80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
Bộ tài liệu gồm 3 phần:
Phần 1 - 35 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN TRIẾT HỌC
Phần 2 - 25 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Phàn 3 - 20 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA
HỌC
=======
Phần 1- 35 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN TRIẾT HỌC
Câu hỏi 1. Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành của
nó?
Đáp. Câu trả lời có hai ý lớn
1) Chủ nghĩa Mác-Lênin làa) “hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học,
gồm triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và
Ph.Ăngghen, V.I. Lênin bảo vệ, vận dụng và phát triển; b) được hình thành
trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng những giá trị lịch sử tư tưởng
nhân loại để giải thích, nhận thức thực tiễn thời đại; c) là thế giới quan duy
vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật của nhận thức khoa
học và thực tiễn cách mạng; d) là khoa học về sự nghiệp tự giải phóng giai
cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người, về những
quy luật chung nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản; đ) là hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động.
2) Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa
Mác-Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú bao quát nhiều lĩnh vực,
với những giá trị lịch sử, thời đại và khoa học to lớn; nhưng triết học, kinh tế
chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học là những bộ phận lý luận quan
trọng nhất.
a) Triết học Mác-Lênin là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới, về vị trí,
vai trò của con người trong thế giới ấy.
b) Kinh tế chính trị Mác-Lênin là hệ thống tri thức về những quy luật chi
phối quá trình sản xuất và trao đổi tư liệu sinh hoạt vật chất trong đời sống
biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu kinh tế, từ đó sáng tạo ra học thuyết
giá trị thặng dư để nhận thức chính xác sự xuất hiện, phát triển và diệt vong
tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Đến lượt mình, học thuyết giá trị thặng dư
cùng với quan niệm duy vật về lịch sử đã đưa sự phát triển của chủ nghĩa xã
hội từ không tưởng đến khoa học.
Câu hỏi 3. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác?
Đáp. Câu trả lời có ba ý lớn
1) Điều kiện kinh tế-xã hội
a) Vào cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp
xuất hiện và lan rộng ra các nước tây Âu tiên tiến không những làm cho
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành hệ thống kinh tế thống trị,
tính hơn hẳn của chế độ tư bản so với chế độ phong kiến thể hiện rõ nét, mà
còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và
phát triển của giai cấp vô sản.
b) Đồng thời với sự phát triển đó, mâu thuẫn vốn có, nội tại nằm trong
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng thể hiện sâu sắc và gay gắt
hơn. Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản, vốn mang tính đối kháng, đã biểu
2
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
hiện thành đấu tranh giai cấp. Giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai
cấp cách mạng trong xã hội.
c) Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, giai cấp vô sản đã xuất hiện với tư
cách là một lực lượng chính trị-xã hội độc lập và đã ý thức được những lợi
ích cơ bản của mình để tiến hành đấu tranh tự giác chống giai cấp tư sản.
2) Tiền đề lý luận
a)C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phép
biện chứng duy tâm và tư tưởng duy vật về những vấn đề cơ bản của triết
học để xây dựng nên phép biện chứng duy vật và mở rộng nhận thức sang cả
xã hội loài người, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và triệt để.
b) Kinh tế chính trị học Anh mà đặc biệt là lý luận về kinh tế hàng hóa; học
thừa những thành tựu trong lý luận và được kiểm chứng bằng các thành tựu
của khoa học, mà còn do bản thân sự phát triển của lịch sử đã tạo ra những
tiền đề khách quan cho sự ra đời của nó. Bởi vậy, chủ nghĩa Mác “cung cấp
cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân, những công cụ nhận thức
vĩ đại” và Đảng Cộng sản Việt Nam “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng”.
Câu hỏi 4. Tại sao chúng ta gọi chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa Mác-Lênin?
Đáp. Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen qua đời, V.I.Lênin là người bảo vệ, bổ
sung, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Lênin hình
thành và phát triển trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, xét lại và
giáo điều; là sự tiếp tục và là giai đoạn mới trong lịch sử chủ nghĩa Mác để
giải quyết những vấn đề cách mạng vô sản trong giai đoạn chủ nghĩa đế
quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1) Nhu cầu bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.
a) Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã bước
sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ
nghĩa tư bản ngày càng tinh vi, tàn bạo hơn; mâu thuẫn đặc thù vốn có của
chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ sâu sắc mà điển hình là mâu thuẫn giữa
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
b) Những năm cuối thế kỷ XIX, bước sang thế kỷ XX, có những phát minh
vật lý mang tính vạch thời đại, làm đảo lộn căn bản quan niệm ngàn đời về
vật chất. Đây là cơ hội để chủ nghĩa duy tâm tấn công chủ nghĩa Mác; một
số nhà khoa học tự nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan,
gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của phong trào cách
mạng.
c) Chủ nghĩa Mác đã được truyền bá vào nước Nga; nhưng những trào lưu
như chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại
v.v đã nhân danh đổi mới chủ nghĩa Mác để xuyên tạc và phủ nhận chủ
nghĩa đó.
người và tư duy của nó. Trong tác phẩm Bút ký triết học (1914-1916),
V.I.Lênin tiếp tục khai thác hạt nhân hợp lý của triết học Hêghen để làm
phong phú thêm phép biện chứng duy vật, đặc biệt là lý luận về sự thống
nhất giữa các mặt đối lập. Năm 1917, V.I.Lênin viết tác phẩm Nhà nước và
cách mạng bàn về vấn đề nhà nước chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng
và vai trò của đảng công nhân và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; đưa
ra tư tưởng về nhà nước Xôviết, coi đó là hình thức của chuyên chính vô
sản; vạch ra những nhiệm vụ chính trị và kinh tế mà nhà nước đó phải thực
hiện và chỉ ra những nguồn gốc vật chất của chủ nghĩa xã hội được tạo ra do
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
c) Thời kỳ 1917-1924. Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng
Mười (Nga) năm 1917 mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội. Sự kiện này làm nẩy sinh những nhu cầu mới về lý luận mà
sinh thời C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hiện; V.I.Lênin tiếp tục tổng kết
thực tiễn để đáp ứng nhu cầu đó bằng các tác phẩm mà các nội dung chính
của chúng cho rằng việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát toàn dân; tổ chức thi
đua xã hội chủ nghĩa là những điều kiện cần thiết để chuyển sang xây dựng
"chủ nghĩa xã hội kế hoạch". V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng, nguyên tắc tập
trung dân chủ là cơ sở của công cuộc xây dựng kinh tế; xây dựng nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Ông nhấn mạnh tính lâu dài của thời kỳ quá độ, không
tránh khỏi phải đi qua những nấc thang trên con đường đi lên chủ nghĩa xã
5
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
hội. V.I.Lênin khẳng định vai trò kinh tế hàng hóa trong điều kiện nền sản
xuất hàng hoá nhỏ đang chiếm ưu thế trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Nhận thấy sự quan liêu đã bắt đầu xuất hiện trong nhà nước công
nông non trẻ, ông đề nghị những người cộng sản cần thường xuyên chống ba
kẻ thù chính là sự kiêu ngạo, ít học và tham nhũng. V.I.Lênin cũng chú ý
đến việc chống chủ nghĩa giáo điều khi vận dụng chủ nghĩa Mác nếu không
muốn lạc hậu so với cuộc sống.
1991, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liênxô và đông Âu sụp đổ; nhiều đảng
Cộng sản ở tây Âu từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa; thất bại của kiểu nhà nước
6
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
phúc lợi ở các nước tư bản đòi hỏi những người cộng sản không chỉ có lập
trường vững vàng, kiên định, mà còn phải hết sức tỉnh táo, bổ sung, phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin một cách khoa học.
Thời đại ngày nay là thời đại của những biến động sâu sắc. Quá trình tạo ra
những tiền đề cho chủ nghĩa xã hội đang diễn ra trong xã hội tư bản phát
triển là một xu hướng khách quan. Thời đại ngày nay cho thấy vai trò hết
sức to lớn của lý luận, của khoa học trong sự phát triển của xã hội. Những
điều đó tất yếu đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển
và có những khái quát mới. Chỉ có như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin mới giữ
được vai trò thế giới quan, phương pháp luận trong quan hệ với khoa học cụ
thể và trong sự định hướng phát triển của xã hội loài người.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin không để lại cho những người cộng sản
nói chung, những người cộng sản Việt Nam nói riêng những chỉ dẫn cụ thể
về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước. Các quốc gia, dân tộc
khác nhau có những con đường đi khác nhau lên chủ nghĩa xã hội, bởi lẽ
mỗi quốc gia, dân tộc đều có những đặc thù riêng và điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội, lịch sử, văn hoá riêng và con đường riêng đó “đòi hỏi phải áp
dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản sao cho những nguyên tắc ấy
được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp,
cho thích hợp với đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước-dân tộc”. Trên cơ
sở kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuất phát từ những
bài học cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội từ thực trạng kinh tế-xã hội đất
nước, Đảng ta đề ra đường lối đưa đất nước ta từng bước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Thực tiễn của quá trình đổi mới đang đặt ra hàng loạt vấn đề
mới mẻ và phức tạp về kinh tế, chính trị, văn hoá; những vấn đề đó không
thể giải quyết chỉ bằng lý luận, nhưng chắc chắn không thể giải quyết được
2) Định nghĩa. Theo Ph.Ăngghen, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc
biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
3) Hai nội dung (hai mặt) vấn đề cơ bản của triết học.
a) Mặt thứ nhất(mặt bản thể luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết mối
quan hệ giữa ý thức với vật chất. Cái gì sinh ra và quy định cái gì- thế giới
vật chất sinh ra và quy định thế giới tinh thần; hoặc ngược lại, thế giới tinh
thần sinh ra và quy định thế giới vật chất- đó là mặt thứ nhất vấn đề cơ bản
của triết học. Giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học như thế
nào là cơ sở duy nhất phân chia các nhà triết học và các học thuyết của họ
thành hai trường phái đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm triết học; phân chia các nhà triết học và các học thuyết của họ thành triết
học nhất nguyên (còn gọi là nhất nguyên luận) và triết học nhị nguyên (còn
gọi là nhị nguyên luận).
b) Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết
mối quan hệ giữa khách thể với chủ thể nhận thức, tức trả lời câu hỏi liệu
con người có khả năng nhận thức được thế giới (hiện thực khách quan) hay
không? Giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học như thế nào là cơ
sở phân chia các nhà triết học và các học thuyết của họ thành phái khả tri (có
thể biết về thế giới), bất khả tri (không thể biết về thế giới) và hoài nghi luận
(hoài nghi bản chất nhận thức của con người về thế giới).
Câu hỏi 8. Bản chất, nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng?
Đáp. Câu trả lời gồm ba ý lớn
1) Chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học;
8
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển
trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác-Lênin là triết học duy vật,
bởi triết học đó coi ý thức là tính chất của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
não người và nhiệm vụ của bộ não người là phản ánh giới tự nhiên. Sự phản
ánh có tính biện chứng, bởi nhờ nó mà con người nhận thức được mối quan
chứng trước hết thể hiện ở cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học; theo
đó vật chất có trước và quy định ý thức (duy vật), nhưng ý thức tồn tại độc
lập tương đối và tác động trở lại vật chất (biện chứng). Trong lĩnh vực kinh
9
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
tế, thế giới quan duy vật biện chứng thể hiện ở chỗ lực lượng sản xuất (cái
thứ nhất) quy định ý quan hệ sản xuất (cái thứ hai), cơ sở hạ tầng (cái thứ
nhất) quy định kiến trúc thượng tầng (cái thứ hai); nhưng cái thứ hai luôn
tồn tại độc lập tương đối và tác động trở lại cái thứ nhất. Trong lĩnh vực xã
hội, tồn tại xã hội (cái thứ nhất) quy định ý thức xã hội (cái thứ hai); nhưng
ý thức xã hội tồn tại độc lập tương đối và tác động trực tiếp hay gián tiếp trở
lại tồn tại xã hội.
2) Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất
phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc
xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối
đa. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương
pháp. Nhiệm vụ của phương pháp luận là giải quyết những vấn đề như
phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp ra sao?
Phân loại phương pháp cần dựa vào những tiêu chí gì? Vai trò của phương
pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? v.v.
Chức năng phương pháp luận biện chứng duy vật thể hiện ở hệ thống các
nguyên tắc, phương pháp tổ chức và xây dựng hoạt động lý luận và hoạt
động thực tiễn, đồng thời cũng chính là học thuyết về hệ thống đó và là
phương pháp luận chung nhất của các khoa học chuyên ngành. Phương pháp
luận biện chứng duy vật là sự thống nhất biện chứng giữa các phương pháp
luận bộ môn, phương pháp luận chung đã được cụ thể hoá trong các lĩnh vực
của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Với tư cách là hệ thống tri
thức chung nhất về thế giới và về vai trò, vị trí của con người trong thế giới
đó cùng với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy, chủ nghĩa duy vật biện chứng thực hiện chức năng phương pháp
phương pháp luận của vật lý; tạo đà cho phát triển tiếp theo của nhận thức
duy vật biện chứng về vật chất, về những tính chất cơ bản của nó.
3) Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin “Vật chất là một phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác,
được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác”.
Những nội dung cơ bản của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
a) Vật chất là gì? +) Vật chất là phạm trù triết học nên vừa có tính trừu
tượng vừa có tính cụ thể. *) Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc
tính chung, bản chất nhất của vật chất- đó là đặc tính tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức con người và đây cũng là tiêu chí duy nhất để phân biệt cái gì
là vật chất và cái gì không phải là vật chất. *) Tính cụ thể của vật chất thể
hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan của con
người; chỉ có thể nhận thức được vật chất thông qua việc nghiên cứu các sự
vật, hiện tượng vật chất cụ thể. +) Vật chất là thực tại khách quan có đặc tính
cơ bản là tồn tại không phụ thuộc vào các giác quan của con người. +) Vật
chất có tính khách thể- con người có thể nhận biết được vật chất bằng các
giác quan.
b) Ý thức là gì? ý thức là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại thực tại khách
quan bằng các giác quan. Nhờ đó, con người trức tiếp hoặc gián tiếp nhận
thức được thực tại khách quan. Chỉ có những sự vật, hiện tượng của thực tại
khách quan chưa được con người nhận biết biết chứ không thể không biết.
c) Nội dung thứ ba được suy ra từ hai nội dung trên để xác định mối quan hệ
biện chứng giữa thực tại khách quan (vật chất) với cảm giác (ý thức). Vật
chất (cái thứ nhất) là cái có trước, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý
thức và quy định ý thức. Ý thức (cái thứ hai) là cái có sau vật chất, phụ
11
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
thuộc vào vật chất và như vậy, vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách
quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh. Tuy nhiên, ý thức
chất,- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
b) Các hình thức (dạng) vận động cơ bản của vật chất. Có năm dạng vận
động cơ bản của vật chất; đó là vận động cơ học- sự di chuyển vị trí của các
vật thể trong không gian; vận động vật lý- sự vận động của các phân tử, các
hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện v.v; vận động hoá
học- sự vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải các
12
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
chất; vận động sinh vật- sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường; vận
động xã hội- sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế-xã hội.
c) Năm dạng vận động này quan hệ chặt chẽ với nhau. Một hình thức vận
động nào đó được thực hiện là do có sự tác động qua lại với nhiều hình thức
vận động khác. Một hình thức vận động này luôn có khả năng chuyển hoá
thành hình thức vận động khác, nhưng không thể quy hình thức vận động
này thành hình thức vận động khác. Mỗi một sự vật, hiện tượng có thể gắn
liền với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng
một hình thức vận động cơ bản.
d) Vận động và đứng im. Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình
vận động không ngừng, trong sự vận động không ngừng đó có hiện tượng
đựng im tương đối. Nên hiểu hiện tượng đứng im chỉ xẩy ra đối với một
hình thức vận động nào đó của vật chất trong một lúc nào đó và trong một
quan hệ nhất định nào đó, còn xét đến cùng, vật chất luôn luôn vận động.
Nếu vận động là sự tồn tại trong sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng, thì
đứng im tương đối là sự ổn định, là sự bảo toàn quảng tính của các sự vật,
hiện tượng. Như vậy, đứng im là tương đối; tạm thời và là trạng thái đặc biệt
của vật chất đang vận động không ngừng.
2) Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất. Mọi sự vật, hiện
tượng tồn tại khách quan đều có vị trí, hình thức kết cấu, độ dài ngắn, cao
thấp của nó- tất cả các thuộc tính đó gọi là không gian và không gian biểu
thông qua giới vô cơ, giới hữu cơ trong bức tranh tổng thể về thế giới duy
nhất; giữa chúng có sự liên hệ tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau, vận
động và phát triển. Các quá trình đó cho phép thấy đầy đủ sự thống nhất vật
chất của thế giới trong các hình thức và giai đoạn phát triển, từ hạt cơ bản
đến phân tử, từ phân tử đến các cơ thể sống, từ các cơ thể sống đến con
người và xã hội loài người.
Quan điểm về bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới của
chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ định hướng trong việc giải thích về
tính phong phú, đa dạng của thế giới, mà còn định hướng nhận thức về tính
phong phú, đa dạng ấy trong quá trình hoạt động cải tạo tự nhiên hợp quy
luật.
Câu hỏi 13. Nguồn gốc của ý thức?
Đáp. Câu trả lời có hai ý lớn
1) Nguồn gốc tự nhiên của ý thức (não người + sự phản ánh)
a) Não người là sản phẩm quá trình tiến hoá lâu dài của thế giới vật chất, từ
vô cơ tới hữu cơ, chất sống (thực vật và động vật) rồi đến con người- sinh
vật-xã hội. Là tổ chức vật chất có cấu trúc tinh vi; chỉ khoảng 370g nhưng có
tới 14-15 tỷ tế bào thần kinh liên hệ với nhau và với các giác quan tạo ra mối
liên hệ thu, nhận đa dạng để não người điều khiển hoạt động của cơ thể đối
với thế giới bên ngoài. Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở
hoạt động của thần kinh não bộ; bộ não càng hoàn thiện hoạt động thần kinh
càng hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc. Điều này lý
giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng
lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị
rối loạn khi não bị tổn thương.
b) Sự phản ánh của vật chất là một trong những nguồn gốc tự nhiên của ý
thức. Mọi hình thức vật chất đều có thuộc tính phản ánh và phản ánh phát
triển từ hình thức thấp lên hình thức cao- tùy thuộc vào kết cấu của tổ chức
vật chất.
14
quan hệ xã hội tất yếu và các mối quan hệ của các thành viên của xã hội
không ngừng được củng cố và phát triển dẫn đến nhu cầu cần thiết “phải trao
đổi với nhau điều gì đấy” nên ngôn ngữ xuất hiện. Ngôn ngữ ra đời trở thành
“cái vỏ vật chất của ý thức”, thành phương tiện thể hiện ý thức. Nhờ ngôn
ngữ, con người khái quát hoá, trừu tượng hoá những kinh nghiệm để truyền
lại cho nhau. Ngôn ngữ là sản phẩm của lao động, đến lượt nó, ngôn ngữ lại
thúc đẩy lao động phát triển.
Như vậy, bộ não người cùng với thế giới vật chất tác động lên bộ não đó là
nguồn gốc tự nhiên của ý thức và với quan điểm như vậy về ý thức, chủ
nghĩa duy vật biện chứng chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm tách
rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ não, thần bí hoá ý thức; đồng thời chống
15
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
lại quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường cho rằng não tiết ra ý thức
tương tự như gan tiết ra mật.
Câu hỏi 14. Bản chất của ý thức?
Đáp. Bản chất của ý thức thể hiện qua bốn điểm
Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là sự thừa nhận ý thức là sự phản
ánh, là hình ảnh tinh thần về sự vật, hiện tượng khách quan. Ý thức thuộc
phạm vi chủ quan, không có tính vật chất, mà chỉ là hình ảnh phi cảm tính
của các sự vật, hiện tượng cảm tính được phản ánh. Bản chất của ý thức thể
hiện ở sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não
người; là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan.
1) Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan bởi hình ảnh ấy tuy bị
thế giới khách quan quy định cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện; nhưng
thế giới ấy không còn y nguyên như nó vốn có, mà đã bị cái chủ quan của
con người cải biến thông qua tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, nhu cầu v.v. Ý
thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con
người và được cải biến đi ở trong đó”. Có thể nói, ý thức phản ánh hiện
thực, còn ngôn ngữ thì diễn đạt hiện thực và nói lên tư tưởng. Các tư tưởng
tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến các ý tưởng tinh thần phi vật chất
trong tư duy thành các sự vật, hiện tượng vật chất ngoài hiện thực. Trong
giai đoạn này, con người lựa chọn phương pháp, công cụ tác động vào hiện
thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình.
Câu hỏi 15. Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất
với ý thức?
Đáp. Câu trả lời gồm ba ý lớn
1) Vai trò quy định của vật chất đối với ý thức
a) Vật chất là cái thứ nhất, ý thức là cái thứ hai, nghĩa là vật chất là cái có
trước, ý thức là cái có sau; Vật chất quy định ý thức cả về nội dung phản ánh
lẫn hình thức biểu hiện. Điều này thể hiện ở +) vật chất sinh ra ý thức (ý
thức là sản phẩm của não người; ý thức có thuộc tính phản ánh của vật chất)
+) vật chất quyết định nội dung của ý thức (ý thức là sự phản ánh thế giới
vật chất; nội dung của ý thức (kể cả tình cảm, ý chí v.v) đều xuất phát từ vật
chất; sự sáng tạo của ý thức đòi hỏi những tiền đề vật chất và tuân theo các
quy luật của vật chất).
b) Tồn tại xã hội (một hình thức vật chất đặc biệt trong lĩnh vực xã hội) quy
định ý thức xã hội (một hình thức ý thức đặc biệt trong lĩnh vực xã hội).
c) Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người trong dạng hình ảnh
chủ quan về thế giới khách quan; hình thức biểu hiện của ý thức là ngôn ngữ
(một dạng cụ thể của vật chất).
2) Vai trò tác động ngược trở lại của ý thức đối với vật chất
a) Sự tác động của ý thức đối với vật chất có thể theo hướng tích cực (khai
thác, phát huy, thúc đẩy được sức mạnh vật chất tiềm tàng hoặc những biến
đổi của điều kiện, hoàn cảnh vật chất theo hướng có lợi cho con người) thể
hiện qua việc ý thức chỉ đạo con người trong hoạt động thực tiễn. Sự chỉ đạo
đó xuất hiện ngay từ lúc con người xác định đối tượng, mục tiêu, phương
hướng và phương pháp thực hiện những mục tiêu đề ra. Trong giai đoạn này,
ý thức trang bị cho con người những thông tin cần thiết về đối tượng, về các
quy luật khách quan và hướng dẫn con người phân tích, lựa chọn những khả
tế; tuân theo, xuất phát, tôn trọng các quy luật khách quan (vốn có) của sự
vật, hiện tượng; cần tìm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng ở trong
những điều kiện vật chất khách quan của chúng; muốn cải tạo sự vật, hiện
tượng phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng được cải tạo. Chống tư
tưởng chủ quan duy ý chí, nôn nóng, thiếu kiên nhẫnmà biểu hiện của nó là
tuyệt đối hoá vai trò, tác dụng của nhân tố con người; cho rằng con người có
thể làm được tất cả những gì muốn mà không cần chú trọng đến sự tác động
của các quy luật khách quan, của các điều kiện vật chất cần thiết.
b) Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức là nhấn mạnh tính độc lập
tương đối, tính tích cực và tính năng động của ý thức đối với vật chất bằng
cách tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng tư tưởng, ý chí phấn đấu, vươn lên, tu
dưỡng đạo đức v.v nhằm xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh. Chống thái
độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh khách quan vì như vậy là hạ
thấp vai trò tính năng động chủ quan của con người trong hoạt động thực
tiễn dễ rơi vào chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật tầm thường;
18
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
tuyệt đối hóa vật chất; coi thường tư tưởng, tri thức rơi vào thực dụng hưởng
thụ v.v.
Câu hỏi 16. Tại sao nói siêu hình và biện chứng là hai mặt đối lập của
phương pháp tư duy?
Đáp. Câu trả lời gồm hai ý lớn
1) Thuật ngữ “Siêu hình” có gốc từ tiếng Hy Lạp metaphysica, với nghĩa là
“những gì sau vật lý học”. Vào thế kỷ XVI-XVII, phương pháp siêu hình giữ
vai trò quan trọng trong việc tích luỹ tri thức, đem lại cho con người nhiều
tri thức mới, nhất là về toán học và cơ học; nhưng chỉ từ khi Bêcơn (1561-
1626) và về sau là Lốccơ (1632-1704) chuyển phương pháp nhận thức siêu
hình từ khoa học tự nhiên sang triết học, thì siêu hình trở thành phương pháp
chủ yếu của nhận thức. Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình không có
khả năng khái quát sự vận động, phát triển của thế giới vào những quy luật
ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Phương pháp biện chứng duy vật mềm dẻo, linh hoạt; thừa nhận trong
những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là hoặc là ”, còn có cả
cái “vừa là vừa là ”. Do vậy, đó là phương pháp khoa học, vừa khắc phục
được những hạn chế của phép biện chứng cổ đại, đẩy lùi phương pháp siêu
hình vừa cải tạo phép biện chứng duy tâm để trở thành phương pháp luận
chung nhất của nhận thức và thực tiễn.
Câu hỏi 17. Khái lược về phép biện chứng duy vật?
Đáp. Câu trả lời gồm ba ý lớn
Trong lịch sử phát triển của triết học từ thời cổ đại đến nay, vấn đề tồn tại
của các sự vật, hiện tượng luôn được quan tâm và cần làm sáng tỏ. Các sự
vật, hiện tượng xung quanh ta và ngay cả bản thân chúng ta tồn tại trong mối
liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau hay tồn tại tách rời, biệt lập
nhau? Các sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển hay tồn tại trong
trạng thái đứng im, không vận động? Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn
đề này, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là
siêu hình và biện chứng.
1) Định nghĩa. Theo Ph.Ăngghen, “Phép biện chứng là khoa học về sự liên
hệ phổ biến”, “( ) là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
Theo V.I.Lênin, “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới
hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính
tương đối của nhận thức của con người phản ánh vật chất luôn luôn phát
triển không ngừng”. Hồ Chí Minh đánh giá “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là
phương pháp làm việc biện chứng”. Có thể hiểu phép biện chứng duy vật là
khoa học về mối liên hệ phổ biến; về những quy luật chung nhất của sự vận
động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
2) Nội dung của phép biện chứng duy vật hết sức phong phú, phù hợp với
đối tượng nghiên cứu là sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng
trong cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy và từ trong những lĩnh vực ấy
thần với nhau, như mối liên hệ và tác động giữa các hình thức của quá trình
nhận thức. Các mối liên hệ, tác động đó, suy cho đến cùng, đều là sự phản
ánh mối liên hệ và sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng của thế
giới khách quan.
b) Tính phổ biến. Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau và tách
biệt nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong
xã hội, trong tư duy, mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá
trình của mỗi sự vật, hiện tượng.
c) Tính đa dạng, phong phú. Có nhiều mối liên hệ. Có mối liên hệ về mặt
không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện
tượng. Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực
rộng lớn của thế giới. Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực,
từng sự vật và hiện tượng cụ thể. Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật,
hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp. Có mối liên hệ tất
nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ bản chất cũng có mối
liên hệ chỉ đóng vai trò phụ thuộc (không bản chất). Có mối liên hệ chủ yếu
và có mối liên hệ thứ yếu v.v chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự
vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Do vậy, nguyên lý về mối liên
21
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
hệ phổ biến khái quát được toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng
chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó. Tính vô hạn của thế giới khách quan;
tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích
được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng nhiều mối liên hệ có
hình thức, vai trò khác nhau.
3) Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút ra
nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng a) trong chỉnh thể thống
nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính cùng các mối
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
3) Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển. Từ nguyên lý
về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc phát triển
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên tắc này giúp
chúng ta nhận thức được rằng, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện
tượng, nắm được khuynh hướng phát triển của chúng thì phải xét sự vật
trong sự phát triển, trong sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó.
Nguyên tắc phát triển yêu cầu a) Đặt sự vật, hiện tượng trong sự vận động,
phát hiện được các xu hướng biến đổi, phát triển của nó để không chỉ nhận
thức sự vật, hiện tượng ở trạng thái hiện tại, mà còn dự báo được khuynh
hướng phát triển. Cần chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn, còn
động lực của sự phát triển là đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt
đối lập trong sự vật, hiện tượng đó.
b) Nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Mỗi
giai đoạn phát triển có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên
cần tìm ra những hình thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc
đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
c) Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm, sớm
phát hiện và ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới phát
triển; phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến v.v bởi nhiều khi
cái mới thất bại tạm thời, tạo nên con đường phát triển quanh co, phức tạp.
Trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừa những yếu tố
tích cực đã đạt được từ cái cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện
mới.
Câu hỏi 20. Cặp phạm trù cái riêng, cái chung của phép biện chứng duy
vật?
Đáp.Câu trả lời gồm ba ý lớn là định nghĩa các phạm trù; nêu mối quan hệ
biện chứng giữa các phạm trù và ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ
mối quan hệ đó.
rơi vào bệnh hữu khuynh, tuỳ tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa.
Vì trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể chuyển hoá thành
cái chung và ngược lại cái chung có thể chuyển hoá thành cái đơn nhất cho
nên trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, nếu cái đơn nhất là cái
có lợi thì tạo điều kiện thuận lợi để nó chuyển hoá thành cái chung và ngược
lại, nếu cái chung không còn là cái phù hợp thì tác động để cái chung chuyển
hoá thành cái riêng.
Câu hỏi 21. Cặp phạm trù nội dung-hình thức của phép biện chứng duy
vật?
Đáp.Câu trả lời gồm ba ý lớn
1) Định nghĩa.Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên
sự vật, hiện tượng. Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,
hiện tượng, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố
của sự vật, hiện tượng và không chỉ là cái biểu hiện bên ngoài mà còn là cái
biểu hiện cấu trúc bên trong của sự vật, hiện tượng.
2,3) Vì nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau nên trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống lại cả hai khuynh hướng
hoặc tuyệt đối hoá nội dung mà coi nhẹ hình thức, hoặc tuyệt đối hoá hình
thức mà coi nhẹ nội dung.
Vì một nội dung có thể có nhiều hình thức thể hiện và ngược lại, nên cần
phải sử dụng mọi loại hình thức có thể có, mới cũng như cũ, kể cả việc phải
24
80 câu hỏi và trả lời về những nguyên lí cơ bản chủ chủ nghĩa Mac - Lênin
cải biến những hình thức vốn có, lấy cái này bổ sung, thay thế cho cái kia để
làm cho bất kỳ hình thức nào cũng trở thành công cụ để phục vụ cho nội
dung mới. V.I.Lênin kịch liệt phê phán thái độ chỉ thừa nhận những hình
thức cũ, bảo thủ, trì trệ chỉ muốn làm theo cái cũ, đồng thời ông cũng phê
phán thái độ phủ nhận vai trò của hình thức cũ trong hoàn cảnh mới, chủ
quan, nóng vội, thay đổi hình thức cũ một cách tuỳ tiện, không căn cứ.
Vì nội dung quy định hình thức nên phải căn cứ vào nội dung. Nếu muốn
nh, muôn vẻ, cho nên, dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các cặp phạm trù
hoặc các quy luật cơ bản sẽ không phản ánh được các mối liên hệ bản chất
25