Lời cảm ơn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
-Trường Đại học sư phạm Hà Nội các thầy giáo , các cô giáo khoa Tâm
lý giáo dục, khoa Quản lý giáo dục, cán bộ phòng quản lý khoa học đã tận tình
giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
- Các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng giáo dục Yên Lạc, các cán
bộ quản lý giáo dục, các trường Tiểu học của huyện Yên Lạc đã giúp đỡ và tạo
điều kiện cho tội nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
- Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo: TS. Từ Đức Văn người
trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
- Do thời gian nghiên cứu có hạn, bản luận văn này chắc chắn không thể
tránh được những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ dẫn
và trân trọng tiếp thu các ý kiến phê bình đóng góp của các nhà khoa học, các
thầy cô và đồng nghiệp.
TÓM TẮT
phần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
Quản lý là một trong những nhân tố quan trọng trong sự phát triển xã
hội. Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ
và liên quan đến mọi người. C.Mác đã coi quản lý là một đặc điểm vốn có và
bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết:” Bất cứ lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều
yêu cầu phải có một sự chỉ đạo”(C.Mác và ăng ghen – tập 23.1993), vai trò
của quản lý được ông nói lên như một người chỉ huy dàn nhạc “ Một người
nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có
một người nhạc trưởng” (C.Mác và ăng ghen – tập 23.1993).
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp. ở nước ta đang thực hiện cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, cải cách mở
cửa để tiến nhanh đến sự hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới,
thời gian nào, chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm
tra. Thanh tra và kiểm tra thường xuyên đúng đắn, chắc chắn những chỗ hỏng,
chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được”. Có thể nói rằng chức năng kiểm tra là
một mắt xích rất quan trọng , nó giúp cho nhà quản lí xác định được đơn vị, tổ
chức của mình đang ở trong tình trạng nào, từ đó có biện pháp điều chỉnh cho
phù hợp. Mặt khác chức năng kiểm tra còn là cầu nối giữa nhà quản lí với đối
tượng bị quản lí, nơi diễn ra quá trình thông tin, thu nhận thông tin để đánh
giá, tư vấn giúp đỡ, thúc đẩy đối tượng quản lí đi đúng hướng.
Kiểm tra nội bộ trường học nói chung , trường Tiểu học (TH) nói riêng
đã được Quyết định 478/QĐ của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo, ngày 11-3-
1993 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra
giáo dục và đào tạo khẳng định:” Các hoạt động kiểm tra phải được tiến hành
3
thường xuyên công khai, dân chủ, kết quả kiểm tra phải được ghi nhận bằng
văn bản và được lưu trữ, hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về
các kết luận kiểm tra này...”
Chúng ta đang thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010,
trong những năm đầu với các chương trình đổi mới nội dung chương trình,
sách giáo khoa, phương pháp dạy học..., song vẫn còn “những biểu hiện tiêu
cực, thiếu kỉ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tăng... chất lượng
hiệu quả giáo dục còn thấp... “ (NQTW2- khoá VIII.1997), đây chính là những
“chỗ hỏng”, “chỗ hở”của quản lí. Đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới công tác
quản lí có nghĩa là phải thường xuyên đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra
“Đặc biệt chú trọng đến công tác thanh tra giáo dục và đảm bảo chất lượng
giáo dục thông qua việc tổ chức và chỉ đạo hệ thống kiểm định chất lượng
“á”(Chiến lược phát triển gíáo dục và đào tạo 2001-2010. 2001) ,.Vậy đổi mới
hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là chúng ta phải làm gì? làm như thế nào
? Đổi mới quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường học của phòng giáo dục ra
sao ?.Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra của phòng giáo dục -
đào tạo Yên lạc - Vĩnh phúc đã tổ chức tiến hành thường xuyên ở các nhà
Nghiên cứu thực trạng việc quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường
học để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu
học của phòng giáo dục cấp huyện nhằm góp phần duy trì kỉ cương nền nếp,
nâng cao chất lượng giáo dục bậc học Tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
4.2. Đối tượng nghiên cứu.
Những biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
4. Giả thuyết khoa học.
5
Quá trình quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học của phòng
giáo dục đã thu được những kết quả đáng kể. Nếu phòng giáo dục - đào tạo áp
dụng những biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học do
tác giả đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao được kỉ cương nền nếp các nhà
trường và chất lượng giáo dục ở bậcTiểu học .
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường
Tiểu học trên cơ sở tổng hợp những công trình đã nghiên cứu về vấn đề này.
5.2. Nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường
Tiểu học cuả phòng giáo dục huyện Yên Lạc, tỉmh Vĩnh Phúc.
5.3. Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp quản lí hoạt động kiểm
tra nội bộ trường Tiểu học
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận (lí thuyết).
6.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết.
6.1.2. Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lí thuyết.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1.Phương pháp quan sát.
6.2.2. Phương pháp điều tra.
Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 1 có 34 trang (từ trang 13 đến trang 46) trình bày 6 vấn đề cơ
bản sau:
I. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển. Có thể khẳng định
rằng không có giáo dục thì không có bất kỳ một sự phát triển nào đối với con
người, đối với kinh tế, đối với văn hoá. Chính vì vậy trên thế giới, bất kỳ một
7
quốc gia nào, một dân tộc nào lại không quan tâm đến sự phát triển của giáo
dục.
Từ xa xưa, Khổng Tử (551 - 479 TrCN) - Triết gia nổi tiếng thế giới,
nhà sư phạm mẫu mực Trung Quốc cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, yên
bình người quản lý đất nước cần chú trọng đến ba yếu tố: Thứ (dân đông); Phú
(dân giàu); Giáo (dân được giáo dục). Như vậy, giáo dục được coi là yếu tố
không thể thiếu trong việc ổn định và phát triển đất nước. Khổng Tử còn cho
rằng, việc giáo dục là rất cần thiết cho mọi người: "Hữu giáo vô loại".
Nhật Bản đầu thế kỷ XIX, Hàn Quốc, Đài Loan những thập niên 70;80
của thế kỷ XX là những bài học quý giá về tập trung đầu tư, chăm lo cho sự
phát triển giáo dục. Các quốc gia khan hiếm tài nguyên như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan đã lấy tiềm năng nguồn lực con người làm động lực chủ yếu
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việc gia tăng sức mạnh
nguồn lực con người được các quốc gia này thực hiện bằng các cuộc cách
mạng về Giáo dục - Đào tạo. Hàn Quốc là một nước nghèo không có tài
nguyên thiên nhiên, chỉ sau 25 năm đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế,
công nghệ đứng thứ 11 thế giới. Sự thần kỳ này được thực hiện bởi sự đầu tư
đúng mức cho giáo dục; bởi sự học tập chăm chỉ, ý chí quyết vươn lên của
người dân Hàn Quốc.
Để giữ vững vị trí hàng đầu thế giới về kinh tế, khoa học và công nghệ;
Nước Mỹ đặc biệt rất chú trọng đến sự phát triển giáo dục bằng sự đầu tư tài
chính lớn và sự quan tâm, chia sẻ của toàn xã hội. Trong thông điệp gửi quốc
quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ
ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…". Ông khẳng định:
"Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý
quan liêu"(Cơ sở khoa học quản lý – Nguyễn Minh Đạo .1997).
9
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong "những khái niệm cơ bản về lý luận,
quản lý giáo dục" cho rằng: Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn:
chuẩn bị kế hoạch hoá; kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra, trong đó,
giai đoạn 5 - kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý.
Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra
tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường)
thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới
sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được
lệch lạc để uốn nắn, loại trừ. Tác giả kết luận: "như vậy, theo lý thuyết
xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp
cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra,
không có quản lý" .
Trong các đề tài thi tốt nghiệp cử nhân khoa học quản lý giáo dục và
báo cáo thu hoạch về công tác thanh tra giáo dục của các lớp huấn luyện cán
bộ thanh tra liên ngành những năm gần đây, các tác giả cũng có đề cập đến
một số vấn đề chung về công tác thanh tra giáo dục, kiểm tra nội bộ trường
học nhưng chủ yếu về các vấn đề thanh tra, đánh giá một giáo viên, một nhà
trường, kiểm tra giáo viên…. do vậy, vấn đề quản lý HĐKTNB trường học nói
chung và KTNB trường Tiểu học nói riêng của phòng giáo dục rất cần được
nghiên cứu; những lý luận về HĐKTNB trường Tiểu học và quản lý
HĐKTNB trường Tiểu học vẫn rất cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ
và ứng dụng ngay trong thực tiễn phong phú của các đơn vị cơ sở giáo dục.
Những tài liệu đã dẫn viết về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo
dục của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục là những tư liệu quý, thiết thực
giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài: nghiên cứu lý luận,
11
5. Khái niệm về thanh tra giáo dục, phân biệt giữa thanh tra giáo dục và
kiểm tra nội bộ trường học.
- Thanh tra giaó dục là kiểm tra mang tính chất nhà nước của hệ thống
thanh tra giáo dục đối với các cơ quan trường học và cá nhân cấp dưới với
nhiệm vụ đánh giá việc thực hiện, phát hiện những thành tích cũng như những
sai lệch và điều chỉnh nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng hoàn thành nhiệm
vụ góp phần duy trì trật tự kỷ cương trong quản lý giáo dục và đưa toàn bộ hệ
thống tới trình độ cao hơn.
- Phân biệt các khái niệm thanh tra giáo dục , kiểm tra nội bộ
a. Giống nhau:
- Mục đích: Cả hai đều đi sâu kiểm tra, theo dõi các hoạt động giảng
dạy và giáo dục để giúp đỡ đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Chức năng: Đều tạo lập kênh thông tin phản hồi trong QLGD.
- Nội dung công việc: Về thực chất đều là hoạt động kiểm tra đánh giá.
b. Khác nhau: Về các mặt tính chất (Chủ yếu là tư cách pháp nhân), tổ
chức, hoạt động, đối tượng và cách xử lý cũng có những nét khác nhau.
6. Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
6.1.Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ .
Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ được hiểu là những tác động
có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý là quá trình kiểm tra của hiệu trưởng ở các cơ sở giáo dục.
6.2. Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ là những tác động có hệ thống, khoa
học, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá
trình kiểm tra của hiệu trưởng ở các trường Tiểu học.
Chương 2
12
Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học và thực
có trình độ chuyên môn tốt. 2. Đánh giá thực trạng
HĐKTNB trường Tiểu học ở huyện Yên Lạc
+ Về các nội dung của hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu học là cơ
bản phù hợp với nhiệm vụ của từng đối tượng kiểm tra. Vì lẽ đó các mục tiêu
về công tác KTNB trường Tiểu học đạt được ở mức độ khả quan. Nề nếp, kỷ
cương của các trường học thực hiện nghiêm túc; cán bộ, giáo viên, nhân viên,
học sinh, các tổ chức trong nhà trường ở những nơi làm tốt công tác KTNBTH
đã có nhiều chuyển biến trong nhận thức và trong việc thực hiện các nhiệm vụ
của mình.
Những hạn chế về nội dung:
-Các nội dung về kiểm tra nội bộ trường học cần cụ thể hoá thành định
lượng (chẳng hạn nội dung tự kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng điểm
tối đa là bao nhiêu? Từng hoạt động cụ thể có điểm là bao nhiêu? Trên cơ sở
đó tự đánh giá xếp loại gì?).
-Hàng năm, cần có sự đổi mới về nội dung, tiêu chí kiểm tra cho phù
hợp với nhiệm vụ từng năm học đáp ứng được yêu cầu giáo dục trong tiến
trình đổi mới.
+ Về phương pháp kiểm tra: Các nhóm phương pháp để KTNBTH được
các đồng chí hiệu trưởng sử dụng đã góp phần tích cực vào việc thực hiện mục
tiêu của KTNBTH. Trong xu hướng đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý nói
chung và công tác KTNBTH nói riêng nhiều đồng chí đã phát huy tính sáng
tạo, chủ động đưa ra những biện pháp năng động phù hợp với thực tiễn, đưa
hoạt động KTNBTH đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Tuy nhiên việc
sử dụng các phương pháp KTNBTH của một số hiệu trưởng còn lúng túng
chưa chọn lựa được phương pháp tối ưu tuỳ theo từng loại hình công việc, vì
vậy hiệu quả còn thấp.
14
+ Kết quả công tác KTNB trường Tiểu học đã góp phần làm ổn định và
phát triển phong trào giáo dục huyện Yên Lạc. Tuy nhiên kết quả đạt được
chưa đều, chưa thường xuyên. Vì vậy, trước những yêu cầu đổi mới của công
TB
Thứ
bậc
1 Xây dựng kế hoạch QL HĐKTNB trường Tiểu học 947 9,47 1
2 Tổ chức thực hiện kế hoạch QL HĐKTNB trường TH 935 9,35 2
3 Xây dựng quy trình tổ chức QL HĐKTNB trường TH 884 8,84 5
4 Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QL HĐKTNB trường TH 917 9,17 3
5 Tăng cường các điều kiện vật chất cho QL HĐKTNB 900 9,00 4
6 Đổi mới phương pháp QL HĐKTNB trường TH 821 8,21 6
7 Tập hợp và phổ biến kinh nghiệm QL HĐKTNB trường
TH
733 7,33 7
8 Thanh tra đánh giá công tác KTNB trường TH 726 7,26 8
Theo kết quả bảng trên, có thể rút ra các nhận xét sau:
Các biện pháp quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học đều được sử
dụng khả tốt. Mức độ sử dụng các biện pháp có khác biệt, tỷ lệ các ý kiến
đánh giá các biện pháp sử dụng tốt có khác nhau " Xây dựng kế hoạch quản
lý HĐKTNB trường Tiểu học " ở thứ bậc 1 (94,7%). Tổ chức thực hiện kế
hoạch quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học ở thứ bậc2. Các biện pháp
tăng cường CSVC cho quản lý HĐKTNB , thanh tra đánh giá công tác
KTNBtrường Tiểu học còn ở mức độ thấp hơn. Như vậy có những biện pháp
quản lý HĐKTNBTH được sử dụng tốt. Điều đó thể hiện trong công tác chỉ
đạo đã có sự tập trung đổi mới về phương pháp quản lý hoạt động KTNB
trường Tiểu học, xây dựng quy trình tổ chức quản lý KTNB trường Tiểu học
đã được Hiệu trưởng các nhà trường nghiên cứu và thể hiện qua các phong
trào nghiên cứu khoa học và đúc rút sáng kiến kinh nghiệm. Các biện pháp
khác là những biện pháp đã có vận dụng song kết quả chưa cao, điều đó còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan. Trong số đó cần nói đến biện pháp
tăng cường CSVC, phương tiện cho quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu
học.
4 Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QL HĐKTNB 48 100 0 0 0 0,0
5 Tăng cường các điều kiện vật chất cho QL
HĐKTNB
43 89,6 5 10,4 0 0,0
6 Đổi mới phương pháp QL HĐKTNBTH 42 87,5 6 12,5 0 0,0
7 Tập hợp và phổ biến kinh nghiệm QL
HĐKTNBTH
35 72,9 13 27,1 0 0,0
8 Thanh tra đánh giá HĐKTNB 38 79,2 10 20,8 0 0,0
Kết quả bảng trên cho thấy các biện pháp quản lý hoạt động KTNB
trường Tiểu học được đánh giá là rất thường xuyên ở mức độ cao. Các biện
pháp đó là: "xây dựng kế hoạch" và "tổ chức thực hiện kế hoạch" "công tác
bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động KTNB" (100%), kết quả này khẳng định thực
tế công tác quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học của phòng giáo dục
17
Yên Lạc đã thu được một số kết quả đáng phấn khởi. Xây dựng kế hoạch và tổ
chức thực hiện kế hoạch là một công việc hết sức quan trọng quyết định sự
thành công của hoạt động KTNB trường Tiểu học
Bên cạnh đó còn có ý kiến đánh giá: "Tập hợp và phổ biến kinh
nghiệm" "Thanh tra đánh giá kiểm tra nội bộ" chỉ là tương đối thường xuyên
(27,1 và 20,8). Điều này phản ánh trong thực tế là chưa quan tâm đến vấn đề
tổng kết thực tiễn hoặc có quan tâm nhưng chưa thường xuyên. quản lý hoạt
động KTNBTH chưa được thường xuyên đôi khi còn phó mặc cho nhà trường.
Vì vậy, công tác quản lý HĐKTNB còn nặng về hình thức, một số nhà trường
thực hiện HĐKTNB chiếu lệ, chưa tự tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp
phù hợp để hoạt động KTNBTH có hiệu quả.
Đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu
học.
TT
Biện pháp quản lý
quyết trong thời gian tới. Biện pháp xây dựng quy trình quản lý; "Tăng cường
điều kiện cơ sở vật chất ..." còn gặp nhiều lúng túng, phản ánh đúng thực tế
hiện nay của phòng giáo dục.
Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động KTNB các trường
Tiểu học huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Các biện pháp quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học được phòng
giáo dục sử dụng hầu hết rất phù hợp và tương đối có hiệu quả.
Bên cạnh đó còn nhiều ý kiến đề xuất thêm các biện pháp quản lý hoạt
động KTNB trường Tiểu học như: Xây dựng quy trình kiểm tra giáo viên,
kiểm tra học tập và rèn luyện của học sinh. Biện pháp kiểm tra các hoạt động
KTNB trường Tiểu học, tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ. Những vấn đề này
đặt ra cho nhà quản lý phải tìm ra phương pháp thực hiện tối ưu hơn và phù
hợp với thực tế hiện nay của ngành giáo dục Yên Lạc và yêu cầu của xã hội.
Công tác quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học trong những năm
qua ở huyện Yên Lạc đã thực hiện tương đối tốt, nhiều biện pháp quản lý đã
mang lại hiệu quả tương đối cao, đáp ứng được tình hình thực tế đặt ra. Công
tác quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học đã tạo ra nề nếp kỷ cương trong
hoạt động dạy và học ngày càng đáp ứng được yêu cầu của tiến trình đổi mới
sự nghiệp giáo dục của huyện. Tuy nhiên một số biện pháp quản lý đạt được
kết quả chưa như mong muốn. điều đó phản ánh những yếu tố khách quan và
cả yếu tố chủ quan chi phối đến hoạt động chung, các biện pháp quản lý cần
19
đầu tư tập trung chỉ đạo có hiệu quả, kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm trong
từng giai đoạn nhất định. Sự phối hợp giữa các bộ phận tham gia quản lý hoạt
động KTNB còn có bất cập, chưa phát huy tối đa năng lực tự kiểm tra, chưa
biến quá trình kiểm tra thành quá trình tự kiểm tra.
Một số nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại,hạn chế trong quản lý
hoạt động KTNB các trường Tiểu học huyện Yên Lạc..
-Nhận thức của một số bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa mạnh
dạn đổi mới, chưa dám nhìn thẳng vào sự thật.
lý, với trình độ vận dụng chúng của các nhà quản lý, phù hợp với điều kiện
thực tiễn giáo dục của huyện. V.I - Lênin đã chỉ thị :"Không thể nào quản lý,
nếu không có tri thức khoa học quản lý","Muốn quản lý phải thông thạo, am
hiểu công việc". Trong công tác quản lý cần sử dụng nhiều các biện pháp quản
lý, trong từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nên chọn những biện pháp nào là
chính, biện pháp nào là bổ trợ, không nên dùng một biện pháp duy nhất.
Trải qua những năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục nước ta được mở rộng
và phát triển. Cụ thể đã và đang đa dạng hoá các hình thức và phương thức
giáo dục nước ta còn bộc lộ những yếu kém về nhiều mặt "chất lượng giáo dục
đại trà ở các cấp học còn thấp, hiệu quả giáo dục chưa cao, một số hiện tượng
tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục chưa được ngăn chặn kịp thời. Nguyên
nhân của sự yếu kém thuộc về quản lý giáo dục"Trong thời kỳ đất nước
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa. Ngành giáo dục chậm đề ra phương hướng chiến lược
và các chính sách vĩ mô để sử lý đúng, một số mối tương quan lớn trong giáo
dục như: cung - cầu; chi phí - lợi ích, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số
lượng và chất lượng; giữa đa dạng hoá các loại hình và tăng cường kiểm tra
kiểm soát để bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Công cụ quản lý quan trọng là
hệ thống văn bản pháp quy chưa được hoàn chỉnh kịp thời,.năng lực cán bộ
quản lý giáo dục chưa theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục. Để nâng cao hiệu
21
quả quản lý HĐKTNB trường Tiểu học, tôi xin đề xuất 5 biện pháp về quản
lý hoạt động KTNB trường Tiểu học như sau:
2. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường Tiểu
học.
2.1. Biện pháp 1: Tăng cường nhận thức về hoạt động kiểm tra nội bộ
trường học của người quản lí.
*.Mục đích,yêu cầu:
Hoạt động KTNBTH là hoạt động truyền thống của ngành giáo dục.Có rất
nhiều hiệu trưởng đã thiết lập được một mạng lưới kiểm tra rất chặt chẽ hoạt
Trong công tác lập kế hoạch, cần tập trung vào việc xác lập các mục
tiêu chương trình và xác định mô hình trong tương lai cần đạt tới. Việc xác
định mục tiêu càng cụ thể, đúng đắn bao nhiêu, thì việc thực hiện mục tiêu
càng có kết quả bấy nhiêu. Trong khi xây dựng kế hoạch cần tính toán tới tất
cả các biến động thay đổi để có thể lựa chọn các phương án đảm bảo sự phù
hợp và thành công nhất. Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động KTNB trường
Tiểu học phải căn cứ trên kế hoạch, nhiệm vụ công tác kiểm tra nội bộ của
ngành giáo dục Vĩnh Phúc và tình hình thực tiễn giáo dục huyện Yên Lạc.
Xây dựng kế hoach quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học phải đảm
bảo tính khách quan và khoa học. Tính khách quan thể hiện mức độ đáp ứng
của kế hoạch với nhu cầu của hoạt động KTNB trường Tiểu học.
Không phụ thuộc ý chí chủ quan của nhà quản lý, xây dựng kế hoạch
phải được tính toán một cách khoa học; đảm bảo tính hợp lý và khả thi. Xây
dựng kế hoạch quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học là nhiệm vụ của
trưởng phòng giáo dục. Trong đó cần có sự tham mưu cụ thể của phó trưởng
phòng giáo dục phụ trách giáo dục Tiểu học, các chuyên viên Tiểu học và hiệu
trưởng các trường Tiểu học.
* Nội dung, cách thức tiến hành của biện pháp.
23
Căn cứ tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng năm học; Căn cứ vào thực
trạng đội ngũ cán bộ, giáo viên và quy mô phát triển trường, lớp, học sinh của
từng năm học; Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
và chất lượng giáo dục của huyện, của toàn ngành, riêng từng khu vực; Căn cứ
vào kế hoạch cụ thể về hoạt động KTNB trường Tiểu học của các nhà trường
trong huyện và kế hoạch quản lý HĐKTNBTH, Căn cúa vào kết quả quản lý
HĐKTNBTH của phòng giáo dục ở năm học trước. Trưởng phòng giáo dục
cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các biện pháp thực hiện; Bước tiếp theo
trưởng phòng giáo dục dự thảo kế hoạch chung của huyện. Dự thảo kế hoạch
này được các chuyên viên, hiệu trưởng các trường Tiểu học nghiên cứu đóng
góp, bổ xung từ góc độ thực tiễn công tác. Trưởng phòng xem xét để hoàn
+ Qui định kiểm tra tài chính:
* Điều kiện để thực hiện :
Người quản lý phải nắm hết các đối tượng phải kiểm tra, lôi cuốn được
nhiều thành viên vào việc kiểm tra, xây dựng lực lượng kiểm tra nhiều thành
phần đảm bảo các nguyên tắc khoa học, dân chủ trong kiểm tra. Thnàh viên
kiểm tra phải là những người thông thạo về chuyên môn nghiệp vụ, giỏi nghề,
tốt về đức, sáng suốt và linh hoạt trong công việc, các thành viên kiểm tra phải
được phân công , phân quyền rõ ràng.
1.4 Biện pháp 4 : Đào tạo, bồi dưỡng CBGV làm công tác KTNB trường
Tiểu học và đội ngũ thanh tra viên của phòng giáo dục để quản lý hoạt
động KTNB trường Tiểu học
* Mục đích, yêu cầu.
- Nhu cầu của thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra trong việc nâng
cao chuyên môn nghiệp vụ nhằm phục vụ công tác thanh tra càng trở lên bức
xúc khi công tác thanh tra chuyên môn được đặt ra đúng mức, thường xuyên.
25