Thực trạng và một số biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Anh Tuấn
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ THANH BÌNH


Tác giả
Nguyễn Anh Tuấn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GD – ĐT : Giáo dục - Đào tạo
Phòng GD – ĐT : Phòng Giáo dục - Đào tạo
Sở GD – ĐT : Sở Giáo dục - Đào tạo
Bộ GD – ĐT : Bộ Giáo dục - Đào tạo
TH : Tiểu học
GDTH : Giáo dục tiểu học
CBQL : Cán bộ quản lý
HT : Hiệu trưởng
PHT : Phó Hiệu trưởng
THSP : Trung học Sư phạm
CĐSP : Cao đẳng Sư phạm
ĐHSP : Đại học Sư phạm
CT 135 : Chương trình 135
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐDDH : Đồ dùng dạy học
PPDH :
Phương pháp dạy học
GV : Giáo viên
HS : Học sinh


Chính phủ ban hành Quyết định số 164/
2006/TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn. xã
biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc
biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai
đoạn II). Chương trình này được thực hiện từ năm 2006-2010 cho 1644 xã đặc biệt khó khăn,
xã biên giới, xã an toàn khu của 45 tỉnh trong cả nước chưa hoàn thành mục tiêu Chương trình
135 giai đoạn 1999-2005 và các xã được chia tách theo các Nghị định của Chính phủ [30].
Huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau giai đoạn I có 5/13 xã với 25/52 trường tiểu học trong
Chương trình; giai đoạn II có 3/13 xã với 14/51 trường tiểu học trong Chương trình.
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các x
ã đặc biệt khó khăn thực hiện ở giai đoạn I
đã thu được kết quả tốt đẹp, nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được nâng cấp như các công
trình điện, nước sạch
, trạm y tế, trường học, đường giao thông, công trình thủy lợi...đã tạo điều

kiện thuận lợi cho các xã đặc biệt khó khăn cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Đối với
ngành giáo dục thì cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường thay thế phòng học cây lá tạm;
các cháu học sinh trong vùng các xã đặc biệt khó khăn đến trường được cấp sách giáo khoa, văn
phòng phẩm và miễn học phí nên đã thu hút được phần lớn trẻ em trong độ tuổi đến trường;
giáo viên giảng dạy được hưởn
g thêm các loại phụ cấp nên yên tâm công tác. Đội ngũ này tuy
phát triển về số lượng nhưng chất lượng vẫn còn nhiều bất cập: một bộ phận giáo viên lớn tuổi
lĩnh hội, tiếp thu những cái mới còn chậm, chưa theo kịp với sự đổi mới về nội dung, chương
trình và phương pháp giảng dạy; một bộ phận khác trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy
còn hạn chế. Công tác quản lý dạy và học ở các trường tiểu học thuộc Chương trình 135 chưa
đồng bộ, thiếu khoa học và chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới giá
o dục hiện nay.
Xuất phát từ những lý do như trên và qua thực tế quản lý hoạt động giảng dạy và chất
lượng giáo dục ở các trường tiểu học thuộc Chương trình 135 còn nhiều hạn chế, cần được hoàn
thiện, tôi chọn đề tài: "Thực t

Chất lượng giáo dục các trường tiểu học ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau sẽ được
nâng cao nếu Hiệu trưởng có các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy phù hợp.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu thực trạng và bước đầu đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động
giảng dạy của Hiệu t
rưởng 14 trường tiểu học thuộc Chương trình 135 của huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Tiếp cận quan điểm hệ thống – cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống cấu trúc, giúp người nghiên cứu tìm
hiểu được mối quan hệ
chặt chẽ giữa quản lý hoạt động giáo dục với các hoạt động khác cũng như xem xét công tác
quản lý nhà trường là một hệ thống, trong đó công tác quản lý hoạt động giảng dạy là một hệ
thống con với các yếu tố hợp thành, từ đó tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt
động giảng dạy của Hiệu t
rưởng. Quan điểm này được vận dụng trong nhóm phương pháp
nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.1.2.Tiếp cận quan điểm lịch sử
Tiếp cận quan điểm lịch sử giúp người nghiên cứu tìm
hiểu thực trạng quản lý hoạt động
giảng dạy bằng phương pháp lịch sử tức là tìm hiểu, phát hiện sự nãy sinh, phát triển của hoạt
động giảng dạy trong những khoảng thời gian và không gian cụ thể với những điều kiện và
hoàn cảnh cụ thể ở mỗi nhà trường để có những nhận xét, đánh giá mang tính khách quan trong
quá trình lịch sử vận động và phát triển của nó từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động
giảng dạy một cách cụ thể hơn.
7.1.3. Tiếp cận quan điểm thực tiễn
Tiếp cận quan điểm t
hực tiễn đòi hỏi người nghiên cứu phải bám sát thực tiễn vì thực tiễn
nghiên cứu là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả nghiên cứu hoạt động giảng dạy do đó việc đề ra

- Quan sát và trao đổi trực tiếp với giáo viên và CBQL các trường tiểu học.
7.2.2.3. Phương pháp quan sát
Thu
thập thông tin qua việc quan sát một số hoạt động của Hiệu trưởng, giáo viên, quan
sát các phòng học, phòng thiết bị, thư viện, và các hoạt động khác của nhà trường.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập các phiếu trưng cầu ý kiến, bước đầu dùng phương pháp thống kê toán học
để tính giá trị trung bình. Phân tích, tổng hợp để rút ra các kết luận về quản lý hoạt động giảng
dạy.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Quản lý quá trình giảng dạy trong trường tiểu học là công việc khó khăn của người Hiệu
trưởng. Mục tiêu chủ yếu của công tác này là đảm bảo chất lượng giảng dạy của học sinh theo
yêu cầu mục tiêu và kế hoạch đào tạo cấp tiểu học. Để cải thiện công tác quản lý của người
Hiệu trưởng, nhiều nhà quản lý giáo dục [QLGD] đã nghiên cứu thực t
iễn quản lý nhà trường
nhằm tìm ra các biện pháp quản lý đạt hiệu quả.
Ở Việt Nam có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý nhà trường như: Nguyễn Văn
Lê, Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn… Các tác giả đã nêu lên nguyên
tắc chung việc quản lý hoạt động giảng dạy của người giáo viên, trong đó:
- Khẳng định mỗi giáo viên bộ môn phải chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng và cơ quan
quản lý gi
áo dục trực tiếp về chất lượng giảng dạy đối với mỗi học sinh lớp mình phụ trách.
- Đảm bảo định mức lao động của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm theo quy
định của nhà nước.
- Khẳng định trách nhiệm của mỗi giáo viên chủ nhiệm trước Hiệu trưởng và trước cơ
quan quản lý giáo dục cấp trên về thực hiện các nhiệm vụ nêu trong Điều lệ trường tiểu học
[52

Hiện nay các nhà QLGD ở nhiều địa phương đã ứng dụng những thành tựu về nghiên cứu
thực nghiệm kể trên cho địa phương mình như: Nguyễn Đăng Ngưng (Quảng Nam)
, Hoàng
Văn Vẽ (Đồng Nai), Huỳnh Thị kim Trang (TP. Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Tạo, Lê Quang
Dũng (Bến Tre), về quản lý hoạt động giảng dạy. Với đề tài “Thực trạng và một số biện pháp
quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau", chúng tôi sẽ nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề công tác quản lý hoạt động
giảng dạy của Hiệu trưởng các vùng đặc biệt khó khăn (các xã đang thực hiện Chương trình
135 của Chính phủ) để thấy rõ hơn thực trạng việc quản lý này qua đó đề xuất một số biện pháp
quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng có tác dụng tíc
h cực nâng cao chất lượng giảng
dạy phù hợp theo đặc điểm vùng, miền của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.
1.2. Một số kh
ái niệm có liên quan
1.2.1. Khái niệm về quản lý
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
trong việc điều khiển các hoạt động xã hội để đạt mục tiêu đề ra .
Khái niệm “quản lý” được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau:
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Gi
áo dục, 1998), quản lý là tổ chức, điều
khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan .
FW.Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy
rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [40].
H.Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp
những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
(tổ chức) [40].

C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể

kiểm tra .
- Kế hoạch hoá: Có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của
tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội
Chủ thể quản lý
Công cụ quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý

dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá (a) xác định hình thành mục tiêu (phương hướng)
đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực
của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; và (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần
thiết để đạt được các mục tiêu đó [40].
- Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc giữa các thành viên, giữa các bộ phận
trong một tổ chức nhằm l
àm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu
tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt
hơn các nguồn vật lực
và nhân lực.Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý và
sử dụng nguồn lực này sao cho có hiệu quả [40
].
- Lãnh đạo: Sau khi kế hoạch được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự được
tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá
trình chỉ đạo hay tác động [40].
- Kiểm tra: Là một chức năng của quản lý; thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc
một tổ chức theo dõi, giám
sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa,
uốn nắn nếu cần thiết. Một số kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu
không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình
tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:
+ Người quản l

tra
Thông tin phục vụ quản lý “Nguồn: Trần Kiểm - khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXBGD,
2004”
1.2.2. Khái niệm về quản lý nhà trường
Nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục
quốc dân giữ một vị trí rất quan trọng và quyết định chất lượng giáo dục; đó là việc đào tạo thế
hệ trẻ có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng cho công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
- Theo TS. Trần Kiểm:
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của
quản lý vĩ mô : QLGD, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục
đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể quản lý đến tập
thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy
động họ cùng cộng t
ác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình
này vận hành tối ưu tới việc hình thành những mục tiêu dự kiến [41].
-Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Đó l
à đưa đối tượng của quản lý giáo
dục từ trạng thái này sang trạng thái khác”[39].
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Vì vậy,
quản lý nhà trường còn là sự quản lý của Hiệu trưởng đối với toàn bộ con người, những hoạt
động, những tổ chức và những phương tiện vật chất kỹ thuật, tài chính của trường để đạt được
mục tiêu g
iáo dục và đào tạo học sinh ở từng loại hình trường .
Như vậy : Quản lý nhà trường nói chung và quản lý trường tiểu học nói riêng thực chất

bị tư tưởng tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác tự chủ, lòng kiên trì, ti
nh thần tự chịu
trách nhiệm, không khí đoàn kết-lành mạnh…trong tổ chức quản lý giáo dục khi thực hiện
nhiệm vụ do chủ thể đặt ra.
Trong QLGD, phương pháp này được sử dụng nhiều, một phần do đặc điểm của môi
trường hoạt động giáo dục ; phần khác do tinh thần hiệu quả cao của nó. Đặc trưng của phương
pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ đúng - sai, phải - trái, tốt - xấu, lợi -
hại, thiện - ác…để từ đó nâng cao tính tự giác làm v
iệc và sự gắn bó với tổ chức.
1.2.3.3. Phương pháp kích thích
Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích vật
chất, lợi ích tinh thần nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, tinh thần trách
nhiệm và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức.
- Kích thích về vật chất: Các thang, bậc lương, tiền thưởng, điều kiện sinh hoạt, lao
động…Trong t
hực tiễn giáo dục đã và đang tồn tại những kích thích này như tăng lương trước
thời hạn cho giáo viên giỏi, thưởng tiền cho những giáo viên có học sinh đạt giải quốc gia, quốc

tế,…kích thích loại này có ý nghĩa tích cực đối với con người khiến cho đối tượng quản lý lao
động nhiều hơn, tốt hơn, có năng suất hơn để có những cống hiến cho tập thể.
- Kích thích về tinh thần: Đề nghị phong tặng danh hiệu thi đua, danh hiệu giáo viên giỏi
các cấp, danh hiệu nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân; xét và phát triển Đảng cho cá nhân tích
cực; tạo điều kiện cho đối tượng học ở bậc học cao hơn.

Trong QLGD cần kết hợp hai loại kích thích kể trên, vì nếu quá coi trọng kích thích vật
chất thì sẽ tầm thường hóa con người, còn nếu quá coi trọng kích thích tinh thần sẽ rơi vào chủ
nghĩa duy ý chí. Chỉ có sự thống nhất, sự tác động lẫn nhau giữa hai loại kích thích vật chất và
tinh thần mới thúc đẩy và nâng cao tính tích cực lao động của đối tượng quản lý.
1.2.4. Khái niệm về quản lý hoạt động giảng dạy ở trường tiểu học


để quản lý hoạt động học của trò nên quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu
trưởng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Tính khoa học thể hiện ở nội dung
quản lý như xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyên m
ôn, thực hiện chương trình; chuẩn bị giờ
lên lớp; tổ chức và thực hiện việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học; kiểm tra, đánh giá kết
quả giảng dạy của giáo viên, tổ chức hoạt động ngoại khoá; phân công giảng dạy và bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên; xây dựng nề nếp hoạt động của tổ chuyên m
ôn, xây dựng nề nếp
học tập của học sinh; bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu; xây dựng thời khoá
biểu…Tính nghệ thuật là hệ thống các tác động quản lý phù hợp để tạo ra các chuyển biến tích
cực ở người dạy và người học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
1.2.5. Khái niệm về Chương trình 135
Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa để đưa
nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào
sự phát triển chung của cả nước là vấn đề cần thiết để tránh nguy cơ tụt hậu trong giai đoạn
hiện nay, vì vậy ngà
y 31/7/1998 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 135/1998/QĐ/TTg phê
duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu,
vùng xa.
* Mục tiêu
tổng quát:
Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt
khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả
nước; góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
* Mục tiêu cụ thể:
- Giai đoạn từ năm 1998-2000:
+ Về cơ bản không còn các hộ đói kinh niên, mỗi năm g
iảm 4-5% hộ nghèo;
+ Bước đầu cung cấp cho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hút phần lớn học sinh trong độ

về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản
xuất và phát thanh truyền hình.

- Đào tạo cán bộ xã, bản làng, phum, soóc, giúp đỡ cán bộ cơ sở nâng cao trình độ quản
lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương [26].
Năm 2006, Chính phủ đã tổng kết việc thực hiện Chương trình 135. Ngày 11/7/2006,
Chính phủ tiếp tục ban hành Q
uyết định số 164/2006/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt
khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình phát triển kinh tế-xã hội
các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương
trình 135 giai đoạn II) cho 1664 xã đặc biệt khó khăn chưa hoàn thành mục tiêu Chương trình
135 giai đoạn 1998-2005 và các xã được chia tách theo các Nghị định của Chính phủ vào diện
đầu tư Chương trình 135 giai đoạn 2006-2010 [29]
.

Ở huyện Trần Văn Thời giai đoạn I có 5 xã, thị trấn; giai đoạn II có 3 xã thực hiện
chương trình này
1.3. Trường tiểu học Việt Nam
1.3.1. Mục tiêu giáo dục tiểu học
- Mục 2, Điều 27 Luật Giáo dục đã ghi: "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở" [1
].
Từ mục tiêu này, học sinh học xong cấp tiểu học phải đạt các yêu cầu chủ yếu sau:
- Có lòng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam: Yêu quê hương đất nước, yêu cuộc
sống hoà bình và công bằng, bác ái; kính trên nhường dưới, đoàn kết và sẵn sàng hợp tác với
mọi người; có ý thức về bổn phận của m
ình đối với bản thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng
và môi trường sống. Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật và các quy định của nhà trường,
khu dân cư, nơi công cộng; sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực;

Giải thích:
- Các số trong cột tương ứng với mỗi môn học; hoạt động giáo dục là số tiết của môn
học, hoạt động giáo dục đó trong một tuần. Các số kèm theo dấu + ở dòng tổng số tiết /tuần chỉ
tổng số thời lượng của các môn học và hoạt động giáo dục trong một tuần, dấu * chỉ thời lượng
của các m
ôn tự chọn và môn học tự chọn được quy định bằng văn bản riêng.
- Ở tiểu học, thời lượng mỗi năm học học ít nhất là 35 tuần. Đối với các trường, lớp dạy
học 5 buổi/tuần, mỗi buổi học không quá 4 giờ (240 phút); các trường, lớp dạy học 2 buổi/tuần
hoặc nhiều hơn 5 buổi/tuần, mỗi ngày học không quá 7 giờ (420 phút).
Mỗi tiết học trung bình
35 phút. Giữa các tiết có thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục. Tất cả các trường, lớp thực hiện kế
hoạch giáo dục này.
Mỗi tuần có ít nhất 2 tiết hoạt động tập thể sinh hoạt lớp, Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên
và sinh hoạt toàn trường.
- Bắt đầu từ lớp 1, đối với những trường dạy tiếng dân tộc có thể dùng thời lượng tự chọn
để dạy học tiếng dân tộc. Bắt đầu từ lớp 3, thời lượng tự chọn dùng để dạy học các m
ôn tự chọn
và môn học tự chọn: Ngoại ngữ, Tin học. Học sinh có thể chọn hoặc không chọn học các nội
dung và hai môn học nêu trên.
- Các trường, lớp dạy học 2 buổi/ngày hoặc nhiều hơn 5 buổi/tuần phải có
đầy đủ điều
kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, được sự thỏa thuận của gia đình học sinh, có thể tổ chức dạy
học Ngoại ngữ, Tin học, nội dung tự chọn của các môn học.
- Việc áp dụng kế hoạch giáo dục này cho các vùng miền, các trường chuyên biệt, các
trường, lớp học 2 buổi/ngày, các trường, lớp học nhiều hơn 5 buổi/tuần thực hiện theo hướng
dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Hiệu trưởng trường tiểu học lập kế hoạch dạy học hằng tuần căn cứ vào kế hoạch giáo
dục và chương trình các môn học, đặc điểm của nhà trường và của địa phương [13].
1.3.3. Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ của chương trình tiểu học:

1.3.5. Đánh giá kết quả giáo dục tiểu học:
- Đánh giá kết quả giáo dục đối với học sinh ở các môn học v
à hoạt động giáo dục trong
mỗi lớp và cuối cấp nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, làm căn cứ để điều

chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, động viên, khuyến
khích học sinh chăm học và tự tin trong học tập.
- Đánh giá kết quả giáo dục các môn học, hoạt động giáo dục trong mỗi lớp và cuối cấp
cần phải:
+ Bảo đảm tính toàn diện, khoa học, khách quan và trung thực;
+ Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ từng môn học và hoạt động
giáo dục ở từng lớp, ở toàn cấp học để xây dựng công cụ đánh giá thích hợp;
+
Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì; giữa đánh giá của giáo viên
và tự đánh giá của học sinh; giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng;
+ Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các hình thức đánh giá
khác.
- Các môn học Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa l
ý được đánh giá bằng điểm
kết hợp với nhận xét của giáo viên; các môn học và hoạt động giáo dục khác được đánh giá
bằng nhận xét của giáo viên [13].
1.3.6. Giáo viên trường tiểu học
Giáo dục tiểu học được coi là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Người
thầy giáo tiểu học giữ vị trí trung tâm trong nhà trường. Họ đóng vai trò chủ đạo quyết định
trong việc tổ chức, điều khiển và lãnh đạo các tác động Giáo dục - Đào tạo nhằm làm phát triển
các thuộc tính nhân cách cho trẻ em
lứa tuổi nhi đồng theo đúng mục tiêu giáo dục tiểu học.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng sứ mệnh của người giáo viên là vẻ vang nhất và
quan trọng nhất do đó chúng ta cần quan tâm khi đào tạo, bồi dưỡng cũng như quản lý sử dụng
họ, vì:

Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học;
soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lý học sinh trong các hoạt động
giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm
về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

- Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín,
của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách
của học sinh; bảo vệ các quyền lợi chính đáng của học sinh; đoàn kết giúp đỡ đồng nghiệp.
- Tham gia công tác phổ cập tiểu học ở địa phương;
- Rèn luyện sức khoẻ, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâ
ng cao
chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định
của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng
và các cấp quản lý giáo dục.
- Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng
Hồ Chí Minh, với gia đình học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng
dạy và giáo dục [22
].
Những yêu cầu về các nhiệm vụ này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên,
đặc biệt phải coi trọng việc bồi dưỡng theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá.
1.3.7. Quản lý trường tiểu học

* Theo Giáo sư Phạm Tất Dong: "Giáo dục tiểu học là bộ phận nền tảng, trên đó chúng ta
xây dựng tòa nhà học vấn cho toàn dân" [52].
* Theo nhận định của UNESCO: "Tiểu học không cần phải bàn cải gì nữa, là cấp đào tạo
chính để cung cấp nền giáo dục cơ bản mà mọi trẻ em có quyền được hưởng" [52].
Chủ thể quản lý của trường tiểu học chính là các cán bộ quản lý giáo dục trường học
(HT, P
HT). Theo Điều lệ trường tiểu học mới thì quản lý nhà trường chủ yếu quản lý các mặt :


Mỗi trường tiểu học đều chịu quản lý trực tiếp về chuyên môn, hành chính của Phòng
GD-ĐT và cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương nơi trường đóng (phường, xã, thị trấn).
1.3.8. Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy ở trường tiểu học:
1.3.8.1. Quản lý việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình dạy học ở tiểu học
Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước, là tài liệu quan trọng nhất do Bộ GD-
ĐT ban hành t
rong cả nước quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy các môn, thời gian
dạy học từng môn học: số tiết giảng bài, ôn tập, kiểm tra thực hành…nhằm thực hiện những
yêu cầu của mục tiêu cấp học. Do đó, thực hiện chương trình dạy học chính là thực hiện kế
hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của t
rường tiểu học [49].
- Với tư cách là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn trong nhà
trường, Hiệu trưởng phải nắm vững chương trình dạy học của trường tiểu học thì mới có thể có
những quyết định đúng với nguyên tắc sư phạm, cụ thể là nắm vững những vấn đề sau:
+ Nguyên tắc cấu tạo chương trình dạy học ở cấp học.
+
Những nguyên tắc cấu tạo chương trình dạy học của từng môn học, nội dung và phạm
vi kiến thức của từng môn học ở mỗi cấp học.
+ Phương pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn và các hình thức dạy học của mỗi môn
học.
+ Kế hoạch dạy của từng môn học, lớp học.
+ Giáo viên phải nắm vững chương trình của bộ m
ôn mình giảng dạy ở lớp được phân
công và ở cả cấp học về các vấn đề: cấu tạo chương trình bộ môn; nội dung kiến thức cơ bản;
phương pháp đặc trưng bộ môn và các phương pháp giảng dạy của bộ môn; các hình thức tổ
chức dạy học; phân phối thời gian dạy bộ môn.
- Để bản thân nắm vững chương trình và làm cho giáo viên nắm vững chương trình dạy
học, đầu năm học Hiệu trưởng cần phổ biến những thay đổi (nếu có) trong chương trình the
o

Quản lý công việc phân công giảng dạy là khâu quan trọng trong hoạt động giảng dạy
của nhà trường. Vì thế, người Hiệu trưởng cần nắm thật chắc chất lượng đội ngũ, hiểu rõ đặc
điểm
, sàng lọc thông tin, đánh giá chính xác từng giáo viên .
Việc phân công của giáo vỉên phải căn cứ vào những điều kiện chính:
- Phẩm chất đạo đức của giáo viên
- Trình độ đào tạo
- Năng lực chuyên môn của giáo viên
- Đặc điểm học sinh mỗi lớp
- Nguyện vọng của giáo viên
- Nguyện vọng của học sinh
Những điều kiện trên có thể đư
ợc đáp ứng nếu trường có đội ngũ giáo viên đủ mạnh.
Nếu việc phân công trong điều kiện đội ngũ giáo viên vừa thừa vừa thiếu, năng lực
không đồng đều thì phương án tối ưu là xuất phát từ yêu cầu của nhà trường, từ quyền lợi của
học sinh. Song vẫn chú trọng lắng nghe tâm tư nguyện vọng của giáo viên để lựa chọn, cân

nhắc kỹ trước khi quyết định sao cho đem lại hiệu quả cao nhất. Cần hạn chế tối đa những
trường hợp phân công theo cảm tính, cá nhân. Đó là nguyên nhân để đưa đến những vấn đề
phức tạp, không thuận lợi cho hoạt động giảng dạy của nhà trường .
Quy trình thực hiện phân công giáo viên có thể thực hiện theo các bước sau:
- Dự kiến trước việc phân công trên cơ sở đã hiểu rõ mỗi giáo viên đã đạt đư
ợc mức nào
theo tiêu chuẩn chung về chức danh qua việc trực tiếp tìm hiểu từng người qua tổ chuyên môn.
- Các tổ chuyên môn đóng góp thêm vào dự kiến phân công.
- Thảo luận tại phiên họp liên tịch mở rộng.
- Giải thích thuyết phục và điều chỉnh trong trường hợp cần thiết.
- Ra quyết định về việc phân công [52].
1.3.8.3. Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp:
Lập kế hoạch bài giảng là việc làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status