của những hình thái kinh tế- xã hội là một quá trình lịch sử- tự nhiên”.
Các mặt cơ bản hợp thành một htkt-xh không tách rời nhau mà liên hệ biện chứng với
nhau hình thành nên những qui luật phổ biến của xã hội. Đó là quy luật về sự phù hợp của qhsx
với tính chất và trình độ phát triển của llsx; quy luật csht quyết định kttt và các quy luật xã hội
khác. Chính tác động của các quy luật khách quan đó mà các htkt-xh vận động phát triển thay thế
nhau từ thấp đến cao trong lịch sử như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí,
nguyện vọng chủ quan của con người.
Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của
llsx. Chính tính chất và trình độ phát triển của llsx đã quy định một cách khách quan tính chất và
trình độ của qhsx. Do đó xét đến cùng llsx quyết định quá trình vận động và phát triển của htkt-
xh như quá trình lịch sử tự nhiên
Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của các htkt-xh thì quy
luật về sự phù hợp của qhsx với tính chất và trình độ phát triển của llsx có vai trò quyết định nhất.
Llsx bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của xã hội, quy định khuynh hướng phát
triển từ thấp đến cao. Qhsx là mặt thứ hai của ptsx biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển
của lịch sử. Những qhsx lỗi thời được xóa bỏ và được thay thế bằng những kiểu qhsx mới cao
hơn. Đến lượt nó, sự thay đổi qhsx sẽ kéo theo sự thay đổi về kttt, và do đó mà htkt-xh cũ được
thay thế bằng htkt-xh mới cao hơn, tiến bộ hơn. Quá trình đó diễn ra theo quy luật khách quan
chứ không phải theo ý muốn chủ quan của con người.
Sự thay thế một htkt-xh này bằng một htkt-xh mới cao hơn thường được thực hiện thông
qua cách mạng xã hội. Nguyên nhân sâu sa của cách mạng xã hội là mâu thuẫn giữa llsx và qhsx,
khi qhsx trở thành xiềng xích của llsx. Trong thời kỳ cách mạng xã hội khi cơ sở kinh tế thay đổi
thì sớm hay muộn toàn bộ kttt đồ sộ cũng thay đổi theo
Quá trình kế thừa của lịch sử loài người luôn luôn cho phép cộng đồng nào đó, trong điều
kiện nhất định do tác động của các nhân tố, các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, có thể bỏ qua
các giai đoạn phát triển nhất định để vươn tới trình độ tiên tiến của nhân loại. Trong thời đại ngày
nay chủ chương rút ngắn để đi lên CNXH ở một số quốc gia tiền tư bản chủ nghĩa chẳng những
không mâu thuẫn với tinh thần của sự phát triển mang tính lịch sử- tự nhiên mà còn là biểu hiện

thuật cho CNXH ở nước ta trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của đất nước cũng như xu thế
quốc tế hóa kinh tế thế giới. đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH.
- Trong công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phát triển mạnh mẽ một nền
khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Phải coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu. điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế của thế giới ngày nay trong xu thế hợp tác, cạnh
tranh ngày càng khốc liệt. Chính vì vậy, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cuả Đảng ta đã đề
ra: “con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng
để đạt được những trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu
mới về khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và
sức mạnh tinh thần của người Việt Nam: coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ
là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hó hiện đại hóa.
Thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết
định thắng lợi sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.
c. Kết hợp giữa LLSX với xây dựng QHSX trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam.
- Trong khi khẳng định vai trò của LLSX, lý luận hình thái kt-xh còn chỉ ra, sự phát triển
của LLSX phải gắn liền với việc thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp. Trong sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nước ta, Đảng ta khẳng định “Phát triển LLSX gắn liền với QHSX mới phù hợp trên cả
3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối.
- Phù hợp với sự phát triển của LLSX ở nước ta, đảng ta chủ trương sử dụng “nhiều hình
thức sở hữa về TLSX, nhiều thành phần kinh tế”. đồng thời thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
- Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Nó là kết quả của sự phát
triển LLSX đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội và đa
dạng hóa các hình thức sở hữu. Đến lượt nó, kinh tế thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy
LLSX phát triển. Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phù hợp với
xu hướng phát triển của thời đại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của LLSX ở nước ta, với yêu

xã hội chưa xuất hiện chế độ người bóc lột người và do đó chưa thể có giai cấp. Cuối xã hội
nguyên thủy, công cụ sản xuất bằng kim loại xuất hiện, có sự phân công lao động làm cho lực
lượng sản xuất phát triển mang lại năng suất lao động cao hơn, từ đó dẫn đến của cải dư làm của
riêng, chế độ tư hữu ra đời. Chế độ tư hữu làm cơ sở cho sự phân hoá xã hội thành các giai cấp có
lợi ích đối kháng nhau.
Giai cấp: là những tập đoàn người to lớn, khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất
xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai
trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về
phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Nói đến giai cấp là nói đến một hệ thống
các tập đoàn người trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định, do chế độ ấy sản sinh ra; mỗi giai
cấp trong lịch sử đều có đặc điểm riêng, tuy nhiên theo LêNin cho phép ta nắm được dấu hiệu đặc
trưng chung nhất, cơ bản nhất, những dấu hiệu phổ biến và ổn định nhất của giai cấp.
Giai cấp là phạm trù kinh tế xã hội có tính lịch sử; giai cấp không phải là sản phẩm của sản
xuất nói chung mà là sản phẩm của hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử; một hệ thống
giai cấp tương ứng với môt hệ thống sản xuất xã hội, do đó không thể hiểu đặc trưng của từng
giai cấp cụ thể nếu không đặt nó trong mối quan hệ với các giai cấp đối lập khác
Nói đến giai cấp là nói đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ
thống kinh tế xã hội nhất định, trong đó tập đoàn người này là thống trị, còn tập đoàn người kia là
bị trị; sự khác nhau ấy thể hiện ở chỗ:
- Các giai cấp có quan hệ khác nhau về tư liệu sản xuất; đây là sự khác nhau cơ bản nhất,
quy định sự khác nhau về địa vị của các giai cấp trong xã hội (ví dụ).
- Các giai cấp có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội, trong tổ chức quản lý
sản xuất; tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt
động sản xuất và lưu thông hàng hóa tại từng đơn vị kinh tế và trên quy mô toàn xã hội.
- Các giai cấp có phương thức và qui mô thu nhận của cải xã hội khác nhau các giai cấp
thống trị chiếm đoạt giá trị thăng dư của các giai cấp bị trị; chế độ phân phối trong xã hội có giai
cấp đối kháng là chế độ phân phối bất công vì phần lớn của cải nằm trong tay giai cấp thống trị,
phần ít ỏi còn lại thuộc về lực lượng đông đảo trong xã hội đó là những người lao động. Tóm lại,
giai cấp nào nắm được quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất thì giai cấp đó sẽ nắm quyền quản
lý, tổ chức sản xuất và quyền chi phối sản phẩm, giai cấp đó sẽ có địa vị trong xã hội.

thống sản xuất xã hội.
Lý luận về giai cấp của chủ nghĩa Mác –Lênin là cơ sở đúng đắn để nhận định giai cấp,
phân tích các quan hệ giai cấp trong đấu tranh giai cấp và lien minh giai cấp, bác bỏ mọi quan
điểm sai lầm trong việc phân chia giai cấp trong xã hội.
Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Ph.Angghen , Lênin đã vạch
ra tính tấc yếu của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Sau khi giai cấp vô sản
giành chính quyền, những cơ sở vất chất để nảy sinh giai cấp bóc lột và sự phân chia giai cấp nói
chung vẫn tồn tại, vì vậy giai cấp công nhân phải tiến hành tổ chức xây dựng một hệ thống quan
hệ xã hôi mới theo yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Ngoài ra , giai cấp vô sản
còn phải từng bước khắc phục những tư tưởng tâm lý tập quán, văn hóa lạc hậu của xã hội củ còn
in sâu vào đời sống tinh thần của xã hội.
CÂU 16: Anh/chị hãy trình bày quan điểm mácxít về đấu tranh giai cấp và vai trò của nó
đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt
Nam về đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
như thế nào?
Trả lời: SGK trang 142-149
1. Quan điểm Mácxít về đấu tranh giai cấp:
- Đấu tranh giai cấp là quá trình tất yếu khách quan của xã hội có áp bức bóc lột. Đó là
cuộc đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị đối kháng về quyền lợi không thể dung
hoà được.
-V.I.Lênin cho rằng đấu tranh giai cấp trong lịch sử và ngày nay không phải là những
cuộc bạo loạn, khủng bố, phá hoại mà nó thực chất là cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết
quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn áp bức, ăn bám, đấu tranh của những người công nhân
làm thuê hay những người vô sản chống giai cấp tư sản.
*Nguyên nhân đấu tranh giai cấp:
-Do mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất mới tiến bộ và quan hệ sản xuất lỗi thời,
lạc hậu.
- Về mặt xã hội đây là mâu thuẫn biểu hiện giữa giai cấp cách mạng tiến bộ đại diện cho
lực lượng sản xuất mới và giai cấp thống trị bóc lột đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc
hậu.

-Đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ra hàng ngày trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.
Vì vậy Đảng ta luôn xác định rõ cần phải:
+Đấu tranh chống khuynh hướng và biểu hiện tiêu cực của tầng lớp tư sản
+Đấu tranh chống khuynh hướng tự phát TBCN của sản xuất nhỏ.
+Đấu tranh chống các thế lực thù địch, âm mưu diễn biến hoà bình, phá hoại độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta
+Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc, bảo vệ quyền làm chủ nhân dân.
+Xây dựng nền kinh tế thị trường, thực hiện CNH, HĐH định hướng XHCN, giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại làm cho đời sống vật chất và tinh thần nhân
dân không ngừng nâng cao.
-Để đạt được các mục tiêu trên đòi hỏi sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau, vừa
mềm dẻo, vừa cương quyết.
*Tóm lại, giai đoạn hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải nắm vững biện pháp duy vật, nắm vững
quan điểm giai cấp của CN Mác-Lênin để phân tích được tính chất tình hình gay go, phức tạp
của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ tránh rơi vào thái cực sai lầm: quá cường điệu đấu
tranh giai cấp đi đến rụt rè, không dám đổi mới, mơ hồ, mất cảnh giác đi đến phủ nhận đấu
tranh giai cấp.
Câu 17: Anh chị hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền
XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản?
Trả lời:
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở đó có sự ngự trị
cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân.
Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản
có những điểm giống và khác nhau như sau:
Giống nhau: Những đặc điểm cơ bản của NNPQ trang 175-177 SGK
Pháp luật được đề cao và là công cụ chủ yếu để quản lý mọi hoạt động của xã hội và công
dân. Ngay cả hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống tổ chức nhà nước cũng phải tuân theo
pháp luật, mặc dù chính nó là những cơ quan công bố, ban hành, thực thi và kiểm tra việc thực
hiện pháp luật.
Khác nhau: Ở phần bản chất trang 181-184 SGK

Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của Nhà nước
nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng trưởng liên tục
của nền kinh tế. Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính sách tài chính có tác dụng kích cầu
và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân
khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính
phủ làm ngược lại. Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và lạm phát thấp, Nhà nước đã


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status