BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MỎ - LUYỆN KIM
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ
XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGĂN NGỪA, GIẢM THIỂU Ô NHIỄM
VÀ HOÀN THỔ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI
THÁC, CHẾ BIẾN SA KHOÁNG VEN BIỂN
Chủ trì nhiệm vụ: TS. Nguyễn Thúy Lan
Ngày tháng năm 2009
Thủ trưởng cơ quan chủ quản
Ngày tháng năm 2009
Thủ trưởng cơ quan chủ trì
Hoàng Văn Khanh 7432
26/6/2009
Tình hình khai thác – chế biến quặng sa khoáng titan ven biển Việt
Nam
7
I.4
Hiện trạng thiết bị và công nghệ ngành khai thác – chế biến sa
khoáng titan ven biển Việt Nam
9
I.4.1
Ngành khai thác
9
I.4.2
Ngành chế biến
11
I.4.3
Mối quan hệ giữa thiết bị - công nghệ và môi trường
13
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ HOÀN THỔ PHỤC HỒI MÔI
TRƯỜNG
14
II.1
Hiện trạng môi trường
14
II.1.1
Môi trường sinh thái – cảnh quan
14
II.1.2
Môi trường đất
15
II.1.3
III.1.2
Đề xuất mô hình cho các cơ sở ở Việt Nam
33
III.2
Xây dựng mô hình hoàn thổ phục hồi môi trường
39
III.2.1
Một số vấn đề cần lưu ý khi xây dựng mô hình
39
III.2.2
Đề xuất mô hình cho các cơ sở ở Việt Nam
41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
48
PHỤ LỤC
50
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta là một trong số các nước có nguồn tài nguyên quặng titan phong phú trên
thế giới. Quặng titan ở nước ta được phân bố rộng rãi trên nhiều vùng lãnh thổ
nhưng chủ yếu tập trung ở ven biển. Quặng titan và các sản phẩm chế biến từ titan
như pigment TiO
2
, rutile nhân tạo, xỉ titan ferotitan, các hợp kim chứa titan và titan
kim loại được ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp như sơn, nhựa, giấy, cao su,
hàng không vũ trụ, thể thao, y tế, điện tử v.v và có giá trị xuất khẩu cao. Trong vòng
20 năm trở lại đây, ngành khai thác và chế biến quặng sa khoáng titan ven biển đã
phát triển khá thành công và trở thành một ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu có
nhiều khoáng vật bị hòa tan, biến thành đất và bị nước cuốn đi. Các khoáng vật bền
vững thường đọng lại lẫn với cát sỏi ở gần chân núi hoặc tạo nên các bồi tích, tàn
tích hoặc các bãi cát ven biển. Ở nước ta có nhiều mỏ sa khoáng như sa khoáng
vàng, sa khoáng vonfram và sa khoáng cromit nhưng các sa khoáng ven biển chủ
yếu là sa khoáng titan. Do đó sa khoáng titan ven biển được lựa chọn nghiên cứu
trong nhiệm vụ này. Do điều kiện thời gian và kinh phí của nhiệm vụ còn hạn chế
nên phạm vi điều tra khảo sát là các mỏ sa khoáng titan ven biển miền Trung và
Nam Trung Bộ.
Phương pháp thực hiện nhiệm vụ này bao gồm việc thu thập thông tin và số liệu qua
phiếu điều tra; đi thực địa đo đạc và lấy mẫu hiện trường; phân tích mẫu trong
phòng thí nghiệm; nghiên cứu tài liệu nước ngoài; tổng hợp số liệu; thông tin và
viết báo cáo. Có 26 điểm mỏ khai thác và chế biến sa khoáng titan đã được điều tra, thu
thập số liệu, khảo sát đo đạc và lấy mẫu phân tích (Phụ lục 1 và Phụ lục 2). Kinh nghiệm
quốc tế cũng được tham khảo học tập để xây dựng mô hình ngăn ngừa giảm thiểu ô
nhiễm môi trường và mô hình hoàn thổ phục hồi môi trường cho các cơ sở khai thác
và chế biến sa khoáng titan ven biển Việt Nam.
Nhóm thực hiện nhiệm vụ bao gồm các cán bộ sau:
1. TS. Nguyễn Thúy Lan –Trung tâm Môi trường Công nghiệp (CIE) thuộc Viện
Khoa học và Công nghệ Mỏ-Luyện kim.
2. KS. Lê Minh Châu – Giám đốc Trung tâm Môi trường Công nghiệp.
3. CN. Hoàng Công Sơn – Tổng thư ký Hiệp hội Titan Việt Nam
4. ThS. Vũ Thị Tuyết Mai – Trung tâm Môi trường Công nghiệp.
5. KS. Nguyễn Thị Lài –Trung tâm Môi trường Công nghiệp
6. KS. Võ Thị Cẩm Bình - Trung tâm Môi trường Công nghiệp
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhóm đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều
kiện thuận lợi của:
Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương
Hiệp hội Titan Việt Nam
Ban lãnh đạo cùng các cán bộ kỹ thuật của các cơ sở khai thác và chế biến sa
khoáng titan ven biển miền trung và nam trung bộ ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,
2
) dùng trong sản xuất
giấy, sơn, nhựa, cao su, mực, mỹ phẩm, xà phòng, dược phẩm, đồ gốm và gốm cách
điện, men và nước men, thủy tinh, sợi thủy tinh và que hàn, v.v Rutile, rutile tổng
hợp hoặc xỉ titan có hàm lượng cao dùng để sản xuất titan kim loại và hợp kim.
Phần lớn các mỏ ilmenite trên thế giới nằm dọc vùng bờ biển các nước Australia,
Nam Phi, Ấn Độ, Braxin, Madagasca và Mỹ. Khoáng chất này cũng có mặt ở các
mỏ đá tại Na Uy và Canada. Năm 2005, sản lượng sản lượng ilmenite của thế giới
là 4,6 triệu tấn trong khi sản lượng rutile đạt khoảng 360 nghìn tấn, khá nhỏ so với
sản lượng ilmenite. Đối với nhiều mỏ sa khoáng, các khoáng vật đi kèm như
manazite và zircon cũng có vai trò kinh tế quan trọng. Zircon (ZrSiO
4
) là khoáng
vật chính chứa Zr. Zircon được sử dụng làm vật liệu chịu lửa làm khuôn đúc, zircon
được sử dụng làm đồ gốm và sành sứ. Zircon cũng được sử dụng trong sản xuất kim
loại chống ăn mòn sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân và trong thiết bị chế biến
hóa chất. Ba nước hàng đầu thế giới về sản xuất titan và zircon là Australia, Nam
Phi và Canada. Australia là nước dẫn đầu về sản xuất ilmenite (chiếm 28% lượng
sản xuất được trên thế giới), rutile (chiếm 53%) và zircon (chiếm 46%), phần lớn
rutile và zircon xuất khẩu.
Hiện nay thị trường thế giới đang thiếu nguồn ilmenite để sản xuất dẫn tới nhu cầu
đối với khoáng chất này ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu này, hiện nay nhiều
dự án khai thác và chế biến sa khoáng titan đang được triển khai tại các nước như
Australia, Canada, Chile, Gambia, Kenya, Madagasca, Malawi, Mozambique,
Senegal và Nam Phi.
I.2 Đặc điểm và tiềm năng quặng sa khoáng titan ở Việt Nam
I.2.1 Khái quát đặc điểm, phân bố, nguồn gốc và các loại quặng titan
Khoáng vật có chứa titan rất phổ biến và thường gặp trong hầu hết các loại đá từ
trầm tích, biến chất đến magma. Tuy nhiên các khoáng vật có giá trị công nghiệp
6
]. Đôi khi xuất hiện turmalin và limonite với hàm
lượng rất thấp. Trong số các khoáng vật nặng kể trên thường chỉ có ilmenite, zircon,
rutile và monazite được thu hồi công nghiệp. Ilmenite và zircon chiếm đến 97% giá
trị khoáng vật nặng sau khi tuyển thô.
I.2.2 Tiềm năng quặng sa khoáng titan Việt Nam
Quặng titan sa khoáng chủ yếu phân bố chủ yếu dọc bờ biển Việt Nam, phân bố trải
dài suốt dọc bờ biển từ Bắc tới Nam với hàm lượng và trữ lượng tương đối cao. Các
khu vực ven biển có sa khoáng được phân bố như sau [1]:
Ở vùng đông bắc Bắc Bộ: các mỏ sa khoáng titan tập trung từ bờ biển Hà Cối đến
Mũi Ngọc và rìa phía Nam đảo Vĩnh Thực với quy mô nhỏ nhưng hàm lượng
ilmenite tương đối cao. Tổng trữ lượng ilmenite vùng này khoảng 90 nghìn tấn.
Ở vùng ven bờ biển Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định: các mỏ sa khoáng vùng
này có quy mô rất nhỏ. Vùng ven biển Thanh Hóa: dọc ven bờ biển Thanh Hóa phát
hiện được 4 mỏ sa khoáng là Hoàng Thanh, Sầm Sơn, Quảng Xương và Tĩnh Gia.
7
Các mỏ sa khoáng này có trữ lượng nhỏ nhưng hàm lượng ilmenite tương đối cao,
đặc biệt chúng có hàm lượng monazite cao hơn so với các vùng khác.
Vùng Nghệ An-Hà Tĩnh là nơi có tiềm năng lớn nhất về quặng titan của nước ta.
Các mỏ sa khoáng ở vùng này có quy mô từ nhỏ đến lớn với 15 mỏ và điểm quặng
được phát hiện. Tại các mỏ và điểm quặng này ngoài khoáng vật ilmenite còn có
các khoáng vật có ích khác như zircon, leucoxen, monazite và cả kim loại quý hiếm
là hafini với giá trị kinh tế cao. Tổng trữ lượng quặng đã thăm dò ở vùng này là trên
5 triệu tấn ilmenite và 320 nghìn tấn zircon. Vùng Quảng Bình-Quảng Trị có trữ
lượng 350 nghìn tấn ilmenite và 68 nghìn tấn zircon.
Vùng ven biển Thừa Thiên-Huế có các mỏ sa khoáng phân bổ suốt từ Quảng Điền
đến Phú Lộc và có hàm lượng chất có hại Cr
2
O
3
cao hơn so với các vùng khác, với
phương nơi có ngành khai thác titan và các khu vực lân cận phát triển, cải thiện đời
sống nhân dân các tỉnh nghèo ven biển, đặc biệt là các với các tỉnh ven biển miền
Trung và Nam Trung Bộ như Hà Tĩnh, Quảng Nam và Bình Định. Trong những
năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan trên thế giới có chiều hướng gia tăng về
nhu cầu và giá cả nên tình hình khai thác và chế biến titan nước ta cũng phát triển
ngày càng mạnh mẽ. Chính vì vậy nhiều doanh nghiệp tranh nhau khai thác và xuất
khẩu nguồn nguyên liệu quý này.
Theo Hiệp hội Titan Việt Nam, hiện nay việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản
titan ở một số địa phương còn tràn lan. Nhiều mỏ titan lớn bị chia cắt thành nhiều
điểm mỏ nhỏ, nhiều cơ sở không có chuyên môn, trang thiết bị và kinh nghiệm về
khai thác cũng được cấp giấy phép khai thác. Do chính sách quản lý lỏng lẻo của
nhà nước, nhiều doanh nghiệp và dân địa phương cũng đổ xô đi khai thác titan bừa
bãi và tràn lan gây ô nhiễm môi trường, đã làm biến dạng khu vực bãi cát ven biển;
làm cạn kiệt và nhiễm mặt nguồn nước, tàn phá hệ thống rừng phòng hộ ven biển và
phá hủy sự đa dạng sinh học, mất an ninh trật tự ở khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống, sản xuất của người dân. Việc quản lý lỏng lẻo cũng dẫn tới việc bán phá
giá và xuất khẩu lậu một lượng khoáng sản lớn làm ảnh hưởng tới lợi ích của người
lao động, lợi ích của doanh nghiệp sản xuất titan và lợi ích của quốc gia. Tình trạng
khai thác không giấy phép ở nhiều địa phương đã diễn ra như ở Thanh Hóa, Quảng
Bình, Bình Định, v.v. đã làm ảnh hưởng đến môi trường và gây tổn thất lớn nguồn
tài nguyên của quốc gia.
Việc quản lý kinh doanh, xuất nhập khẩu quặng titan cũng lỏng lẻo và sơ hở dẫn tới
tình trạng mua bán và vận chuyển trái phép quặng titan đã diễn ra ở nhiều nơi. Ở
một số địa phương do thiếu sự đồng thuận giữa người dân khu vực có khoáng sản
titan và doanh nghiệp khai thác về chi phí đền bù mặt bằng, di dời mồ mả, v.v. dẫn
tới ách tắc sản xuất làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhiều mỏ
mới chưa được thăm dò đánh giá trữ lượng một cách đầy đủ và chính xác. Nhiều cơ
sở khai thác và chế biến titan còn chưa đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ kịp thời
để tăng năng lực sản xuất và tận thu khoáng sản.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một số doanh nghiệp khai thác titan đầu tư công
Quá trình khai thác “thổ phỉ” trái phép (khai thác thủ công) diễn ra nhiều nơi dọc bờ
biển Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị và Bình Thuận do cư dân địa phương thực
hiện. Khai thác được thực hiện bằng các dụng cụ thô sơ như xe bò, xe công nông,
cuốc xẻng, thau, máng gỗ, v.v Cuốc xẻng được dùng để đào lớp cát bề mặt lấy lớp
cát lẫn lộn titan gom thành đống rồi cho vào máng gỗ. Máng gỗ được đặt nghiêng,
khi đổ nước vào, nước và cát nhẹ hơn chảy ra ngoài, titan trong máng được thu lại.
10
Hình 1. Sơ đồ công nghệ khai thác cơ giới bằng máy xúc chất tải
Bãi thải
Moong khai thác
Thải + Hoàn thổ
Bơm nước tuần hoàn
Máy bốc
Băng tải
Sàng
Thải
Phễu cát quặng
Bơm cát quặng
Vít đứng
Bơm và hệ thống
đường ống thải cát
11
Hình 2. Sơ đồ công nghệ khai thác cơ giới thuỷ lực (dùng bơm hút)
I.4.2. Ngành chế biến
Hiện nay, tinh quặng sa khoáng titan ven biển mới chỉ được tuyển tách ra rutile,
ilmenite, zircon và monazite. Tuyển tinh ilmenite thường bằng tuyển từ thấp và
tuyển từ trung. Tuyển tinh zircon và rutile thường sử dụng kết hợp tuyển từ, tuyển
điện và bàn đãi khí hoặc bàn đãi nước. Để đạt quặng zircon trên 65% ZrO
2
thường
Dây chuyền thiết bị tuyển là dây chuyền bán tự động bao gồm các thiết bị chủ yếu
như: hệ thống bàn đãi nước tuyển trọng lực; máy sấy; hệ thống băng tải, gầu tải
quặng; hệ thống máy tuyển từ; hệ thống tuyển tĩnh điện; hệ thống bàn đãi và hệ
thống máy đóng gói sản phẩm, v.v. Các chủng loại thiết bị dùng trong công nghệ
tuyển chủ yếu được nghiên cứu và chế tạo trong nước. Ngoài ra một số cơ sở khai
thác và chế biến cũng đã từng bước tự chế tạo một số thiết bị cho cơ sở mình và bán
cho các cơ sở bạn. Một số doanh nghiệp nhập công nghệ và thiết bị toàn bộ hoặc
đơn lẻ của nước ngoài.
Hình 3. Sơ đồ công nghệ tuyển quặng titan sa khoáng
Quặng nguyên khai
Bàn Đãi
Tuyển từ 7A
Cát thải
Tinh quặng
Tuyển điện lần 1
Tuyển điện lần 2
Tuyển đãi zircon
Cát thải
Tinh quặng zircon
Tinh quặng rutin
Cát thải
Vít đứng
Tổng cát thải
Quặng thải
Tinh quặng ilmenit
Tuyển từ 6A
13
I.4.3. Mối quan hệ giữa thiết bị - công nghệ và môi trường
Đối với công nghệ - thiết bị khai thác cơ giới: một số nơi áp dụng hệ thống khai
thác vận tải sức nước làm giảm chi phí vận tải và giảm tác động ô nhiễm môi
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
VÀ HOÀN THỔ PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG
II.1. Hiện trạng môi trường
Quá trình khai thác và chế biến sa khoáng titan ven biển nói chung đều có tác động
đến các thành phần môi trường: đất, nước, không khí, sinh thái-cảnh quan và kinh
tế-xã hội của khu vực. Việc khai thác và chế biến sa khoáng ven biển trước đây và
hiện tại gây nên những tác động môi trường đáng kể. Môi trường các khu vực khai
thác đó bị suy thoái và ô nhiễm, nhiều nơi ở mức độ nghiêm trọng [2, 3].
II.1.1 Môi trường sinh thái - cảnh quan
Khu vực đất đai được cấp cho khai thác và tận thu sa khoáng titan thường là các vùng đất
cát bãi bồi, cồn cát ven biển, trước đây chủ yếu sử dụng để trồng màu, trồng rừng phòng
hộ chắn gió cát có độ tuổi từ 10-20 năm và một phần là diện tích trồng hoa màu và đất
hoang. Quá trình khai thác và tận thu sa khoáng titan đã làm mất nhiều diện tích rừng
phòng hộ, trồng màu và diện tích thảm thực vật, cây bụi và các loài động-thực vật địa
phương. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, diện tích rừng ven biển bị chặt phá ước tính
khoảng trên 30% diện tích đất đang sử dụng cho khai thác, chưa tới kể diện tích rừng bị
xâm lấn và chặt hạ trái phép. Địa phương có rừng bị tác động nhiều nhất gồm Quảng Trị,
Thừa thiên-Huế, Quảng Nam, Bình Định, Bình Thuận [3].
Quá trình khai thác và tận thu sa khoáng còn làm xuất hiện các hiện tượng như biến
dạng đường bờ biển; sạt lở bờ moong và bờ biển; cát bay lấn vào đất liền hay sụt
lún các trảng cát, v.v. Ở một số nơi như Thanh Hóa, nhiều cơ sở khai thác trái phép
đào các hố cát tự do để lấy quặng, cát thải đổ tràn lan xung quanh gây ảnh hưởng
tới cảnh quan khu vực cồn cát ven biển (Hình 4). Việc đào bới để khai thác và tận
thu sa khoáng ở các khu du lịch tác động xấu tới môi trường cảnh quan - sinh thái
các khu vực này [2, 3].
Hình 4. Quá trình khai thác tác động xấu tới
cảnh quan khu vực cồn cát ven biển
15
II.1.2 Môi trường đất
3790
2760
1610
-
KXC3
11/2008
691
366
6020
2370
1300
676
-
480
KXC4
11/2008
1320
143
5120
4420
2240
1090
-
19
KXR5
11/2008
902
-
16500
2510
50-
100
200-
300
70-
300
kqd
Ghi chú:
(-): không phát hiện được
kqd: không quy định
KKnk: Mẫu quặng nguyên khai ở khu vực khai thác thác mỏ Kỳ Khang-Công ty Cổ phần
Phát triển Khoáng sản 4 (Cty CPPTKS4), tọa độ lấy mẫu (N 18
0
10
’
311; E
106
0
16
’
940).
KXC3: Mẫu cát thải sau tuyển thô và sau khi đã tuyển tận thu sử dụng để hoàn thổ cho khu
vực khai thác mỏ Kỳ Xuân (Cty CPPTKS4), tọa độ lấy mẫu (N 18
0
14
’
715; E
106
0
11
’
435)
KXQ8: Mẫu cát quặng trước khi tuyển thô ở khu vực khai thác mỏ Kỳ Xuân, tọa độ lấy
mẫu (N 18
0
13
’
433; E 106
0
10
’
863)
17
II.1.3 Môi trường nước
Quá trình khai thác, tận thu quặng sa khoáng (bằng sức nước) và tuyển khoáng sử
dụng một khối lượng lớn nước. Nguồn nước cấp cho sản xuất chủ yếu sử dụng
nguồn nước ngọt khai thác tại chỗ ở tầng nước ngầm trong các cồn cát. Do vậy quá
trình khai thác sa khoáng đã làm suy giảm trữ lượng tài nguyên này và hạ thấp mực
nước ngầm trong các cồn cát. Tại một số mỏ sát ven biển, do việc bơm nước biển
vào moong để khai thác và tuyển quặng gây nhiễm mặn tầng chứa nước ngọt.
Việc khai thác quặng sa khoáng cũng làm xáo trộn lớp đất cát nên làm tăng khả
năng hòa tan, rửa lũa các khoáng vật nặng và kim loại trong nước gây nhiễm xạ và
ô nhiễm nước. Các thiết bị khai thác cũng sử dụng một lượng lớn dầu mỡ công
nghiệp đáng kể cũng làm tăng lượng dầu mỡ hòa tan trong nước thải [2, 3].
Nước thải sau quá trình tuyển thường có khối lượng lớn với độ đục và hàm lượng
cao các chất rắn lơ lửng, Fe cùng một số kim loại nặng độc hại khác như Mn, Cd,
Pb, v.v. (Bảng 2). Nguồn nước này phần lớn được thải trực tiếp ra môi trường xung
quanh, là nguồn gây ô nhiễm cục bộ nguồn ngầm cồn cát và nước mặt là nguồn
nước sinh hoạt của dân địa phương trong khu vực khai thác.
Hình 6. Nước thải của khâu khai thác - tuyển thô xả thẳng ra môi trường
0,3
0,1
0,2
0,02
KAt2 [4]
23/10/07
5,1
136
22
6
1
0,1
0,2
0,03
KAt3 [4]
23/10/07
5,6
156
12
1
5
0,1
0,3
0,02
KAt4 [4]
23/10/07
5,9
146
7
2
0,3
0,2
0,6
0,03
CXt12 [4]
24/10/07
6,1
154
19
1
1
0,1
0,6
0,02
CXt8 [4]
24/10/07
5,5
130
7
13
5
0,1
0,5
0,02
CXt13 [4]
24/10/07
6,2
134
7
11
0,3
0,1
0,6
0,03
TTsw [5]
6/11/07
5,7
346
78
1
SW01 [7]
25/11/08
6,3
1
0,01
0,3
0,1
SW02 [7]
29/11/08
6,7
4
0,03
0,02
0,1
SW03 [7]
29/11/08
7
3
0,03
0,1
5,7-5,8
210-360
16-20
Mkt [1]
4,3-5,5
70-120
1-97
Mng [1]
5-5,5
28-70
0,1-1
Mm [1]
6,7
38-74
0,2-
0,4
TCVN
5945:
2005
5,5-9
100
6
5
1
0,1
0,5
0,01
Chú thích:
KAt1: Nước thải tại ống dẫn nước thải đội khai thác Khe Cọ-xã Kỳ Khang, XN Khoáng
sản Kỳ Anh, Tổng Cty KS TM Hà Tĩnh
01
’
000)
SW04: Nước thải sau tuyển tại khai trường tuyển sa khoáng – mỏ Cẩm Hoà. Toạ độ mẫu
(N 18
0
20
’
059; E 106
0
01
’
350)
SW02: Nước thải tại hồ lắng nước thải tuyển sa khoáng – mỏ Cửa Hội, XN Thanh niên Cửa
Hội, Cửa Lò, Nghệ An. Toạ độ mẫu (N 18
0
20
’
059; E 106
0
01
’
350)
SW03: Nước thải tại hồ lắng nước thải tuyển sa khoáng – mỏ Của Hội. Toạ độ mẫu (N
18
0
20
’
059; E 106
0
11
’
585)
Mxt: Mẫu nước thải từ xưởng tuyển (giá trị trung bình kết quả đo ở một số khu mỏ khai
thác sa khoáng titan ven biển điển hình)
Mkt: Mẫu nước thải từ các moong khai thác (giá trị trung bình)
Mng: Mẫu nước ngầm xung quanh mỏ (giá trị trung bình)
Mm: Mẫu nước mặt tại nguồn tiếp nhận nước thải (giá trị trung bình).
20
II.1.4 Môi trường không khí
Quá trình khai thác và chế biến sa khoáng titan có tác động đáng kể tới chất lượng
môi trường không khí xung quanh khu vực khai thác-chế biến. Kết quả điều tra cho
thấy nồng độ khí thải độc hại, bụi, độ ồn và độ phóng xạ vượt quá tiêu chuẩn cho
phép ở nhiều khu vực khai thác là nguồn ô nhiễm tiềm tàng đến sức khỏe công nhân
và người dân sống xung quanh khu vực.
Khí thải: Đối với các xưởng tuyển dùng than, dầu FO để sấy quặng thì lượng khí
thải độc hại CO, SO
2
, NO
2
cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí [2, 3].
Tuy nhiên theo số liệu thống kê trong giới hạn của Nhiệm vụ này cho thấy hàm
lượng các khí thải độc hại này vẫn nằm trong giới hạn cho phép (Bảng 3).
Bụi: Ô nhiễm do bụi chủ yếu gây ra do quá trình vận chuyển nguyên liệu quặng từ
khai trường về khu vực chế biến và các khâu trong quá trình tuyển. Tại các xưởng
chế biến quặng tập trung, ô nhiễm bụi lớn nhất từ các khâu tuyển điện - tuyển từ.
Theo số liệu tổng hợp ở Bảng 3, nồng độ bụi lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép thải
ra ở nhiều khu vực chế biến titan.
Tiếng ồn: Nguyên nhân gây ồn chủ yếu do quá trình vận chuyển quặng bằng xe tải
từ khai trường về khu vực chế biến chạy qua khu dân cư. Ngoài ra quá trình vận
3
Phóng
xạ,
µSv/h
CXk1 [6]
23/10/07
86 - 106
0,4
1050
430
490
1
CXk2 [6]
23/10/07
85 - 107
0,5
1120
490
440
3
CXk3 [6]
23/10/07
84 - 104
0,5
1060
525
470
1
CXk4 [6]
24/10/07
CXk8 [6]
24/10/07
84 - 105
0,4
970
410
390
1
CXk9 [6]
24/10/07
74 - 98
0,4
940
385
370
1
KAk1 [6]
23/10/07
74 - 86
0,2
840
410
350
1
KAk2 [6]
23/10/07
71 - 94
0,3
820
470
KPB7 [5]
11/12/07
78 - 80
20
K7 [5]
11/12/07
90 - 94
0,3
4
K8 [5]
11/12/07
89 - 91
0,6
2
K9 [5]
3/12/07
94 - 96
0,3
4
K10 [5]
3/12/07
91 - 93
0,4
2
K11 [5]
3/12/07
92
0.4
2
K12 [5]
(1)
0,3
(2)
1500
(3)
1000
(3)
1000
(3)
<12
(4)
22
Chú thích:
(1) TCVN 3985: 1999: Âm học - Mức ồn cho phép tại các vị trí làm việc
(2) TCVN 5937-2005: Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung
quanh.
(3) TCVN 5939-2005, cột A: Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối
với bụi và các chất vô cơ - cột A áp dụng cho các nhà máy, cơ sở đang hoạt động.
(4) TCVN 4397-87: Quy phạm bức xạ an toàn ion hóa
CXk1: Mẫu không khí tại khu vực nhà máy tuyển (Xí nghiệp Khoáng sản Cẩm Xuyên)
Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường (Sở TN & MT Hà Tĩnh)- TCT KS &
TM Hà Tĩnh.
CXk2: Mẫu không khí tại Xí nghiệp Zircon Cẩm Xuyên)
CXk3: Mẫu không khí tại xưởng tuyển tinh (Xí nghiệp Khoáng sản Thạch Hà)
CXk4: Mẫu không khí tại khu vực vít tuyển (Đội Khai thác Nam Hòa), – Trung tâm Quan
trắc và Kỹ thuật Môi trường (Sở TN & MT Hà Tĩnh)- TCT KS & TM Hà Tĩnh.
CXk5: Mẫu không khí tại khu vực cụm vít tuyển (Đội khai thác Đồng Nôi)
CXk6: Mẫu không khí tại khu vực vít tuyển (Đội khai thác Nam Hưng).
CXk7: Mẫu không khí tại khu vực vít tuyển (Đội khai thác Thạch Văn)
CXk8: Mẫu không khí tại khu vực nhà máy tuyển quặng
Khoáng sản Thừa thiên-Huế
K15: Mẫu không khí tại khu vực vít tuyển 2 – mỏ Lộc Vĩnh- Công ty TNHH NNMTV
Khoáng sản Thừa thiên-Huế
K16: Mẫu không khí tại khu vực vít tuyển 4 – mỏ Lộc Vĩnh- Công ty TNHH NNMTV
Khoáng sản Thừa thiên-Huế
K17: Đo tại kho chứa quặng monazite Xưởng tuyển Phú Lộc- Công ty TNHH NNMTV
Khoáng sản Thừa thiên-Huế
II.1.5 Môi trường kinh tế-xã hội
Các hoạt động sản xuất sa khoáng titan giúp tạo công ăn việc làm cho người dân địa
phương, tăng thêm thu nhập làm cuộc sống của dân phần nào được cải thiện. Tuy
nhiên, các hoạt động sản xuất như vận chuyển quặng gây xuống cấp đường giao
thông nông thôn, đặc biệt ở khu vực có sản lượng khai thác lớn và vị trí mỏ nằm xa
khu chế biến quặng. Quá trình sản xuất sa khoáng cũng gây phá vỡ quy hoạch sử
dụng đất của địa phương và quy hoạch chung của nhà nước về khai thác sử dụng tài
nguyên khoáng sản ven biển. Ngoài ra, quá trình khai thác còn gây ra các tranh chấp
về sản xuất, thị trường và về sử dụng đất giữa các doanh nghiệp khai thác và giữa
doanh nghiệp với địa phương, cộng đồng dân cư: như quy hoạch chồng chéo giữa dự
án khu du lịch và khai thác titan, quy hoạch khai thác lấn chiếm cả vào diện tích đất
nhà ở của dân, hay hành lang an toàn tuyến đường giao thông, khu vực quân sự, v.v.
Việc khai thác không có quy hoạch và không tuân thủ theo pháp luật còn gây ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư và công nhân mỏ như ảnh hưởng của cát
bay; khói thải độc hại và bụi từ khu vực tuyển tinh và từ đường giao thông vận
chuyển quặng; ảnh hưởng của độ phóng xạ cao ở gần kho bãi chứa quặng và trong
nguồn nước sinh hoạt, v.v.