TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI:
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ HẠN CHẾ CỦA THỊ
TRƯỜNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên: TS Nguyễn Thị Lan
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Ánh
Phạm Thị Thu Hoài
Lương Thị Hồng Loan
Lê Ngọc Quân
Lê Thị Hải Yến
Lớp: TCNH 19A
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Với mục tiêu tăng trưởng và phấn đấu trở thành một nước công nghiệp
vào năm 2020, thì nhu cầu vốn để đổi mới máy móc thiết bị của nền kinh tế Việt
Nam là một đòi hỏi hết sức bức thiết.
Khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, một hình thức tài trợ mà doanh
nghiệp thường nghĩ đến đầu tiên là tìm đến các ngân hàng, tổ chức tài chính
thông qua hình thức vay nợ. Nhưng khi đối mặt với những thủ tục phiền toái và
rườm rà của ngân hàng, cho đến khi được chấp nhận thì cơ hội kinh doanh của
doanh nghiệp đã trôi qua. Còn nếu huy động vốn từ thị trường vốn bên ngoài thì
phần lớn doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng và còn nhiều trở ngại khác
mà doanh nghiệp phải đối mặt. Chúng ta không thiếu vốn để phục vụ cho những
nhu cầu trên của nền kinh tế, cái mà chúng ta thiếu là thiếu những công cụ huy
động vốn và sử dụng vốn hiệu quả. Với những ưu thế nổi bật như dễ tiếp cận,
tính linh hoạt cao, tránh được sự lỗi thời về công nghệ, hạn chế rủi ro, tiết kiệm
chi phí, thủ tục đơn giản, và nhất là không phải thế chấp tài sản… cho thuê tài
đây là một loại hình cấp vốn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh
tranh so với các hình thức cấp vốn khác cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
2. Khái niệm và các chủ thể tham gia thị trường CTTC
2.1. Khái niệm của thị trường CTTC
CTTC vừa là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, vừa là một
dạng cho thuê tài sản mà theo đó, bên cho thuê cho khách hàng quyền sử dụng tài
sản trong một thời hạn nhất định, với điều kiện khách hàng phải trả tiền thuê và
không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê
được nhận quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận
của hai bên.
Một giao dịch được gọi là thuê tài chính phải thoả mãn một trong những
điều kiện:
3
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản
thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm
mua lại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê;
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng CTTC, ít nhất
phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Do đó, CTTC thực ra là một hình thức cấp tín dụng. Khi một hợp đồng
thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một
khoản vốn. Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua
tài sản mà vẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì
đáng lẽ ra, có thể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài
sản trong hợp đồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc
và lãi.
Một giao dịch CTTC thông thường gồm các chủ thể sau:
- Bên cho thuê: cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và
các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các
tài sản thuê trong suốt quá trình thuê.
- Bên thuê: được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời
hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước
thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua
lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
- Nhà cung cấp: là người bán tài sản cho thuê, có nghĩa vụ thực hiện việc
chuyển giao, lắp đặt tài sản thuê theo hợp đồng mua - bán, hướng dẫn kỹ thuật,
vận hành…
5
2.3. Phân biệt CTTC với các hình thức tín dụng khác
CTTC là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài sản cụ thể.
Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó tổ chức tín dụng chuyển
giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng CTTC, tổ chức tín dụng tiến
hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách hàng (bên thuê) một tài sản
cụ thể (máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải hoặc động sản khác)
để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định.
Tính chất thanh toán trọn vẹn của giao dịch CTTC cho thấy bản chất tín
dụng của hoạt động này. Tổ chức tín dụng được bảo đảm về khả năng hoàn trả
của khách hàng đối với khoản tín dụng đã chuyển giao thông qua quyền nhận
tiền thuê. Cũng tương tự như pháp luật một số quốc gia trên thế giới, pháp luật
Việt Nam ghi nhận CTTC là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, nhằm phù
hợp với đặc điểm của đối tượng cho thuê là những động sản có giá trị, thời gian
cần thiết để khấu hao thường từ một năm trở lên.
* Phân biệt CTTC và cho thuê vận hành:
Cho thuê là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể - Bên chủ sở hữu tài
sản và bên sử dụng tài sản. Trong đó bên chủ sở hữu tài sản – bên cho thuê
chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên
Những điểm khác biệt trên đây thực chất là khác biệt mang tính phổ biến
của hai loại cho thuê nói trên. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế người ta có thể
vận dụng hết sức linh hoạt, vì vậy nhiều lúc ranh giới giữa hai loại cho thuê này
cũng không rõ ràng. Do đó, hiện nay phần lớn các nước đã đưa ra các tiêu chuẩn
dựa trên các tiêu chuẩn do Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC-
International Accounting Standard Council) đã qui định để xác minh một hợp
đồng giao dịch được gọi là hợp đồng cho thuê hoạt động hay hợp đồng CTTC.
Theo qui định của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế, bất cứ một giao dịch
cho thuê nào thỏa mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau đây đều được gọi là
CTTC:
+ Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi chấm dứt thời hạn hợp
đồng.
+ Hợp đồng có qui định quyền chọn mua.
+ Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động của tài sản.
+ Hiện giá của các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị của tài
sản thuê.
3. Lợi ích của hoạt động CTTC
3.1. Lợi ích đối với nền kinh tế
Trong bất cứ xã hội nào, nền kinh tế nào mà tìm được phương thức để
người có vốn và người cần vốn gặp nhau hiệu quả, tối ưu thì xã hội đó, nền kinh
tế đó sẽ phát triển. Bản chất của hoạt động CTTC là một hình thức cấp tín dụng
trung và dài hạn; thị trường CTTC cũng là một bộ phận của thị trường vốn, thị
trường này diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài
7
chính trung dài hạn theo những phương thức giao dịch nhất định. Như vậy,
CTTC hay thị trường CTTC đã góp một phần để giải quyết bài toán về vốn cho
nền kinh tế.
CTTC gắn chặt với việc trang bị, đổi mới máy móc, công nghệ và mở
rộng sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất của các ngành công nghiệp vừa
và nhỏ. Phát triển tốt thị trường CTTC sẽ giúp cho các doanh nghiệp đổi mới
thương mại luôn đòi hỏi tài sản đảm bảo (thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay
tối đa là 80% tổng chi phí thực hiện dự án, nhưng với kênh CTTC, doanh nghiệp
chẳng những không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có thể được
tài trợ đến 100% vốn đầu tư. Lãi suất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên.
Người thuê không cần bỏ toàn bộ số tiền ra một lúc để có máy móc, thiết
bị đó, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản như trong các giao dịch
vay vốn khác; bên đi thuê tài chính không phải chịu những rủi ro do sự mất giá
của tài sản, hao mòn tự nhiên…
Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động
trong việc lựa chọn máy móc, thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng
loại phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp mình.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp đã lỡ đầu tư mua tài sản mà thiếu vốn lưu
động thì vẫn có thể bán lại cho công ty CTTC và sau đó công ty sẽ cho doanh
nghiệp thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản
xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản.
Kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản
với giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại.
Ngoài ra, bên đi thuê cũng nhận được lợi ích từ tấm chắn thuế như bên cho thuê.
Qua những nét phác họa cơ bản trên, kênh tín dụng CTTC có thể là một sự
lựa chọn tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi có nhu cầu.
9
4. Các phương thức giao dịch trên thị trường CTTC
- CTTC ba bên: Đây là phương thức phổ biến nhất. CTTC có sự tham gia
của ba bên, bao gồm bên đi thuê, bên cho thuê và bên cung cấp tài sản. Bên cho
thuê sẽ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên đi thuê và đã được hai
bên thỏa thuận.
- CTTC hai bên: Đây là loại hình giao dịch chỉ có hai bên tham gia, gồm
bên thuê và bên cho thuê. Bên cho thuê sử dụng tài sản sẵn có của mình để thực
hiện nghiệp vụ CTTC. Các định chế tài chính rất ít sử dụng phương thức tài trợ
mà thường do các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy
với nước ngoài.
Hoạt động CTTC chịu sự chi phối bởi kế hoạch và chính sách của Nhà
nước. Để tránh việc đầu tư vào những máy móc, thiết bị lạc hậu, lỗi thời và
không phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, Chính phủ quy định thiết
bị cho thuê phải được đưa vào danh mục quản lý của Nhà nước hoặc địa phương.
Công ty CTTC còn phải phối hợp với bên cung ứng để huấn luyện cho bên thuê
cách sử dụng và vận hành tài sản. Chính phủ đưa ra các chính sách khuyến khích
sự phát triển của loại hình này như khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
CTTC, chính sách thuế ưu đãi, hình thành hiệp hội CTTC….
5.2. Hàn Quốc
Hoạt động CTTC được áp dụng ở Hàn Quốc vào những năm 1970 và
được coi là một trong những quốc gia đầu tiên tại châu Á áp dụng hoạt động này
để tài trợ vốn cho nền kinh tế. Năm 1995, có 25 công ty CTTC hoạt động với quy
mô thị trường là 18 tỷ USD, chiếm 30% so với toàn bộ thiết bị trong nước và
đứng thứ 4 thế giới về doanh số CTTC. Hoạt động CTTC tại Hàn Quốc đạt được
sự phát triển vượt bậc nhờ vào sự can thiệp trực tiếp của chính phủ trong việc
hoạch định chính sách, ban hành hệ thống pháp lý cụ thể, khuyến khích đầu tư và
ưu đãi thuế…
5.3. Indonesia
Hoạt động CTTC ở Indonesia hình thành từ năm 1974 nhưng mãi đến năm
1988 mới thực sự phát triển. Hiện nay có tới hơn 100 CTTC đã được thành lập
tại quốc gia này. Nhờ có chính sách miễn giảm thuế đối với tài sản cho thuê cả
11
khi nhập cũng như khi bán, hệ thống tài chính, ngân hàng luôn cải cách có lợi
cho các CTTC.
5.4. Malaysia
Hoạt động CTTC ở Malaysia thành lập năm 1974, phát triển nhanh chóng
vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước, sau đó từ 1985 đến
1990 do những biện pháp hành chính của Chính phủ đã ảnh hưởng bất lợi tới
hoạt động CTTC. Từ 1990 đến nay, CTTC đã phát triển trở lại nhờ vào sự quan
trong quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại…
CTTC ra đời trên thị trường Việt Nam là một giải pháp tốt để hỗ trợ cho
doanh nghiệp và giải quyết một phần gánh nặng tài trợ vốn mà các ngân hàng
thương mại đang gặp phải. Với đặc trưng không cần tài sản đảm bảo và những
tiện ích khác của loại hình dịch vụ này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều
cơ hội để giải tỏa nhu cầu về vốn để đầu tư phát triển.
1.2. Cung CTTC trên thị trường CTTC Việt Nam
Tính đến thời điểm hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã xem xét và cấp
phép hoạt động cho 13 công ty CTTC, bao gồm 08 công ty trực thuộc các ngân
hàng thương mại có vốn điều lệ do các ngân hàng mẹ cấp, còn lại gồm 01 công
ty liên doanh, 01 công ty trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
và 03 công ty có vốn đầu tư 100% nước ngoài.
Danh sách các công ty CTTC tại Việt Nam hiện nay
TT Tên công ty
Năm
thành lập
Vốn điều lệ
(2009)
1
Cty CTTC Kexim Việt Nam (KVLC)
(100% vốn nước ngoài)
1996 13 triệu USD
2 Cty CTTC I NH Nông nghiệp & PTNT 1998 200 tỷ VND
3 Cty CTTC II NH Nông nghiệp & PTNT 1998 350 tỷ VND
4 Cty CTTC I NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam 1998 200 tỷ VND
5 Cty CTTC NH Công thương Việt Nam 1998 500 tỷ VND
6 Cty CTTC NH Ngoại thương Việt Nam 1998 300 tỷ VND
7
Cty CTTC ANZ-VTRAC
(100% vốn nước ngoài)
2004, tổng dư nợ CTTC đã đạt gần 6.000 tỷ VND. Đến cuối năm 2006, tổng dư
nợ đạt khoảng 8.700 tỷ VND, tăng 15% so với cuối năm 2005. Tính đến hết quý
I/2011, số dư nợ đạt khoảng 19.000 tỷ VND. Đây là những con số thể hiện mức
tăng trưởng đáng khích lệ và chứng tỏ CTTC đã xâm nhập ngày càng mạnh hơn
vào hoạt động tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, san sẻ dần gánh nặng mà các
ngân hàng thương mại đang phải gánh vác.
Từ khi ra đời đến nay, các công ty CTTC đã phát triển nhanh chóng cả về
quy mô và mạng lưới hoạt động. Các công ty CTTC đã thực hiện được nhiều
nghiệp vụ cho thuê khác nhau, đa dạng hóa các tài sản cho thuê, phương thức cho
thuê và đối tượng khách hàng. Các công ty CTTC đã từng bước phát huy được
vai trò quan trọng là hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc
thiết bị, cải tiến kỹ thuật, tỷ lệ dư nợ quá hạn của các công ty CTTC thấp hơn
nhiều so với các ngân hàng.
Thời gian gần đây, mặc dù số dư nợ có tăng, nhưng số nợ quá hạn, nợ xấu
ở một số đơn vị còn quá cao. Năm 2011, số dư nợ của hoạt động CTTC có tăng
14
nhưng các doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng và khả năng thu
hồi nợ thấp.
2. Đặc điểm cơ bản của thị trường CTTC ở Việt Nam hiện nay
Với khoảng 15 năm hình thành và phát triển tại thị trường Việt Nam,
CTTC đã đạt được những thành quả nhất định, dần trở thành một kênh dẫn vốn
trung dài hạn quan trọng, hữu hiệu để thu hút các nguồn vốn trong xã hội nhằm
phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh
cho các doanh nghiệp Việt Nam và phục vụ một phần nhu cầu tiêu dùng của xã
hội. Thị trường CTTC ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:
- Vốn điều lệ của các công ty CTTC dao động từ 150 đến 500 tỷ VND, rất
nhỏ so với vốn điều lệ của ngân hàng thương mại (thường thì trên 1000 tỷ VND),
chỉ đủ để các công ty CTTC hoạt động trong vài năm, trong khi các công ty này
lại không được phép huy động vốn ngắn hạn.
- Đối tượng phục vụ chính của các công ty CTTC là các doanh nghiệp vừa
+ Phương thức giao dịch cho thuê tài chính hai bên
+ Phương thức giao dịch mua và cho thuê lại
- Giá cho thuê (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê, phí, bảo hiểm….)
hiện nay còn cao. Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn, chi phí bỏ ra ban đầu thấp… thì
cho đến hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ phải thanh
toán tổng số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với họ vay từ các nguồn khác
chẳng hạn như ngân hàng. Như vậy, nếu tính ra lãi suất thì lãi suất thuê tài chính
cao hơn lãi suất vay ngân hàng, bởi vì lãi suất thuê tài chính còn phải cộng thêm
các chi phí về lắp đặt, vận hành, bảo hiểm… của bên cho thuê phải bỏ ra.
Hoạt động CTTC được triển khai chính thức từ năm 1997, song với các
doanh nghiệp Việt Nam thì dường như nó vẫn còn khá mới mẻ. Một phần là do
nền kinh tế Việt Nam mới mở cửa chưa được bao lâu, thói quen giao dịch tín
dụng với các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hầu như không thay đổi của
các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó cũng là do thông tin về hoạt động
CTTC, các tiện ích mà công ty CTTC mang lại cho khách hàng khi sử dụng dịch
vụ này chưa thật đầy đủ. Thực tế tại một công ty CTTC trực thuộc ngân hàng
thương mại thì đa số khách hàng giao dịch với công ty này là do sự giới thiệu từ
ngân hàng mẹ và từ các nhà cung cấp các loại máy móc, thiết bị, phương tiện vận
tải…, còn lượng khách hàng tìm đến do uy tín, hoạt động, thương hiệu được
16
quảng bá của các công ty CTTC là rất ít. Nhiều doanh nghiệp chưa tìm hiểu rõ
bản chất cấp tín dụng của dịch vụ CTTC, chưa thấy rõ được hiệu quả, lợi ích từ
dịch vụ CTTC mang lại. Như vậy, trong thời gian tới, để thúc đẩy sự tăng trưởng
dư nợ cho thuê và khẳng định CTTC là một kênh tài trợ tín dụng hiệu quả không
thể thiếu của nền kinh tế, các công ty CTTC còn rất nhiều việc phải làm, trong đó
hoạt động marketing, quảng bá thương hiệu cần được đánh giá đúng mực.
3. Những hạn chế của thị trường CTTC ở Việt Nam hiện nay
Thị trường CTTC Việt Nam còn nhiều hạn chế cần khắc phục để phát
triển hơn nữa và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước.
3.1. Thị phần CTTC nhỏ hẹp
tiện vận chuyển thì rủi ro nói chung thường ít hơn đối với phần lớn tài sản thuê là
máy móc, thiết bị. Điều này xuất phát từ hai lý do mà trước hết là tính thông
dụng và thanh khoản của phương tiện vận chuyển, đặc biệt là ô tô. Tiếp đó là do
đặc tính dễ dàng để thẩm định về chất lượng và giá cả của các loại tài sản thuê
này. Vì vậy, việc thẩm định và xử lý hồ sơ thường nhanh chóng. Bên cạnh đó thị
trường ô tô cũ của Việt Nam vốn phát triển hơn nhiều so với thị trường máy móc,
thiết bị cũ, do vậy khi có rủi ro xảy ra với hợp đồng thuê thì việc thanh lý tài sản
thuê thường dễ dàng hơn rất nhiều.
3.3. Phương thức giao dịch CTTC còn đơn điệu
Hình thức CTTC ba bên vẫn là phương thức chủ yếu nhất trong nghiệp vụ
CTTC tại Việt Nam. Hiện nay có đến hơn 90% số hợp đồng cho thuê được thực
hiện qua hình thức này. Mua và cho thuê lại chỉ xuất hiện trong một vài hợp đồng
cho thuê. Các hình thức khác như cho thuê tài chính hợp tác, cho thuê tài chính
giáp lưng vẫn chưa được áp dụng.
Nhìn nhận một cách khách quan thì lựa chọn phương thức CTTC ba bên
vẫn là một lựa chọn phù hợp của các công ty CTTC. Trước hết, CTTC là lĩnh
vực mới ở Việt Nam, vì vậy, trong điều kiện hệ thống pháp lý về CTTC vẫn chưa
hoàn thiện thì mức độ rủi ro trong hoạt động CTTC theo các chuyên gia nhận
định là khá cao. Điều này bắt buộc các công ty CTTC phải rất thận trọng trong
việc quyết định đường hướng phát triển của mình. Trong phương thức CTTC ba
bên, đa số tài sản thuê là tài sản mới, thuận lợi cho việc thẩm định tài sản, giá cả
cũng như hạn chế được phần nào rủi ro về công nghệ lạc hậu. Trái lại, phương
thức bán tái thuê trong thực tế gặp không ít khó khăn trong thực hiện. Việc định
18
giá tài sản, thẩm định tình hình tài chính của khách hàng đòi hỏi mất nhiều thời
gian, trong khi đó rủi ro lại lớn. Chính vì vậy, phương thức ba bên vẫn được các
công ty CTTC sử dụng nhiều hơn cả. Mặc dù là lựa chọn an toàn nhất nhưng
phương thức này làm cho công ty CTTC mất đi những cơ hội để tham gia các dự
án lớn cũng như vô tình làm mất đi những ưu điểm mà CTTC vốn có.
4. Nguyên nhân những hạn chế của thị trường CTTC ở Việt Nam
công ty CTTC vào những điều khoản cơ bản phải tuân thủ, trong khi đó lãi suất
cho vay bao giờ cũng phải cao hơn lãi suất huy động. Chi phí giá vốn của các
công ty CTTC càng cao buộc các công ty CTTC phải tìm cách đẩy đầu ra lên cao
hơn nhằm đảm bảo có lãi. Chính vì vậy làm giảm sức cạnh tranh của các công ty
CTTC trong mối tương quan so sánh với hình thức tín dụng tại các NHTM.
- Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện:
Hoạt động CTTC ở Việt Nam từ khi ra đời được sự điều chỉnh của Nghị
định 64/CP ngày 09/10/1995 của Chính phủ về việc ban hành quy chế tạm thời
và hoạt động của các công ty CTTC tại Việt Nam. Sau một thời gian áp dụng
Nghị định này đã bộc lộ nhiều bất cập cản trở cho hoạt động CTTC phát triển.
Những bất cập này đã được điều chỉnh phần nào bằng việc ban hành Nghị định
16/2001/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức hoạt động của các công ty CTTC
được ban hành ngày 02/5/2001. Từ năm 2001 đến nay, Nghị định này đã được
sửa đổi bổ sung hai lần qua các năm 2005 và 2008. Tuy nhiên, Nghị định
16/2001/NĐ-CP cũng chỉ tháo gỡ được phần nào những khó khăn về hoạt động
CTTC nhưng tính pháp lý cũng chỉ dừng lại ở mức Nghị định chứ chưa phải là
luật, do đó việc triển khai thực hiện gặp không ít khó khăn, thiếu sự đồng bộ giữa
các ban ngành liên quan. Hiện nay, pháp luật chỉ cho phép tổ chức tín dụng tiến
hành CTTC với đối tượng là động sản, đó là do quy định tại Điều 73 Luật các tổ
chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất
động sản. Nhưng dưới khía cạnh thực tế, việc cho thuê bất động sản an toàn hơn
nhiều so với cho thuê động sản.
Nghị định 65/2005/NĐ-CP ra đời, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định 16/2001/NĐ-CP đem lại nhiều thuận lợi và tạo niềm tin cho sự phát triển
của hoạt động CTTC. Tuy nhiên, để Nghị định này đi vào thực tiễn thì cũng còn
rất nhiều những khó khăn, vướng mắc mà cho đến nay thì các cơ quan có trách
nhiệm vẫn chưa giải quyết được.
20
Chẳng hạn, Nghị định 16/2001/NĐ-CP quy định rõ về việc khách hàng sử
dụng phương tiện lưu thông thuê tài chính được phép sử dụng bản sao công
Ngày 15/12/2006, Hiệp hội CTTC Việt Nam (tên viết tắt là VILEA) đã
chính thức ra mắt tại Hà Nội. Hiệp hội CTTC Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của các công ty CTTC, được thành lập tự nguyện, hoạt động hợp pháp
theo quy định của pháp luật, nhằm tập hợp, liên kết các hội viên hợp tác, hỗ trợ
nhau có hiệu quả cao trong hoạt động CTTC và các hoạt động kinh doanh, dịch
vụ khác, tạo điều kiện cho các hội viên phát triển bình đẳng. Đồng thời, Hiệp hội
cũng là đơn vị đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên, làm cầu nối giữa
các hội viên với các cơ quan nhà nước nhằm ổn định và phát triển lành mạnh,
hiệu quả, an toàn ngành CTTC tại Việt Nam.
Với mục tiêu trên, sự ra đời của VILEA được xem là một trong những
thành công đưa ngành CTTC của Việt Nam lên một bước tiến mới. Tuy nhiên,
VILEA vẫn chưa có nhiều những đóng góp cho ngành CTTC Việt Nam. Các
cuộc họp của VILEA cũng chưa đưa ra được một tiếng nói có trọng lượng trong
việc đề xuất các giải pháp để phát triển ngành lên các cơ quan chức năng có thẩm
quyền hay thậm chí đó là việc nối kết các thành viên triển khai các dự án cho
thuê hợp tác, các dự án phối hợp thực hiện việc quảng bá, marketing cho ngành
CTTC… Chính vì vậy, VILEA cần phải nâng cao hơn nữa vai trò và vị thế của
mình trong việc đề xuất và thực hiện các giải pháp thúc đẩy thị trường CTTC
phát triển.
4.2. Nguyên nhân chủ quan
- Các Công ty CTTC chưa xây dựng được định hướng phát triển dài hạn:
Mặc dù đã hoạt động trong suốt một thời gian dài nhưng các công ty
CTTC vẫn chưa xây dựng cho mình một định hướng chiến lược dài hạn để từ đó
có những bước đi thích hợp cho sự phát triển. Đặc biệt, việc nghiên cứu thị
trường một cách tập trung và quy mô vẫn chưa được thực hiện. Trong điều kiện
các NHTM đang cạnh tranh hết sức quyết liệt, đòi hỏi các công ty CTTC sẽ phải
có những động thái tích cực hơn nữa để xây dựng một định hướng phát triển dài
hơi và hiệu quả.
- Công tác quảng cáo, tuyên truyền cho hoạt động CTTC chưa được thực
hiện đầy đủ:
tài sản thuê để phục vụ mục đích thẩm định của công ty CTTC. Khách hàng rất
khó để nhận được những lời tư vấn mang tính chuyên môn và thực sự hữu ích vì
23
hiện tại sự đầu tư nhân lực, vật lực của các công ty CTTC vào bộ phận này rất ít
ỏi.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
1. Về phía Nhà nước
- Hoàn thiện một số văn bản pháp lý, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường
CTTC phát triển: Kinh nghiệm tại các quốc gia phát triển hoạt động CTTC cho
thấy cần phải hoàn thiện khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động CTTC. Các văn
bản này tạo hành lang pháp lý cho hoạt động CTTC phát triển một cách vững
chắc. Từng bước sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động liên quan đến dịch
vụ CTTC trong Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chỉ có một hệ thống pháp luật đồng bộ mới giúp hoạt động CTTC đi vào nền
nếp, có định hướng…
- Hoạt động CTTC luôn cần nhận được sự quan tâm của Chính phủ trong
từng giai đoạn để có chính sách hỗ trợ kịp thời và tháo gỡ khó khăn như chính
sách ưu đãi về thuế và hoạt động xuất nhập khẩu như cho phép các công ty
CTTC được quyền nhập khẩu trực tiếp.
- Hiện nay, ở Việt Nam số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 95% tổng
số doanh nghiệp, do đó, để thúc đẩy thị trường CTTC hoạt động có hiệu quả đòi
hỏi sự phát triển của chính cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và
nhỏ, bởi chính các doanh nghiệp là khách hàng và là mục tiêu hướng tới của các
công ty CTTC, bên cạnh đó cũng cần có những chính sách khuyến khích từ phía
Nhà nước tạo điều kiện cho bộ phận doanh nghiệp này phát triển.
2. Về phía các công ty tài chính
- Hình thành hiệp hội CTTC, thông qua tổ chức hiệp hội này giúp các
công ty CTTC nắm bắt thông tin thị trường, liên kết trong hoạt động kinh doanh,
quảng bá sản phẩm và đặc biệt là có tiếng nói chung nhằm phát huy tối đa sức
công ty CTTC chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng kháck hàng là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, khi thị trường lớn mạnh mới tập trung vào các doanh nghiệp
25