BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________________________
Võ Hồng Phi Long
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIẢNG DẠY MÔN TIN HỌC TẠI CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG Chun ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thầy PGS. TS. Đoàn Văn Điều đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên
cứu đề tài và hoàn thành luận văn.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2008
VÕ HOÀNG PHI LONG
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Võ Hoàng Phi Long
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
CNTT : Công nghệ thông tin
CNTT&TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
CSVC : Cơ sở vật chất
ứng yêu cầu, tính hiệu quả chưa cao, chưa tạo lập nề nếp và thu hút sự quan tâm
đông đảo của học sinh; điều này là vấn đề đặt ra cho lãnh đạo các trường và các cấp bởi còn nhiều
khiếm khuyết trong công tác quản lý việc giảng dạy môn Tin học.
Từ những lý do nêu trên, đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin
học tại các trường trung học phổ thông ở Thành phố Mỹ Th
o, tỉnh Tiền Giang” được nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các trường trung học phổ thông trên
địa bàn Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp cải tiến nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn học nói trên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu tài liệu để hình thành cơ sở lý luận của đề tài.
3.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các trường trung học
phổ thông trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang (các mặt quản lý và mức độ thực hiện).
3.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các
trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố
Mỹ Tho.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu tìm được đầy đủ các mặt của công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các
trường trung học phổ thông ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang và thực hiện được các mặt đó ở mức
độ khá trở lên thì chất lượng giảng dạy môn học này sẽ được nâng cao.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập tài liệu, đọc và phân tích các văn kiện, văn bản, các tài liệu và tham khảo các công
trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
(micropiloyter), đồng thời các ngôn ngữ giáo tiếp với máy tính điện tử trở nên gần với ngôn ngữ tự
nhiên hơn đã tạo điều kiện đưa tin học phát triển trong trường học. [12, tr.157]
Ở Pháp từ lâu đã thí điểm trên lĩnh vực Tin học giáo dục trên 58 trường cao trung vào đầu
những năm 70. Kế hoạch “10 000 máy vi tính” từ năm 1979, kế hoạch “100 000 máy vi tính – 100 000
giáo viên” năm 1983, kế hoạch “Tin học cho mọi người” năm 1985, … . [12, tr.169]
Ở một số nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương việc phát triển giáo dục Tin học
mạnh mẽ từ những năm
1979 – 1980 trong các hệ thống giáo dục. Tháng 9/1984 “Hội nghị chuyên đề
Châu Á lần thứ ba về kỹ thuật giáo dục” ở Tokyo đã tạo cơ hội cho các nước Châu Á – Thái Bình
Dương trao đổi những kinh nghiệm về việc đưa tin học trong giáo dục. [12, tr.174]
Dần dần Tin học trở thành một môn học chính thức được giảng dạy ở các cấp học trong hầu hết
tất cả các nước phát triển và đa
ng phát triển.
1.1P.2. Quan điểm của Đảng và Chính phủ về phát triển công nghệ thông tin trong giáo dục.
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật
hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người
và xã hội. Công nghệ thông tin phục vụ trực tiếp cho cải tiến quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả các
hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế – xã hội khác; từ đó góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân. Công nghệ thông tin phát triển trên nền tảng phát triển của các công
nghệ Điện tử – Viễn thông và Tự động hóa. Như vậy, cùng với giáo dục là quốc sách hàng đầu, công
nghệ thông tin là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, là phương tiện chủ lực để Việt
Nam đi tắt, đón đầu nhằm rú
t ngắn khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Đảng và Chính phủ nước ta đã ban hành nhiều văn bản, nghị quyết chỉ đạo về việc phát triển
công nghệ thông tin, đặc biệt là trong giáo dục.
- Sau khi thống nhất đất nước, Hội đồng Chính phủ đã hai lần ra các nghị quyết số 173 CP/1975
- Nghị quyết 4, Ban chấp hành TW khoá VII chỉ rõ: ”Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục
là quốc sách hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện những mục
tiêu kinh tế – xã hội”.
-
Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 đã nêu rõ: ”Trọng tâm của ngành giáo dục là
đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, ngành học”.
- Chỉ thị số 29/2001/CT_BG&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ký ngày 30/7/2001
về việc tăng cường giảng dạy, và
ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-
2005.
- Công văn số 5488/GDTrH của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ký ngày 05/7/2004 về việc
tổ chức dạy môn Tin học ở bậc trung học. Văn bản nêu rõ : những nơi có điều kiện về giáo viên, về
thiết bị dạy học cần tổ chức dạy học chính khoá môn Tin học ở các trường Trung học cơ sở, Trung học
phổ thông từ năm học 2004-2005. Những nơi chưa có đủ điều kiện cần có kế hoạch đầu tư, chuẩn bị để
có điều kiện tiến hà
nh dạy học môn Tin học cho những năm học sau.
- Công văn số 12966/BGD&ĐT-CNTT ngày 10/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
về việc đẩy mạnh triển khai một số hoạt động về công nghệ thông tin.
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ứng dụng
tin học ở Việt Nam
Giai đoạn 1960 đến 1967, đây là giai đoạn ở miền Bắc chủ yếu phát triển các mô hình toán
(vận trù học), tại Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước đã thành lập các phòng ban, tiền thân của các
viện nghiên cứu sau này.
Giai đoạn 1968 đến 1975, bắt đầu thành lập phòng máy tính thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam nhưng nằm bí mật. Trong giai đoạn này nhiều cán bộ, kỹ sư được cử đi học về máy
tính, các máy tính Minsk 22, 32 được đưa về Hà Nội. Các ngôn ngữ đã bắt đầu được giảng dạy như
FORTRAN, COBOL, ALGOL 60,… nhiều bài toán đã được xử lý trên máy tính.
Giai đoạn 1976 đến 1985, đất nước đã thống nhất, nhà nước thành lập Viện Khoa học Việt Nam,
tính cách là môn học chính khoá. Đến năm học 2006 – 2007, chương trình phân ban đại trà trên toàn
quốc với ba ban là ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và nhân văn và ban cơ bản thì môn Tin
học là môn học bắt buộc cho cả ba ban học và ba khối lớp 10, 11, 12.
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề
1.2.1. Một số đặc điểm cơ bản về giáo dục của tỉnh Tiền Giang và Thành phố Mỹ Tho
Là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm bên bờ bắc sông Tiền giữ vị trí trung
chuyển giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Tiền Giang có tám huyện, một
thành phố và một thị xã, với 169 xã, phường, thị trấn; trong đó, có 42 xã vùng sâu thuộc khu vực 1
được hưởng chế độ ưu tiên trong t
uyển sinh.
Thời gian qua, truyền thống hiếu học được thế hệ trẻ phát huy tích cực, thành tích học tập của
con em Tiền Giang được đánh giá cao, hằng năm số học sinh giỏi đoạt giải quốc gia, số học sinh trúng
tuyển vào đại học, cao đẳng đều đứng đầu khu vực và có học sinh đạt thủ khoa kỳ thi đại học... . Kết
quả này cho thấy Tiền Giang tạo được bước đi phù hợp, vững chắc trong sự nghiệp "trồng người".
Chứng tỏ, quy m
ô giáo dục và đào tạo phát triển khá hợp lý và ổn định, đáp ứng được nhu cầu học tập
của con em nhân dân. Hệ thống trường học cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của con em nhân
dân lao động. Toàn tỉnh có hơn 500 trường, hơn 17 nghìn giáo viên và gần 400 nghìn học sinh, sinh
viên. Bình quân cứ bốn người dâ
n có một người đi học tại trường. Có nhiều xã có từ hai đến ba trường
tiểu học, các huyện, thị xã, thành phố, có từ hai đến năm trường trung học phổ thông.
Công tác bồi dưỡng đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục luôn được
ngành giáo dục tỉnh quan tâm bằng nhiều giải pháp như đưa đi đào tạo, liên kết đào tạo, bồi dưỡng với
nhiều hình thức đào
tạo theo địa chỉ. Theo định hướng phấn đấu đến 2015 có 20% số giáo viên trung
học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp có trình độ sau đại học.
Một điểm sáng đáng ghi nhận nữa là Tiền Giang đã tập trung đầu tư đưa công nghệ thông tin
vào trường học, cũng như nâng cao dần trình độ tin học cho giáo viên một cách căn cơ, đầy đủ và hiệu
quả cao. Do đó,
hiện nay tỉnh đã phần nào đẩy mạnh việc áp dụng thành công việc giảng dạy bằng giáo
giáo viên dưới hình thức dạy chính khóa hay dạy nghề phổ thông. Tuy nhiên giai đoạn này môn Tin
học chưa được sự đầu tư cao của các trường.
Đến năm học 2003 – 2004, Sở Giáo
dục và Đào tạo Tiền Giang bắt đầu trang bị phòng máy tính
với 24 máy vi tính/phòng lần lượt cho các trường trung học phổ thông, trang bị đến đâu thì cho dạy
môn Tin học chính khóa đến đó. Dần dần, ba trường trung học phổ thông công lập ở Thành phố Mỹ
Tho đã đưa môn Tin học vào giảng dạy như là một môn chính khóa cho cả ba khối lớp 10, 11, 12.
Chính vì sự giảng dạy môn Tin học chưa đồng bộ ở c
ác trường trung học phổ thông nên bộ môn Tin
học vẫn chưa thật sự được đầu tư cả về mặt đội ngũ giáo viên lẫn chất lượng dạy và học. Cơ sở vật
chất rất thiếu thốn, nhiều trường chỉ có một phòng máy vi tính mà tổ chức giảng dạy cho cả ba khối lớp
nên hiện thực giảng dạy chỉ chủ yếu nặng về lý thuyết trên lớp m
à không đủ điều kiện thực hành.
Thực tế này không thu hút sự hứng thú học tập môn Tin học ở học sinh, dần dần làm cho học sinh
không thích thú khi đến giờ học môn Tin học.
Năm học 2006 – 2007, môn Tin học được triển khai đại trà ở tất cả các trường trung học phổ
thông theo chương trình phân ban như là môn học bắt buộc chung cho tất cả ba ban : ban khoa học tự
nhiên, ban khoa học xã hội và nhân văn, ban cơ bản. N
hờ đó các cấp đã có sự đầu tư thật sự về nhân
sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy môn Tin học ở các trường trung học
phổ thông trong toàn tỉnh, trong đó có bốn trường trung học phổ thông ở Thành phố Mỹ Tho, là :
- Trường trung học phổ thông Chuyên Tiền Giang;
- Trường trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu;
- Trường trung học phổ thông Trần Hưng Đạo;
- Trường trung học phổ thông ngoài công lập Ấp Bắc.
T
rong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển rất nhanh và tác động mạnh mẽ đến hầu hết mọi
lĩnh vực trong đời sống hiện đại thì việc chuẩn bị cho nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi ngay từ
bậc phổ thông học sinh cần có những kiến thức cơ bản về tin học, kỹ năng khai thác Internet, các kỹ
năng sử dụng máy tính và một số thiết bị công nghệ thông tin thông dụng nhất.
viên
2005 – 2006 116 7 32 tiết/tuần
2006 – 2007 135 8 38 tiết/tuần
2007 - 2008 146 11 40 tiết/tuần
Bảng thống kê 1.2 cho thấy số giáo viên giảng dạy môn Tin học của các trường trung học phổ
thông tại Thành phố Mỹ Tho có tăng theo hàng năm nhưng chưa đáp ứng nhu cầu về số lượng của các
trường. Căn cứ vào số tiết quy định theo phân phối chương trình của môn Tin học, số tiết phụ trách
phòng máy tính so với số giáo viên tham gia giảng dạy môn Tin học thì trung bình số tiết phân công
cho mỗi giáo viên là quá tải (theo quy định chuẩn là 17 tiết/tuần); bên cạnh đó còn tồn tại một thực tế
là có một số giá
o viên ngoài việc tham gia giảng dạy tin học còn tham gia giảng dạy môn học khác
(như giáo viên tốt nghiệp Đại học sư phạm chuyên ngành Toán - Tin, …) càng tạo thêm khó khăn cho
nhu cầu về đội ngũ giảng dạy tin học. 1.3. Cơ sở lý luận của đề tài
1.3.1. Các khái niệm có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài
1.3.1.1. Các khái niệm liên quan đến tin học
* Tin học:
Theo định nghĩa của Viện hàn lâm khoa học Pháp, “Tin học là ngành khoa học nghiên cứu
việc xử lý bằng máy tính điện tử các tri thức của loài người dưới dạng các thông tin trong các lãnh vực
kỹ thuật, kinh tế và xã hội”. [12, tr.8]
Theo GS. Hồ Sĩ Đàm, “Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu phát triển và sử dụng
máy tính điện tử để nghiê
n cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm
kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội”. [5, tr.6]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc phạm vi các lãnh vực được coi là tin học,
nhưng nội dung cơ bản là thống nhất : Tin học (informatic) là ngành khoa học có mục tiêu phát triển
và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất của t
hông tin, phương pháp thu thập, lưu
* Công nghệ thông tin:
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ
thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có
hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người và xã hội. [42]
Các giải pháp tin học cùng với những công nghệ truyền thông hiện đại đã tạo ra được mạng
m
áy tính toàn cầu, nhờ đó phát triển nhiều dịch vụ tiện lợi, đa dạng như thương mại điện tử (E –
commerce), đào tạo điện tử (E – learning), chính phủ điện tử (E – government), … và tạo khả năng để
dễ dàng truy cập kho tài nguyên tri thức của nhân loại.
* Internet là mạng máy tính khổng lồ, kết nối hàng triệu máy tính, mạng máy tính trên khắp thế
giới và sử dụng bộ gi
ao thức truyền thông TCP/ IP. Internet đảm bảo cho mọi người khả năng thâm
nhập đến nhiều nguồn thông tin thường trực, cung cấp các chỉ dẫn bổ ích, dịch vụ mua bán, truyền tập
tin, thư tính điện tử và nhiều khả năng khác nữa. [5, tr.141]
Internet đảm bảo một phương thức giao tiếp hoàn toàn mới giữa con người với con người
thông qua các dịch vụ Internet như Chat, Video chat, điện thoại Internet, …
Internet được thiết lập vào năm 1983 và không ngừng phát triển bởi sự truyền tải lượng
thông tin khổng lồ một cách thuận tiện, nhanh chóng với chi phí thấp.
1.3.1.2. Các khái niệm có liên quan đến quản lý
* Quản lý:
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mỗi giai đoạn phát
triển của nó. Thuộc tính
này bắt đầu từ bản chất hệ thống của xã hội từ lao động tập thể, lao động xã hội của con người. Marx
nói “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung chừng nào tiến hành trên qui mô tương
đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện các
chức năng chung”.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản l
ý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc
điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản
Như vậy trong việc đào tạo con người mới, vai trò bộ môn Tin học rất quan trọng đối với công
tác quản lý bộ môn của nhà trường đặc biệt là trường trung học phổ thông.
Thông qua môn Tin học, trước hết là giáo dục cho học sinh phương pháp làm việc có kế
hoạch, theo những chương trình định sẵn, là những điểm cơ bản của tư duy thật toán. Đây là phẩm chất
không những cần thiết cho học sinh mà cho bất kỳ người nào muốn thành đạt trong nghiên cứu, sản
xuất, quản lý. Đồng thời những kỹ năng soạn thảo văn bản, lập bảng biểu, sơ đồ, … giúp cho học s
inh
tạo ra và tổ chức, biểu diễn các thông tin của mình thông qua các thông tin đã thu nhận được, và như
vậy đã biến tri thức của xã hội thành hiểu biết của mình.
Việc giảng dạy tin học ở trường phổ thông nhằm cung cấp các kiến thức phổ thông và hình
thành các kỹ năng cơ bản của tin học, công nghệ thông tin và truyền thông cho học sinh làm cơ sở ban
đầu c
ho việc đào tạo nguồn nhân lực tương lai, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, hướng tới nền kinh tế tri thức trong bối cảnh xã hội ngày càng chịu tác động mạnh mẽ của
thành tựu công nghệ thông tin và truyền thông. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tin học là
môn học bắt buộc và không phân hóa theo ban ở cấp trung học phổ thông.
Như vậy có thể nêu lên khái niệm về quản lý giảng dạy m
ôn tin học là: “Quản lý giảng dạy môn
tin học trong trường trung học phổ thông là sự tác động hợp quy luật, có hướng đích của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý đó là giáo viên dạy tin học và học sinh, nhằm đạt được mục tiêu dạy học
môn Tin học”.
1.3.1.3. Trường trung học phổ thông
* Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hà
nh kèm theo quyết định số 07/2007/QĐ-
BGD&ĐT ngày 02 tháng 04 năm 2007 quy định trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông
và trường phổ thông có nhiều cấp học được gọi chung là trường trung học.
Trong hệ thống trường trung học thì trường trung học phổ thông là loại trường trung học có
một cấp học.
sự nghiệp giáo dục, đồng t
hời cũng đòi hỏi cao hơn về cơ hội học tập và chất lượng giáo dục."
Sự phát triển của khoa học – công nghệ dẫn đến kết quả là xuất hiện nhanh, nhiều những tri
thức, những kỹ năng và những lĩnh vực nghiên cứu mới. Đồng thời những tri thức cũ nhanh chóng trở
nên lỗi thời, lạc hậu, hiện tượng “lão hóa” tri thức diễn ra với tốc độ ngà
y càng tăng.
Trước những thay đổi ấy, nếu con người không tiếp cận đuợc với những tri thức mới, những
hiểu biết mới họ sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu với thời cuộc và bị đào thải. Xã hội hiện đại đòi hỏi
con người phải nhạy cảm với cái mới, nhanh chóng tiếp cận và nắm bắt các thành tựu khoa học – côn
g
nghệ hiện đại.
Do lượng thông tin tăng nhanh nên giáo dục và đào tạo phải tiếp cận được những thành tựu mới
nhất của khoa học – công nghệ bằng cách chọn lọc nội dung, đổi mới phương pháp dạy học và ứng
dụng các phương tiện dạy học hiện đại thì mới có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa khối lượng thông
tin tăng nhanh và thời g
ian học, trình độ, sức lực của nguời học hiện nay, mới có thể giải quyết được
vấn đề quá tải trong việc học của người học.
Với sự ra đời và phổ cập của nhiều thế hệ máy tính điện tử, tính chất của lao động đang dần dần
thay đổi. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, máy vi tính đã đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của công việc và quản lý. Trong nhà trường hiện nay, việc sử
dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhất là máy vi tính đã là một xu hướng để nâng cao hiệu quả
và chất lượng giáo dục.
Giáo dục không chỉ đào tạo ra những người có tri thức mà còn tạo ra những con người sáng tạo,
linh hoạt, biết bám sát thực tiễn, am hiểu thực tiễn, có khả năng vận dụng tri thức khoa học để giải
quyết các vấn đề do thực tiễn đề ra.
H
iện nay thế giới đang có sự “chuyển giao công nghệ” giữa các nước. Xu thế này vừa là thuận
lợi, song cũng là khó khăn cho các nước đi sau. “Chuyển giao công nghệ” đã tạo điều kiện cho các
nước đang phát triển có thể rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, mang lại cho họ những bài học quí giá
về môi trường và bảo vệ sinh thái. Để chấm dứt sự lạc hậu và trì t
ngành nghề khác nhau sẽ được dùng phổ biến, chúng có thể thay thế con người trong những môi
trường làm việc nguy hiểm. Rất nhiều trang thiết bị dùng cho mục đích sinh hoạt và giải trí như máy
giặt, máy điều hòa, thiết bị âm thanh, … hoạt động theo các chương trình điều khiển đã và đang nâng
cao chất lượng cuộc sống cho con người.[5, tr. 5]
Trong bối cảnh đó, quá trình đổi mới giáo dục bằng việc phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin là con đường và giải pháp tất yếu để nhanh chóng nâng cao chất lượng giáo dục. Để nền giáo
dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nhất thiết phải đổi mới p
hương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các thiết bị
dạy học hiện đại nhằm phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của
học sinh để nâng cao chất lượng đào tạo.
Vai trò của công nghệ thông tin đối với giáo dục rất to lớn. D
o có những ưu việt, nên công nghệ
thông tin được ứng dụng và sử dụng rộng rãi đến mức không thể thiếu trong việc tạo lập, xử lý, trao
đổi, lưu trữ, tra cứu và sử dụng thông tin quản lý giáo dục. Công nghệ thông tin còn là một phương tiện
hỗ trợ đắc lực, hữu hiệu trong quá trình dạy học ở tất cả các môn học. Với việc học trên mạng, thành
tựu của công nghệ thông tin đã đem đến một tài nguyê
n giáo dục cho tất cả mọi người, làm cho người
học có thể phát huy tính tích cực, chủ động truy cập tùy theo điều kiện thời gian đặc thù của mỗi
người.
1.3.4. Lý luận về công tác giảng dạy môn Tin học và nội dung công tác quản lý hoạt động
giảng dạy môn Tin học ở trường trung học phổ thông
1.3.4.1. Vai trò, mục tiêu, cấu trúc nội dung của môn Tin học trong trường trung học phổ
thông
* Vai trò:
M
ôn Tin học trở thành môn học bắt buộc trong phân phối giảng dạy bộ môn ở cấp trung học
phổ thông. Điều này giúp nhà trường có cơ sở pháp lý để đầu tư về trang thiết bị, phòng máy, biên chế
giáo viên dạy tin học, triển khai các hoạt động ngoại khóa liên quan; học sinh học tập nghiêm túc, có
trách nhiệm hơn khi học môn Tin học. Việc giảng dạy tin học trong trường trung học phổ thông có vai
Lớp 11: Lập trình gồm các kiến thức về các khái niệm về lập trình, thuật toán, cấu trúc dữ
liệu, ngôn ngữ lập trình; kỹ năng ban đầu lập trình một số bài toán đơn giản thông qua một ngôn ngữ
lập trình cụ thể.
Lớp 12: Hệ cơ sở dữ liệu gồm các kiến thức về các khái niệm
ban đầu về cơ sở dữ liệu và hệ
quản trị cơ sở dữ liệu; bước dầu có kỹ năng khai thác một hệ quản trị cơ sở dữ liệu cụ thể. [6, tr.5]
1.3.4.2. Nội dung công tác quản lý hoạt động giảng
dạy môn Tin học ở trường trung học
phổ thông
Nội dung công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học ở nhà trường trung học phổ
thông là quản lý mục tiêu, quản lý nội dung chương trình, quản lý quá trình dạy của giáo viên và quá
trình học của học sinh, quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy và học ở môn Tin học.
Môn Tin học trở thành môn học bắt buộc trong phân phối giảng dạy
*
Quản lý mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông:
Văn bản chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông đã trình bày mục tiêu cấp học theo
Luật Giáo dục 2005 quy định :”Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát
triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết
thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát
triển và phát huy năng
lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
lao động”. [33]
Đối với bộ môn Tin học, quản lý mục tiêu giáo dục cấp trung học phổ thông là quản lý việc
trang bị cho học sinh một cách tương đối có hệ thống các khái niệm cơ bản nhất ở mức phổ thông về
tin học, các kiến thức về hệ thống, thuật toán, cấu trúc dữ liệu, lập trình, cơ sở dữ liệu và hệ quản trị cơ
sở dữ liệu để học sinh có thể có
được kỹ năng bước đầu biết sử dụng máy tính, biết soạn thảo văn bản,
sử dụng Internet, khai thác được các phần mềm thông dụng, giải được các bài toán đơn giản bằng máy
tính, bước đầu sử dụng được một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ cụ thể. Đồng thời rèn luyện học
sinh phong cách suy nghĩ và làm việc khoa học như sự ham
lệch lạc của giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực. Lãnh đạo nhà
trường cần tôn trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên và cũng cần
biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học thích hợp đối môn Tin học.
* Quản lý hoạt động học tin học của học sinh:
Quản lý tốt nề nếp, kỷ cương, thái độ, động cơ học tập của học sinh là điều kiện tiên
quyết để thực hiện thành công nhiệm vụ dạy và học tin học. Để cho hoạt động dạy học đạt kết quả tốt
thì lãnh đạo nhà trường phải quan tâm đến các mặt:
- Giáo dục động cơ, thái độ học tập cho học
sinh: Hoạt động học tập tin học chỉ có thể đạt
được hiệu quả khi học sinh tự giác học tập với tinh thần hăng say và có thái độ đúng đắn. Thông qua
hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt chuyên môn dưới cờ, hoạt động câu lạc bộ tin học mà khơi dậy ước
mơ, hoài bão, hình thành động cơ, thái độ học tập cho học sinh.
Để quản l
ý tốt việc học của học sinh, quản lý nhà trường cần phối hợp một cách có hiệu quả
giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Qua các thông tin trao đổi mà nắm bắt được tâm sinh lý, tình cảm
của học sinh đối với bộ môn Tin học; từ đó có biện pháp kịp thời trong việc định hướng hoạt động dạy
thích nghi hơn cho hoạt động học.
- Quản lý giờ học chính khóa và ngoài giờ lên lớp: Quản lý phương pháp tổ chức việc dạy và học
trên lớp, người học–
đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”– được
cuốn hút vào hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giá
o viên sắp đặt.[29,
tr.28]
Nhà quản lý chú trọng phương pháp rèn luyện tính tự học của học sinh. Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học lòng ham học,
khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.
Bên cạnh đó, việc tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác ở cấp nhóm, tổ,
mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, để đáp ứng
nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đạo tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” như tinh thần Nghị quyết TW 2 –
khóa VIII thì nhất thiết phải cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin
và các thiết bị dạy học h
iện đại để phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú
học tập của học sinh góp phần để nâng cao chất lượng đào tạo.
Vận dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học
nói chung và môn Tin học nói riêng ở trường trung học phổ thông là điều tất yếu tr
ong thời đại kinh tế
tri thức; điều đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học rõ rệt.
Sử dụng thành tựu của công nghệ thông tin như là công cụ hỗ trợ dạy học với các các phần
mềm dạy học và các phương tiện giảng bài thích hợp và hiện đại sẽ giúp cho giáo viên thể hiện được
năng lực biểu đạt nội dung bài giảng với các hiệu ứng sinh động, tiện lợi, thuyết phục, lôi cuốn hơn
qua đó c
ó thể hình thành phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, tạo hứng thú trong giờ học. Do đó,
lãnh đạo nhà trường cần khuyến khích giáo viên tin học soạn giáo án điện tử, giảng dạy trên máy tính
kết hợp các phương tiện nghe nhìn, sẽ làm cho bài giảng tăng cường tính trực quan sinh động, gắn với
các thao tác rèn luyện kỹ năng thực hành. Đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có nhiều
cơ hội truy cập và
o mạng máy tính nhà trường và mạng Internet để tham khảo tài liệu, phát huy khả
năng tự nghiên cứu; đặc biệt là khả năng tự học, tự tìm tòi có định hướng của học sinh.
* Quản lý đội ngũ giáo viên:
Chất lượng giáo dục của nhà trường có hiệu quả hay không là phụ thuộc phần lớn khả
năng và tiềm lực của đội ngũ giáo viên. Hiện nay, đội ngũ giáo viên dạy tin học trong trường trung học
phổ th
ông còn thiếu, năng lực chuyên môn có hạn chế. Vì vậy, để quản lý tốt đội ngũ giáo viên nói
chung và giáo viên tin học nói riêng thì lãnh đạo nhà trường cần luôn quan tâm sâu sát đến trình độ
năng lực của mỗi giáo viên. Quản lý việc nâng cao trình độ, đảm bảo năng lực cho đội ngũ giáo viên
dạy tin học trong nhà trường là một vấn đề hết sức qua
n tâm của lãnh đạo nhà trường.
cầu dạy tin học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
Chương 2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học tại các trường trung
học phổ thông trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho. Các mặt quản lý và mức độ thực hiện
Tác giả đã tiến hành trưng cầu, lấy ý kiến của 55 cán bộ quản lý (CBQL), 139 giáo viên (GV) và
578 học sinh (HS) của 4 trường trung học phổ thông tại Thành phố Mỹ Tho để có được một bức tranh
tổng thể về thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn Tin học. Trong phần này, các mục
sau đây được trình bày:
* Một số thông tin và khách thể nghiên cứu.
* Thực trạng quản lý theo đánh giá của CBQL, của GV, của HS.
* S
o sánh cách đánh giá giữa các khách thể nghiên cứu.
2.1.1. Một số thông tin và khách thể nghiên cứu
2.1.1.1. Cán bộ quản lý
Giới : - Nam: 26 - Nữ: 29
Trình độ : - Không ghi: 3 - Đại học: 50 - Thạc sỹ: 2
Tuổi : - Không ghi: 1 - Dưới 30: 6 - Từ 30 – 40: 5
- Từ 41 – 50: 28 - Trên 50: 15
Thâm niên nghề nghiệp: - Dưới 5 năm: 4 - Từ 5 – 15 năm: 5