Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Hồ Quang Minh

Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ ĐÌNH QUA

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐDDH : Đồ dùng dạy học
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV : Giáo viên
HĐGD : Hoạt động giảng dạy
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởng
PPCT : Phân phối chương trình
PPDH : Phương pháp dạy học
QLGD : Quản lý giáo dục
SGK : Sách giáo khoa
THCS : Trung học cơ sở MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, trong đó giáo dục cùng
với khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có vai trò hết sức
quan trọng trong sự phát triển xã hội về mọi mặt.
Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng giáo dục và đã đặt ra
những yêu cầu mới, những chuẩn mới nhằm
nâng cao chất lượng công tác giáo dục
cho các trường học, các trung tâm giáo dục và đào tạo (GD&ĐT). Nước Mỹ đặt
trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học, Nhật Bản coi giáo dục là

tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết
thực giải quyết các vấn đề d
o cách mạng nước ta đề ra, và trong một thời gian
không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kĩ thuật [27].
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được những
thành tựu quan trọng. Năm 2003, Việt Nam đã công bố kế hoạch hành động quốc
gia về giáo dục cho mọi người. Quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng và trình
độ dân trí đã được nâng lên rõ rệt. Đến nay, 90% dân số Việt Nam đã biết chữ. Tu
y
nhiên, ngành giáo dục vẫn còn một số yếu kém về chất lượng và hiệu quả giáo dục,
về trình độ quản lý nhà trường, cơ sở vật chất (CSVC) kỹ thuật và trang thiết bị nhà
trường, về chương trình, nội dung giảng dạy…. Bởi vậy, yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có việc nâng cao chất
lượng dạy và học cũng như năng lực quản lý nhà trường.
Giáo dục trung học cơ sở (THCS) là cấp cơ sở của giáo dục phổ thông, tạo tiền
đề cho phân luồng và liên thông giữa giáo dục phổ t
hông và giáo dục nghề nghiệp.
Điều 26, Luật Giáo dục quy định: "Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm
học, từ lớp sáu đến lớp chín. HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu
học, có độ tuổi là mười một tuổi"[11]. Mục tiêu của giáo dục THCS là: "… nhằm
giúp HS cũng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ
thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ th
uật và hướng nghiệp để
tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động"[
11]. Mục tiêu giáo dục THCS được thể hiện trong nội dung chương trình,
phương pháp giáo dục và cả trong công tác quản lý của nhà trường THCS.
Cùng với hoạt động học tập của học sinh (HS), hoạt động giảng dạy (HĐGD)
của giáo viên (GV) diễn ra liên tục trong suốt năm học, là hoạt động trung tâm và
chi phối các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Chính vì vậy quản lý

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và
thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT các trường THCS
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Cà Mau có thể có một số ưu điểm trên các mặt như: quản lý việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy của GV; quản lý giờ lên lớp của GV; quản lý việc kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của HS; quản lý hồ sơ chuyên môn của GV, quản lý công tác bồi
dưỡng GV… Đồng thời có thể còn những hạn chế như: quản lý việc thực hiện
chương trình, kế hoạch dạy học; quản lý dự giờ và phân tích sư phạm bài học; quản
lý việc thực hiện đổi mới phương phá
p dạy học (PPDH), quản lý việc hướng dẫn
HS học tập… Nguyên nhân của những hạn chế có thể do chưa có các biện pháp
quản lý HĐGD phù hợp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hoá cơ sở lý luận quản lý HĐGD của HT trường THCS.
- Khảo sát thực trạng quản lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau, phâ
n tích nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGD của HT, nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý HĐGD ở các trường THCS, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6. Phương pháp luận nghiên cứu
6.1. Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, người nghiên cứu xem công tác quản
lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần văn Thời, tỉnh Cà Mau như là một
thành tố của hệ thống công tác quản lý nhà trường của HT trường THCS, đồng thời

6.2.
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi để điều tra thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT 19
trường THCS. Đối tượng điều tra là 40 người gồm HT, phó HT và một mẫu 400
người gồm tổ trưởng chuyên môn, GV được chọn ngẫu nhiên ở 19 trường trên.

6.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn các HT, phó HT phụ trách
chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn và các GV giỏi có nhiều kinh nghiệm về các
biện pháp quản lý HĐGD trường THCS.
6.2.2.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng hướng tới đối tượng quan sát là công tác quản
lý HĐGD của HT, nhằm thu thập chứng cứ hỗ trợ và kiểm chứng kết quả nghiê
n
cứu của những phương pháp nghiên cứu khác.
6.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Nghiên cứu sản phẩm của công tác quản lý HĐGD trường THCS của HT: kết
quả học tập của HS.
6.2.2.5. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của thầy hướng dẫn, của các CBQL có nhiều kinh nghiệm
trong quản lý HĐGD ở trường THCS và Phòng GD&ĐT để đề xuất các biện pháp
quản lý HĐGD phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi nhất đối với công tác quản
lý HĐGD của HT các trường TH
CS huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6.2.2.6. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 13.0 để xử

thiên tài rực rỡ, một nhà phát minh lỗi lạc, một Galilê của giáo dục"[36], năm 1992
UNESCO đã ghi nhận ông là một danh nhân văn hóa thế giới. Tr
ong quá trình hoạt
động giáo dục, J.A. Cômenxki đã viết hàng trăm tác phẩm. Tiêu biểu nhất là tác
phẩm "Phép giảng dạy lớn" (1632), ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích
ứng với tự nhiên, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng
uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất cứ một điều gì. Ông đưa ra một hệ
thống các nguyên tắc dạy học trong đó nguyên tắc trực quan được coi là nguyên tắc
quan trọng nhất.
Kết quả của quá trình dạy học không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào quan hệ
tương tác giữa giáo viên và học sinh mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
có công sức đóng góp của nhà quản lý giáo dục như hiệu trưởng. Vì vậy, rất nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung nghiê
n cứu các vấn đề về quản lý
nói chung và quản lý giáo dục (QLGD), quản lý nhà trường nói riêng.
Nhà QLGD người Nga V.A. XukhomLinxki với 26 năm làm HT đã tổng kết
kinh nghiệm qua tác phẩm "Một số kinh nghiệm lãnh đạo của HT trường phổ
thông" khẳng định: người HT phải là người lãnh đạo toàn diện và c
hịu trách nhiệm
chính trong công tác quản lý nhà trường. Đồng thời ông cũng đã đưa ra một số biện
pháp quản lý của HT nhà trường phổ thông như việc phân công hợp lý công việc
giữa HT và phó HT; việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV; việc dự giờ và phân
tích sư phạm bài học...[39].
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn trong "Những bài giảng về quản lý trường học"
đã cho chúng ta cách nhì
n toàn bộ công việc quản lý của người HT. Người HT phải
luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với

m Trang, thành phố Hồ Chí
Minh; "Quản lý hoạt động dạy học của HT trường trung học phổ thông thành phố
Cà Mau - tỉnh Cà Mau thực trạng và giải pháp" của tác giả Đoàn Thị Bảy, tỉnh Cà
Mau; "Thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT các trường trung học phổ thông
tỉnh Đăk lăk" của tác giả Phạm Đăng Khoa, tỉnh Đăk Lăk…Nhìn chung các đề tài
đã nghiên cứu
lý luận quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, đã khảo sát
được thực trạng các biện pháp quản lý HĐGD của HT và đề xuất một số biện pháp
quản lý của HT, nhưng tập trung chủ yếu vào một số trường tiểu học và trung học
phổ thông trên địa bàn của một tỉnh. Riêng việc nghiên cứu c
ông tác quản lý HĐGD
của HT trường THCS thì rất hạn chế, nhất là công tác quản lý HĐGD của HT tất cả
các trường trên địa bàn một huyện vùng sâu, vùng xa như huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Cà Mau.

1.2. Hệ thống khái niệm
1.2.1. Khái niệm quản lý
1.2.1.1. Các khái niệm về quản lý
Quản lý là một yếu tố cấu thành sự tồn tại của xã hội loài người. Ngày nay,
quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong xã
hội hiện đại.
Có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Người ta có thể tiếp cận khái
niệm quản lý từ nhiều góc độ khác nhau. Theo góc độ tổ chức thì quản lý là cai
quản, chỉ huy, lã
nh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý là điều
hành, điều khiển, chỉ huy. Dưới góc độ của lý thuyết hệ thống thì quản lý là sự tác
động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ

ang cho rằng: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để
vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”[34].
Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau song các khái niệm quản lý
đều mang dấu hiệu chung có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Chủ thể quản lý là tác nhâ
n tạo ra các tác động. "Ai quản lý?" đó là chủ thể
quản lý (chủ thể quản lý chỉ có thể là một cá nhân, hoặc một tổ chức do con người
cụ thể lập nên). Còn "quản lý ai?", "quản lý cái gì?", "quản lý sự việc gì?" đó là đối
tượng quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con
người trong tổ chức. Hoạt động quản lý có những yê
u cầu khách quan, phổ biến đối
với những người làm quản lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt
động quản lý.
1.2.1.2. Chức năng quản lý
"Chức năng quản lý đó là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, sản phẩm của
quá trì
nh phân công lao động và chuyên môn hóa trong quản lý, tiêu biểu tính chất
tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý"[38].Quản lý có 4 chức năng:
- Chức năng lập kế hoạch: Kế hoạch là nền tảng của quản lý. Lập kế
hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, biện pháp, các điều kiện
đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu
đó.
- Chức năng tổ chức: tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc,
quyền hành, nguồn lực cho các thành viên để họ có thể hoàn thành các mục tiêu xác
định. Tổ chức là công cụ quan trọng của quản lý.
- Chức năng chỉ đạo (điều khiển): là quá trình tác động điều khiển,
hướng dẫn của chủ thể quản lý đến các thành viên trong tổ chức, để họ tự nguyện,


nh nghiệm, lịch sử, xã hội cho thế hệ sau, nhằm
chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất
Giáo dục bất cứ thời đại nào vẫn phải thích ứng với những chiều hướng mới
trong sự phát triển xã hội, luôn hướng về tương lai. Mặt khác, giáo dục phải không ngừng thích nghi với những thay đổi của xã hội, mà không bỏ qua việc chuyển giao
những thành tựu, nền tảng và thành quả mà sự trải nghiệm của loài người đã đạt được.
Như vậy,"giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người. Nhờ có
giáo dục m
à các thế hệ kế thừa tinh hoa văn hóa của nhân loại và làm cho nó phát
triển không ngừng"[2].
1.2.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục và QLGD là tồn tại song hành. Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội
tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì QLGD cũng được hiểu như vậy.
QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành, được nghiên cứu trên nền tảng
của khoa học quản lý nói chung.
Giống như khái niệm "quản lý" đã trình bày ở trên, khái niệm "
QLGD" cũng
có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất"[34].
Tác giả Trần Kiểm
cho rằng: khái niệm "QLGD" có nhiều cấp độ. Ít nhất có
hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.

trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội
đó đặt ra cho nhóm
dân cư được huy động và sự kiến tạo này đạt được một cách tối
ưu theo quan niệm của xã hội.
Nhà trường là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở đó tiến hành
quá trình giáo dục, đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu của giáo dục. Nhà trường
vừa là khách thể chính của mọi cấp QLGD từ trung ương đến địa phương, vừa là
một hệ thống độc lập trong xã hội.
Có t
hể phân biệt nhà trường với các thiết chế khác thông qua các dấu hiệu cơ
bản sau: Tính mục đích, tính tổ chức và tính kế hoạch cao, tính hiệu quả, tính biệt
lập tương đối hay tính lý tưởng hóa các giá trị xã hội, tính chuyên biệt cho từng đối
tượng hay tính phân biệt đối xử theo sự phát triển tâm lý và thể chất.

1.2.3.2. Khái niệm quản lý nhà trường
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm về
quản lý nhà trường như sau:
M.I. Kônđacôp cho rằng: "Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta
hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm
chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng
đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo
sự vận hà
nh tối ưu các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy và
học, giáo dục thế hệ đang lớn lên"[26].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hàn
h

đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Quá trình chủ thể tác động vào đối tượng
nhằm tạo ra sản phẩm"[34].
1.2.4.2. Khái niệm hoạt động giảng dạy
HĐGD là hoạt động chuyên biệt do người thầy thực hiện theo phương thức
nhà trường, nhằm
giúp người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài
người, tạo ra sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách.
"HĐGD của GV là hoạt động tổ chức điều khiển của GV đối với hoạt động
nhận thức của HS. Hoạt động dạy của GV không chỉ là truyền thụ tri thức, mà điều
quan trọng là tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành
trong mỗi HS tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi"[28]
.
Trong giờ dạy người thầy phải chọn lọc kiến thức cơ bản để khắc sâu; PPDH
phải đa dạng, linh hoạt; các hình thức tổ chức dạy học phải phong phú, phù hợp với
đối tượng, phục vụ đắc lực cho PPDH.
"Dạy tốt" có nghĩa là thông qua sự truyền đạt nội dung trí dục, thầy chỉ đạo sự
tự phát triển bê
n trong của trò, thầy làm cho trò biết biến "cái chỉ đạo bên ngoài"
thành "cái tự chỉ đạo bên trong" của bản thân.
1.2.4.3. Khái niệm quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý HĐGD là hệ thống những tác động có mục đích của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý trong nhà trường, nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất năng
lực và các điều kiện, làm cho HĐGD trong nhà trường hướng tới việc đạt mục tiêu

giáo dục. 1.3. Một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý trường THCS
1.3.1. Khái quát về trường THCS
1.3.1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của trường THCS
“Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,
đảm bảo cho HS có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử
dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học,
ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.”[11]
1.3.1.4. Phương pháp giáo dục THCS
Giáo dục THCS là một cấp học trong giá
o dục phổ thông, do vậy phương pháp
giáo dục THCS không tách rời với phương pháp giáo dục phổ thông nói chung.
Điều 28 - Luật Giáo dục - Năm 2005, có quy định: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; t
ác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho HS.”[11]
1.3.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người GV THCS
Lao động của người GV nói chung là loại lao động đặc thù, khác với các dạng
lao động khác. Sản phẩm của lao động này là nhân cách của người học, đáp ứng
theo yêu cầu của xã hội.
Đối tượng lao động của người GV THCS là HS tuổi từ 11 đến 14, 15 tuổi. Đây

là thời kỳ phức tạp và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân. Thời
kỳ này có một vị trí đặc biệt, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi
trưởng thành. Người GV THCS vừa là nhà giáo dục, vừa là nhà tâm lý luôn gần gũi,
giúp đỡ để các em hình thành nhân cách một cách tốt nhất.
Công cụ lao động của người GV là trí tuệ và nhân cách của chính mình.
1.3.
3. Chức năng quản lý của HT trường THCS
Có 4 chức năng cơ bản:

HT thực hiện chức năng điều khiển công việc nhà trường với tư cách là người
quản lý nhà nước với vai trò thủ trưởng đơn vị; người trụ cột của tập thể sư phạm v
à
của mọi hoạt động giáo dục; người chỉ huy dàn nhạc.
1.3.3.4. Chức năng kiểm tra
Trong quá trình quản lý, HT cần phải chú ý đến công tác kiểm tra bao gồm:
kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên. Kiểm tra để phát hiện
cái đúng, cái sai trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp
để thực hiện tốt nhiệm vụ.
HT kiểm tra là để: - So sánh giữa việc thực hiện và kế hoạch chỉ đạo.
- So sánh giữa tiến độ học tập với kế hoạch giảng dạy, chương trình và nội
dung quy định.
- Điều chỉnh kế hoạch hoặc phát huy kết quả bước đầu đã chỉ đạo từ việc đổi
mới phương pháp giảng dạy đến các công việc khác trong nhà trường.
1.3.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của HT trường THCS
Điều 19, Điều lệ trường THC
S, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học quy định HT có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
2. Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường theo quy định;
3. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
4. Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyê
n môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với
GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng GV, nhân viên;
5. Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết
quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng, kỷ luật

ó quyền giới thiệu người
để cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm làm HT, phó HT;
5. Giám sát việc thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường, việc thực hiện
quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; giám sát các hoạt động của nhà
trường."[4]
Nhiệm kỳ của Hội đồng trường là 5 năm, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện ra
quyết định thành lập Hội đồng trường đối với trường THCS
HT có trách nhiệm thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường. Nếu H
T
không nhất trí với quyết nghị của Hội đồng trường phải kịp thời báo cáo xin ý kiến
cơ quan QLGD cấp trên trực tiếp là Phòng GD&ĐT. Trong thời gian chờ ý kiến của
cấp có thẩm quyền, HT vẫn phải thực hiện theo quyết nghị của Hội đồng trường.
HT c
ó thể đề nghị để Chủ tịch Hội đồng trường triệu tập họp bất thường.
1.3.5.2. Quan hệ giữa HT và các phó HT
Điều 19, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học cũng quy định nhiệm vụ và quyền hạn của phó HT như sau:
1. Thực hiện và chịu trách nhiệm trước HT về nhiệm vụ được HT phân công;
2. Cùng với H
T chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao;
3. Thay mặt HT điều hành hoạt động của nhà trường khi được HT ủy quyền; 4. Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.[4]
Quan hệ giữa HT và các phó HT là quan hệ chỉ huy chấp hành. Phó HT là
người thực hiện các quyết định của HT, đồng thời tham mưu giúp HT điều hành,
quản lý nhà trường.
1.3.5.3. Quan hệ giữa HT và tổ chuyên môn
Điều 16, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status