XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM Ở VIỆT NAM - Pdf 23



Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng
---------o0o--------- Công trình tham dự Cuộc thi
“Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2009” Tên công trình: “XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY ĐỊNH MỨC TÍN
NHIỆM Ở VIỆT NAM”
Thuộc nhóm ngành:1a.
Họ và tên sinh viên:Cao Thanh Tâm. Nam/nữ: Nam. Dân tộc:Kinh
Lớp:Anh 2 Khoá:45 Khoa:Tài Chính Ngân Hàng.
Họ và tên ngƣời hƣớng dẫn :TS. Nguyễn Việt Dũng.
CHƢƠNG 3 .................................................................................................. 66
3.1. Mở rộng và phát triển thị trƣờng nợ ...................................................................... 66
3.2. Xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động tổ chức tín nhiệm ................ 70
3.2.1 Những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng khung pháp lý .................................. 71
3.2.3 Ban hành Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức định
mức tín nhiệm: .......................................................................................................... 73
3.2.4 Đồng bộ hóa các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của tổ chức định
mức tín nhiệm: .......................................................................................................... 74
3.2.5 Một số nội dung quan trọng cần xem xét khi xây dựng khung pháp lý cho việc
hình thành và hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm ........................................ 76
3.2.6 Việc đánh giá xếp hạng doanh nghiệp ( company ratting ) là bắt buộc đối với
DNNN có qui mô vốn lớn : ....................................................................................... 77
3.2.7 Những doanh nghiệp kinh doanh có lãi chuẩn bị cổ phần hoá hoặc đã cổ phần
hoá thuộc đối tƣợng phải thực hiện bán cổ phần nhà nƣớc tại thị trƣờng chứng khoán
thì phải tiến hành định mức tín nhiệm : .................................................................... 78
3.3 Tăng cƣờng tiếp cận với các tổ chức tín nhiệm uy tín trên thế giới và đào tạo phát
triển nguồn nhân lực ..................................................................................................... 78
3.3.1 Hợp tác quốc tế trong việc thành lập tổ chức định mức tín nhiệm .................. 79
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực ................................................................................... 80
3.4 Tạo điều kiện, khuyến khích thành lập công ty định mức tín nhiệm ...................... 81 3

3.4.1 Tăng cƣờng nhận thức về xếp hạng tín nhiệm ................................................. 81
3.4.2 Hình thành tập quán sử dụng định mức tín nhiệm ........................................... 81
3.4.3 Những doanh nghiệp tham gia định mức tín nhiệm và đạt kết quả khá phải
đƣợc ƣu tiên : ............................................................................................................ 83
3.4.4 Việc trao các giải thƣởng lớn của nhà nƣớc cho các doanh nghiệp thì phải qui
định doanh nghiệp đạt mức độ tín nhiệm theo thứ hạng cụ thể nào đó - Thứ hạng để

4 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thị trƣờng chứng khoán là một kênh huy động vốn lớn có hiệu quả cao, thông
qua đó một lƣợng lớn đƣợc huy động từ các chủ thể trong xã hội góp phần làm
tăng lƣợng cung về vốn đầu tƣ cho nền kinh tế. Một thị trƣờng chứng khoán thực
sự phát triển là thị trƣờng thu hút đƣợc đông đảo công chúng tham gia bên cạnh
các tổ chức đầu tƣ và các trung gian tài chính. Chỉ có nhƣ vậy, thị trƣờng mới thực
sự có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn từ các chủ thể tiết kiệm trong nền
kinh tế chuyển thành đầu tƣ phát triển kinh tế.
Vấn đề đặt ra là làm sao một tổ chức kinh tế có thể chứng minh sức mạnh tài
chính của mình để tiếp cận các luồng vốn từ các kênh của thị trƣờng chứng khoán,
đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của mình với chi phí vay, nợ thấp nhất? Còn đối
với nhà đầu tƣ, làm thế nào để kiểm soát rủi ro các khoản đầu tƣ của chính họ khi
còn có quá nhiều nguy cơ tiềm tàng, mất ổn định của môi trƣờng đầu tƣ.
Trong điều kiện mức độ hiểu biết của công chúng đầu tƣ Việt Nam còn hạn
chế, các kênh cung cấp thông tin và đánh giá rủi ro còn rất ít hoặc chƣa có, sự xuất
hiện của công ty định mức tín nhiệm sẽ giúp các nhà đầu tƣ yên tâm hơn khi tiếp
cận với thị trƣờng. Đồng thời việc đánh giá hệ số tín nhiệm doanh nghiệp cũng
giúp doanh nghiệp đó xác định chính xác hơn tình trạng của mình để sử dụng biện
pháp huy động vốn phù hợp với chi phí thấp và không ảnh hƣởng đến kết quả kinh
doanh.

3. Đối tƣợng, pham vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đề cập tới những vấn đề cơ bản về định mức xếp hạng tín dụng và các
CRA trên thế giới, kinh nghiện xây dựng và phát triển các CRA trên thế giới, cơ 6

sở pháp lý và quy định của chính phủ Việt Nam về việc xây dựng và phát triển các
CRA tại Việt Nam
Đề tài đƣợc xây dựng nghiên cứu trên cơ sở chọn lọc, kế thừa một cách có hệ
thống những kinh nghiện quý giá quá trình xây dựng và phát triển các CRA trên
thế giới. Đồng thời cũng nghiên cứu xem xét để áp dụng vào thực tế thị trƣờng
Việt Nam
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm công cụ
chủ đạo để thực hiện đề tài. Kết hợp lý luận, thực tế và các luật định trong nƣớc
cũng nhƣ một số tài liệu nƣớc ngoài nhằm đƣa ra những biện pháp chủ yếu để thiết
lập công ty định giá tín nhiệm ở Việt Nam. Ngoài ra, còn vận dụng các phƣơng
pháp tổng hợp, phân tích so sánh để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên
cứu
Danh mục viết tắt:
CRA: credit rating: tổ chức định mức tín nhiệm
IFC: (International Finance Corporation) Tập đoàn tài chính quốc tế
VAFI: Hiệp hội các nhà đầu tƣ tài chính Việt Nam

hiện ý kiến chuyên gia bên thứ 3 về mức độ rủi ro vỡ nợ gắn liền với thể loại đầu
tƣ đó. Xếp hạng có thể làm tăng hạng hoặc xuống hạng vị thế của một nhà phát
hành, một công cụ tài chính theo khả năng của nó có đáp ứng đƣợc các nghĩa vụ
đối với nhà đầu tƣ hay không. Điều này phụ thuộc thứ nhất là vào khối lƣợng tiền
có sẵn để thanh toán cho các nhà đầu tƣ, và thứ hai là khả năng dễ bị vỡ nợ đến
đâu khi các điều kiện kinh doanh thay đổi.
Xếp hạng tín nhiệm không nêu lên giá thị trƣờng hoặc sự biến động tƣơng lai
của một chứng khoán hay một khoản đầu tƣ nào đó. Do vậy, xếp hạng chỉ đơn
thuần là đƣa ra các ý kiến dựa trên các nhân tố rủi ro chứ không phải là một 8

khuyến nghị để mua, bán, giữ lại một chứng khoán hoặc một khoản đầu tƣ nào đó.
Một sự xếp hạng cao không đồng nghĩa là một khoản đầu tƣ tốt hơn so với một
xếp hạng thấp hơn. Một hệ thống xếp hạng khách quan, theo các công ty định mức
tín nhiệm hàng đầu, là phải cung cấp các đầu vào cần thiết để ra các quyết định
đầu tƣ đúng đắn. Để thực hiện điều này, các nhà đầu tƣ và các nhà cho vay đầu
tiên phải đƣợc thuyết phục về tính an toàn dài hạn của khoản cho vay. Mà điều này
chỉ có thể có đƣợc khi khả năng chi trả tƣơng lai của nhà phát hành đƣợc một công
ty định mức tín nhiệm có uy tín xác nhận
1.1.2 Công ty định mức tín nhiệm và vai trò của nó
1.1.2.1 Công ty định mức tín nhiệm và các vấn đề về định mức tín nhiệm.
a. Công ty định mức tín nhiệm
Các công ty ĐMTN không chỉ đánh giá hàng vạn DN mà còn đánh giá mức độ
tín nhiệm đối với chính phủ các quốc gia trên thế giới. ĐMTN DN thực chất là
việc đánh giá chất lƣợng, mức độ tin cậy, khả năng thanh toán của một công ty
phát hành đối với các công cụ nợ ngắn hạn (nhƣ hối phiếu, tín phiếu, chứng chỉ
tiền gửi), hoặc dài hạn (nhƣ trái phiếu, cổ phần ƣu đãi cổ tức…) dựa trên các yếu
tố rủi ro có liên quan. Phần lớn các công ty lớn niêm yết trên các thị trƣờng đều

toàn cầu vì nhiều nhà đầu tƣ có tổ chức thích những chứng khoán đƣợc định mức
tín nhiệm hơn là những chứng khoán rõ ràng có rủi ro tƣơng tự mà không đƣợc
đánh giá. Thêm vào đó, đánh giá rủi ro của các công ty định mức tín nhiệm về các
khoản nợ bên ngoài có ý nghĩa sống còn bởi vì nhiều nhà đầu tƣ có tổ chức hạn
chế nắm giữ trong danh mục đầu tƣ của họ những trái phiếu chỉ đƣợc xếp hạng
đầu tƣ.
Một định mức tín nhiệm không phải là một lời khuyên mua hoặc bán một
chứng khoán cụ thể nào đó. Ở nhiều quốc gia, điều này có thể là một lƣu ý quan
trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của một tổ chức định mức tín nhiệm
trong trƣờng hợp vỡ nợ, hoặc sự chấm dứt của một công ty hoặc các tổ chức khác 10

phát hành chứng khoán. Để thành công, một tổ chức định mức tín nhiệm phải có
các đặc điểm cơ bản, bao gồm:
Tính tin cậy,
Tính độc lập,
Tính khách quan,
Kỹ thuật thành thạo,
Có đủ các nguồn lực và khả năng tiếp cận các thông tin tin cậy về ngƣời
phát hành chứng khoán.
Một tổ chức định mức tín nhiệm chuyên về dịch vụ đƣa ra ý kiến về độ tin cậy
tín dụng của ngƣời phát hành chứng khoán. Nó là một ý kiến quan trọng về rủi ro
tín dụng, hay là một đánh giá về khả năng của ngƣời phát hành thanh toán nợ gốc
và lãi đúng hạn trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Vì vậy, định mức
tín nhiệm phải là một sự đánh giá trƣớc khả năng của ngƣời phát hành hoàn trả
gốc và lãi đúng hạn. Bởi vì các công cụ của thị trƣờng tiền tệ là ngắn hạn, nên
chúng dễ đánh giá hơn các loại trái phiếu dài hạn. Để trở thành tin cậy và hữu ích
cho nhà đầu tƣ, định mức tín nhiệm phải đƣợc xem là đáng tin cậy và khách quan

triển, mới nổi hay thị trƣờng quốc tế.
b. Các vấn đề về xếp hạng tín nhiệm
i. Định mức tín nhiệm quốc gia
Một điều cũng hết sức quan trọng cần phải hiểu là định mức tín nhiệm quốc gia
ở các nƣớc mới nổi là điều đầu tiên mà phần lớn các nhà đầu tƣ có tổ chức nhắm
tới khi quyết định đầu tƣ tiền vào nƣớc đó. Kết quả định mức tín nhiệm này phản
ánh những yếu tố nhƣ vị thế kinh tế của nƣớc đó, tính minh bạch ở thị trƣờng vốn,
mức độ luồng vốn đầu tƣ của tƣ nhân và khu vực công, đầu tƣ trực tiếp của nƣớc
ngoài, dự trữ ngoại hối, ổn định chính trị, hoặc khả năng giữ vững ổn định kinh tế
của nƣớc đó cho dù có sự thay đổi về chính trị. Định mức tín nhiệm nhiệm quốc
gia của một nƣớc giúp nhà đầu tƣ hiểu đƣợc ngay mức độ rủi ro đi kèm với các
khoản đầu tƣ vào nƣớc đó. Do vậy để thu hút tiền của nƣớc ngoài, phần lớn các
nƣớc đều phải cố gắng đạt đƣợc một mức xếp hạng tín dụng quốc gia và thậm chí
phải phấn đấu hơn nữa để đạt đƣợc thứ hạng đầu tƣ. Trong phần lớn các trƣờng 12

hợp, định mức tín nhiệm quốc gia của một nƣớc là cận trên của định mức tín
nhiệm. Điều này làm tăng thêm nhu cầu tiền phong nhằm đạt đƣợc định mức tín
nhiệm quốc gia tích cực.
ii. Các đối tƣợng đƣợc định mức tín nhiệm.
Một loạt các công cụ tài chính rộng rãi có thể phải chịu sự định mức tín nhiệm
bao gồm các chứng từ thƣơng mại, trái phiếu công ty, các công cụ tài chính có cấu
trúc và cổ phiếu ƣu đãi. Ở hầu hết các quốc gia, định mức tín nhiệm giới hạn đối
với các công cụ thị trƣờng trái phiếu và tiền tệ nhƣng ở một số quốc gia cổ phiếu
thƣờng và cổ phiếu ƣu đãi cũng đƣợc định mức tín nhiệm. Không phải là không
phổ biến đối với các tổ chức nhận tiền gửi, các quỹ đầu tƣ và các tổ chức tài chính
khác nhƣ khả năng chi trả tiền bồi thƣờng của các công ty bảo hiểm cũng đƣợc
định mức. Tính sẵn sàng của định mức tín nhiệm cũng còn đóng góp cho sự phát

nhiệm phát hành các định mức tín nhiệm chính xác trong đó danh tiếng của tổ
chức định mức tín nhiệm rất quan trọng đến sự sống còn lâu dài về mặt kinh tế của
nó. Trong những năm trƣớc đây, các tổ chức định mức tín nhiệm Mỹ thực hiện các
hoạt động định mức tín nhiệm của họ chủ yếu thông qua phí đặt mua đƣợc trả bởi
những ngƣời sử dụng định mức tín nhiệm. Vào cuối những năm 1960, các tổ chức
định mức tín nhiệm Mỹ bắt đầu chuyển sang thu phí những ngƣời phát hành. Về
mặt này, rất quan trọng để chú ý sự sẵn lòng của ngƣời phát hành để trả phí phải là
một hàm số niềm tin của nhà đầu tƣ vào định mức tín nhiệm nhƣ là một tín hiệu
mà tách bạch các chứng khoán về các mức độ rủi ro và cho phép những chứng
khoán có rủi ro thấp hơn thu đƣợc doanh thu phát hành cao hơn – một lợi ích mà
ngƣời phát hành sẵn lòng để trả.
1.1.2.2 Vai trò của định mức tín nhiệm
Trong lịch sử các tổ chức định mức tín nhiệm đƣợc hình thành do có phát sinh
nhu cầu cung cấp thông tin về sự đáng tin cậy, về khả năng trả nợ của nhà phát
hành kỹ năng xử lý thông tin tài chính, và các nhân tố thị trƣờng gắn liền với rủi ro
để ra quyết định đầu tƣ. Dần dần, xếp hạng tín nhiệm đã đƣợc sử dụng một cách
phong phú hơn. Chúng đƣợc các nhà đầu tƣ có tổ chức dung để hỗ trợ thêm cho
các phân tích riêng của họ. Đồng thời các nhà đầu tƣ có tổ chức hoạt động môi 14

trƣờng quốc tế cũng dung cách xếp hạng này để làm công cụ so sánh tƣơng quan
rủi ro giữa các công cụ với nhau . Vai trò của xếp hạng tín nhiệm là:
Thứ nhất, việc xếp hạng tín nhiệm cung cấp những thông tin liên quan đến tổ
chức phát hành. Dựa vào thông tin đó nhà đầu tƣ đánh giá mức độ rủi ro và lợi
nhuận yêu cầu để đƣa ra quyết định đầu tƣ hợp lý;
Thứ hai, việc xác định hệ số tín nhiệm giúp tổ chức phát hành thuận lợi hơn
trong vấn đề huy động vốn với chi phí thấp. Thông qua những chỉ số đánh giá của
tổ chức xếp hạng tín nhiệm đƣa ra, nhà đầu tƣ sẽ có điều kiện tiếp cận với những

thấp. Các tổ chức định mức tín nhiệm đóng vai trò nổi bật tại thị trƣờng vốn của
Mỹ kể từ đầu thế kỷ trƣớc. Hai tổ chức lớn nhất là Moody’s và Standard&Poor’s.
Hiện nay,các tổ chức định mức tín nhiệm hiện đang đóng một vai trò chi phối
ở cả thị trƣờng chứng khoán phát triển và đang nổi. Hơn nữa, vai trò của các tổ
chức định mức tín nhiệm đã phát triển rất nhanh qua suốt thập kỷ qua. Bởi vì rất
quan trọng để phát triển các thị trƣờng trái phiếu và tiền tệ sôi động để đáp ứng
nhu cầu tài trợ trong tƣơng lai, vai trò của nó đƣợc kỳ vọng tiếp tục phát triển
trong những năm tới. Mặc dầu các tổ chức định mức tín nhiệm là thành phần phát
triển quan trọng trong việc phát triển thị trƣờng trái phiếu và tiền tệ sôi động, phải
thừa nhận rằng việc hình thành các tổ chức định mức tín nhiệm ở các quốc gia có
thị trƣờng chứng khoán đang nổi là một hiện tƣợng tƣơng đối gần đây. Ở các thị
trƣờng chứng khoán mới nổi, các tổ chức định mức tín nhiệm có các mức độ thành
công khác nhau chủ yếu phụ thuộc vào sự phát triển của thị trƣờng trái phiếu và
môi trƣờng luật pháp quản lý. Nói chung, các tổ chức định mức tín nhiệm đã thành
công hơn nơi mà sự tự do của các thị trƣờng tài chính đã cho phép các lực lƣợng
thị trƣờng và các quyết định riêng đóng một vai trò lớn hơn trong việc quyết định
sự tiếp cận thị trƣờng vốn. Về môi trƣờng luật pháp quản lý nói chung, các yêu
cầu luật pháp quản lý là một nhân tố quan trọng trong phát triển dịch vụ định mức
tính nhiệm ở cả các thị trƣờng chứng khoán đã phát triển lẫn mới nổi. Ở các thị
trƣờng chứng khoán đã phát triển, định mức tín nhiệm thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ 16

là một công cụ quản lý để quản lý các tiêu chuẩn cẩn trọng đối với các công ty
chứng khoán và các ngân hàng, hoặc chỉ ra các đầu tƣ đƣợc phép cho các nhà đầu
tƣ tổ chức nhƣ là các quỹ hƣu bổng, các công ty bảo hiểm, hoặc các quỹ thị trƣờng
tiền tệ.
Ở các nƣớc có thị trƣờng tài chính phát triển nhƣ Mỹ, Anh, Australia, việc thuê
tổ chức ĐMTN cung cấp dịch vụ đƣợc các DN thực hiện định kỳ nhƣ việc thuê

hội các CRA của châu Á đã đƣợc thiết lập với sự trợ giúp của Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB).
1.3

1.3.1

Định mức tín nhiệm là gồm cả đánh giá định tính và định lƣợng về sức mạnh
tín dụng của ngƣời phát hành. Ngƣời phát hành có thể là các doanh nghiệp, chính
quyền địa phƣơng thậm chí là cả một quốc gia trong trƣờng hợp phát hành nợ của
chính phủ. Ngoài các nhân tố về định tính, nhƣ là chất lƣợng của ban quản trị công
ty, các tiêu chuẩn phân tích bao gồm các tỷ số tài chính chủ yếu nhƣ là tỷ lệ sinh
lời trên vốn hoặc tài sản, hệ số nợ so với vốn, các hệ số về tính thanh khoản, thu
nhập trên chi phí cố định, dòng tiền so với tổng nợ. Định mức đƣợc biển hiện dƣới
hình thức các ký hiệu dễ hiểu đƣợc thừa nhận bởi nhà đầu tƣ.
Hệ thống chấm điểm là phƣơng pháp lƣợng hóa mức độ rủi ro tín dụng của
khách hàng thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm thống nhất
Việc đánh giá ĐMTN đƣợc thực hiện dựa trên 2 tiêu chí cơ bản là định tính và
định lƣợng, hay còn gọi là 2 mảng phân tích: phân tích kinh doanh và phân tích tài
chính. Các yếu tố định tính đƣợc xem xét theo phƣơng pháp bậc thang 3 bƣớc:
-Tình hình và triển vọng phát triển kinh tế đất nƣớc, các yếu tố rủi ro vĩ mô, chính
sách của nhà nƣớc có ảnh hƣởng đến ngành và công ty. 18

-Đặc điểm của các ngành kinh tế mà công ty đang tham gia; triển vọng phát triển
của ngành đó trong nền kinh tế quốc dân; tác động, ảnh hƣởng của những yếu tố vĩ
mô trong và ngoài nƣớc tới ngành kinh tế; vị trí, thị phần của công ty trong ngành.
-Chính sách quản lý trong sản xuất - kinh doanh, chính sách tài chính, quản lý vốn,
marketing, bán hàng, đặc điểm công nghệ, quy trình sản xuất, khả năng, kinh

toàn cầu.
- Chủ tịch hội đồng xếp hạng: là ngƣời chịu trách nhiệm chính trong việc
xem xét các đánh giá xếp hạng của những thành viên khác, cũng nhƣ trợ
lý giám đốc, ngƣời giám đốc cũng có khả năng đánh giá xếp hạng nhiều
ngành trên toàn cầu.
Kết luận xếp
hạng của
Moody’s
Trƣởng nhóm phân
tích về lĩnh vực ô tô
Chuyên viên
về tài chính
công ty
Chủ tịch Hội
đồng xếp hạng
Chuyên viên về
phân tích thanh
toán L/C và tài
chính cấu trúc
Trợ lý giám đốc
Chuyên gia phụ
trách xếp hạng
Nhật Bản
Các chuyên gia
của Nhật Bản 20

- Các chuyên gia khu vực hay ở nƣớc nguyên xứ: là những nhà phân tích

cộng
Giám đốc phụ
trách ngành
công nghiệp
Giám đốc phụ
trách ngành
công nghệ -
năng lƣợng
Giám đốc phụ
trách định chế
tài chính và
xếp hạng
Giám đốc phụ
trách tài chính
cấu trúc
Phó chủ tịch
HDQT phụ
trách thông tin
xếp hạng công
ty
Bộ phận thông
tin về thị
trƣờng
Giám đốc phụ
trách chi nhánh
nƣớc ngoài
Chi nhánh
của Moody
ở Luân đôn
Chi nhánh

Về phƣơng pháp xếp hạng: tập trung vào ba lĩnh vực: đánh giá môi trƣờng
ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, ngoài ba lĩnh vực nói trên, các tổ chức định mức tín nhiệm tại Mỹ
còn đánh giá xếp hạng một lĩnh vực thứ tƣ, đó là khả năng quản lý của các công
ty. Việc đánh giá và xếp hạng chất lƣợng quản lý chủ yếu dành cho các nhóm đối
tƣợng sau: các công ty quản lý tài sản ( bao gồm tài sản của khách hàng cá nhân
cũng nhƣ các cổ chức đầu tƣ); các ngân hàng lƣu kí( đảm nhận chức năng lƣu giữ
và xử lý chứng khoán của khách hàng)l; các công ty cung cấp dịch vụ quản lý(
gồm các dịch vụ định giá và ghi chép vào sổ sách ké toán các hoạt động phát sinh 23

liên quan đến chứng khoán và tiền của khách hàng). Việc đánh giá chất lƣợng
quản lý tập trung và việc xem xét cơ cấu tổ chức của công ty, các đặc điểm trong
hoạt động quản lý, phƣơng pháp kiểm soát rủi ro, hệ thống công nghệ thông tin,
quy trình quản lý và kiểm soát nội bộ cũng nhƣ chất lƣợng phục vụ khách hàng.
Các hạng Mức của Hệ Số Tín Nhiệm đối với công cụ nợ dài hạn
Chỉ số Tín
Nhiệm
theo S&P
Chỉ số Tín
Nhiệm
theo
Moody's
Diễn giải Phân loại
AAA Aaa
Chất luợng cao nhất, ổn
định, độ rủi ro thấp nhất
Trái phiếu có

cao, có nguy cơ không
thanh toán đúng hạn
Trái phiếu
không nên đầu

CCC Caa
Rủi ro cao, chỉ có khả
năng trả nợ nếu tình hình
kinh tế khả quan.
CC Ca
Rủi ro rất cao, rất gần
phá sản,
C C
Rủi ro rất cao, khó có
khả năng thực hiện thanh
toán các nghĩa vụ nợ
D
Xếp hạng thấp nhất, đã
phá sản hay hầu nhƣ sẽ
phá sản
NR NR
Không đánh giá Đối với chỉ số Moody's, ngoài những xếp hạng cơ bản trên, hệ số 1, 2, 3 còn dùng
để chia nhỏ một xếp hạng cơ bản ra làm 3 loại, trong đó 1 là cao nhất trong hạng
đó, 2 là trung bình, 3 là thấp nhất, ví dụ: Aa1, Aa2, Aa3. Còn đối với chỉ số S&P,
+ hay - đƣợc dùng để chia nhỏ xếp hạng. trong đó + là cao nhất trong hạng đó,
không dấu là trung bình, - là thấp nhất; ví dụ: AA+, AA, AA-
Phƣơng pháp sử dụng chỉ số Z để ƣớc tính hệ số Tín Nhiệm của Moody’s

Trích đoạn Một số nội dung quan trọng cần xem xét khi xây dựng khung pháp lý cho việc Hợp tác quốc tế trong việc thành lập tổ chức định mức tín nhiệm Tạo điều kiện, khuyến khích thành lập công ty định mức tín nhiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status