Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam
đã đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh chóng, đóng góp đáng kể cho việc giảm
thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội; cải thiện môi trờng
đầu t; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc, thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội. Nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó là sự xuất hiện và
lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế: doanh
nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài. Tuy nhiên, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
xã hội dẫn đến nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong phú và các sản
phẩm bảo hiểm hiện có trên thị trờng vẫn cha đáp ứng đợc hay đáp ứng không
hiệu quả nhu cầu của ngời dân. Chẳng hạn nh nhu cầu bảo hiểm cho những rủi
ro mang tính đặc thù nh: nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, thiên tai,
hoạt động hành nghề y dợc, luật s, đánh bắt cá xa bờ, Nguyên nhân của tình
trạng trên là do tính chất đặc thù của những rủi ro này mà trên thực tế các loại
hình doanh nghiệp bảo hiểm hiện tại khó đáp ứng đợc. Điều ny có thể phn
no khắc phục đợc thụng qua loại hình doanh nghiệp bảo hiểm tơng hỗ, một loại
hình bảo hiểm mang tính chất tơng trợ nhau mà thành viên vừa là bên bảo hiểm,
vừa là bên mua bảo hiểm. Việc phát triển hoạt động bảo hiểm tơng hỗ đóng một
vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển thị trờng bảo hiểm ở các nớc phát
triển và các nớc đang phát triển. Xuất phát từ thực tế đó và tình hình hoạt động
kinh doanh bảo hiểm trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam, em ó chọn đề tài: H-
ớng xây dựng mô hình công ty bảo hiểm tơng hỗ ở Việt Nam.
1
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đợc chia
thành 3 chơng:
Ch ơng I : Một số vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm và doanh
nghiệp bảo hiểm tơng hỗ.
Ch ơng II: Sự cần thiết phải xây dựng công ty bảo hiểm tơng hỗ ở Việt
Nam.
Ch ơng III: Một số kiến nghị nhằm xây dựng thành công mô hình công
đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của bên mua bảo
hiểm, trên cơ sở bên mua đống phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm
3
cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho bên mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra.
Mục đích kinh tế của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, chỉ có
thu đợc lợi nhuận doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể tồn tại và phát triển đợc
trong điều kiện kinh tế thị trờng. Lợi nhuận giúp doanh nghiệp trang trải cho các
cá nhân và tổ chức cung cấp vốn cho họ. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể thu
hút đợc nguồn vốn của các nhà đầu t khác nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh
nghiệp bằng hoặc cao hơn loại hình đầu t của họ trên thị trờng. Mức lợi nhuận
cao còn giúp doanh nghiệp duy trì đợc nguồn quỹ dự phòng đủ lớn, hạn chế sự
chuyển nhợng tái bảo hiểm và có điều kiện để nâng cao mức thu nhập cho cán
bộ nhân viên. Bên cạnh mục tiêu chính là lợi nhuận, kinh doanh bảo hiểm còn
phải đáp ứng đợc các nhu cầu của khách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng ổn
định cuộc sống và sản xuất kinh doanh khi không may tổn thất, thiệt hại xảy ra
đối với họ, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc. Doanh nghiệp
bảo hiểm cũng giống nh các tổ chức khác trong xã hội rất mong muốn tạo dựng
một xã hội an toàn và ổn định góp phần làm cho xã hội thịnh vợng và phồn vinh.
Điều đó thể hiện ở mục đích và những mong muốn giảm bớt và phòng tránh các
tổn thất về ngời và tài sản cho xã hội. Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn
đóng góp vào quỹ do các tổ chức y tế giáo dục, các tổ chức xã hội khác và hình
thành các chơng trình phúc lợi cho các cán bộ, công nhân viên của bản thân
doanh nghiệp.
Thực chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời
chấp nhận trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng cho bên tham gia khi có các sự kiện
bảo hiểm xảy ra. Đổi lại doanh nghiệp sẽ thu đợc phí bảo hiểm để hình thành
quỹ dự trữ, bồi thờng, trang trải các khoản chi khác có liên quan và có lãi. Tuy
4
là những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của con ngời.
Mỗi đối tợng bảo hiểm bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể. Mỗi nghiệp vụ
là một hoạt động kinh doanh dới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo
hiểm ra thị trờng và thu về phí bảo hiểm. Phí đó đợc tính toán trên cơ sở khoa
học đảm bảo thu bù chi làm nghĩa vụ đối với Nhà nớc và có lãi cho doanh
nghiệp.
Với số lớn các nghiệp vụ (quy luật số lớn phát huy) thì luôn đảm bảo đẳng
thức:
Với sự đa dạng đối tợng bảo hiểm, quy luật số lớn trong kinh doanh bảo
hiểm càng phát huy tác dụng; do đó, mục đích lợi nhuận sẽ đạt đợc.
1.2.2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn pháp định lớn
Nguồn vốn doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu
đợc, lãi đầu t v.v...Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo nh mức vốn pháp định do
luật quy định (công ty BHNT 140 tỷ VND, công ty bảo hiểm phi nhân thọ 70 tỷ
VND). Vốn pháp định lớn nh vậy là do đặc thù kinh doanh bảo hiểm - kinh
doanh rủi ro.
1.2.3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp
vụ bảo hiểm - là nguồn vốn đầu t sinh lời
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ
phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ (hoặc hợp đồng bảo hiểm đối với bảo hiểm
nhân thọ) đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp.
6
Phí
thu
=
Chi hoạt động
kinh doanh
+
Nộp
thuế
sau khi đã trừ đi hai loại dự phòng nghiệp vụ trên không đủ để trả tiền bồi
thờng thuộc phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Các dự phòng nghiệp vụ trên là nguồn vốn để đầu t sinh lời nhất là dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ vừa có nguồn vốn lớn vừa dài hạn.
1.2.4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hot động
đầu t
Hoạt động đầu t là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Hoạt động đầu t vừa góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng
quy mô của doanh nghiệp; tăng quỹ phúc lợi, vừa tăng thu nhập cho ngời lao
động; vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn đầu t phát triển gồm có vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc và tự
nguyện, các khoản lãi của những năm trớc cha sử dụng, vốn nhàn rỗi từ DPNV
bảo hiểm.
1.2.5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của
pháp luật và các điều ớc quốc tế có liên quan
Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ
quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, các quy đinh khác của pháp luật có liên
quan và các điều ớc quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Tuân thủ pháp luật cũng nh các điều ớc quốc tế nhằm đảm bảo kinh doanh
đúng hớng, đạt hiệu quả cao, đảm bảo lợi ích của ngời tham gia, doanh nghiệp
bảo hiểm và Nhà nớc.
II. các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
8
Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp đợc thành lập, tổ chức và hoạt
động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của
pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm.
Nếu kinh tế thị trờng là nền kinh tế đa dạng, phang phú các hoạt động kinh
tế - xã hội. Trong nền kinh tế đó có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Vì vậy,
các tổ chức kinh tế cũng phù hợp với thành phần kinh tế đó. Cụ thể trong thị tr-
ờng bảo hiểm thòng bao gồm các hình thức tổ chức nh sau:
dầu khí.
2.2. Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp do các cổ đông tham
gia đóng góp vốn thông qua hình thức phàt hành cổ phiếu, trái phiếu và có trách
nhiệm hữu hạn. Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi, cùng
chịu lỗ tơng ứng với số vốn góp.
ở Việt Nam hiện nay có 5 công ty cổ phần bảo hiểm là:
- Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) thành lập 11/7/1995,
vốn điều lệ 22 tỷ đồng , kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ; có văn phòng đại
diện khắp các địa phơng
- Công ty cổ phần Petrolimex (PJICO) thành lập 21/6/1996, vốn điều lệ 55
tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, có văn phòng đại diện khắp các
địa phơng.
- Công ty cổ phần bảo hiểm Bu điện (PTI) thành lập cuối năm 1998, vốn
điều lệ 30 tỷ đồng.
- Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) thành lập ngày
28/11/1994, có vốn điều lệ là 45 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ;
10
có mạng lới văn phòng đại lý khắp nớc Ngy 31/08/2004 Bo Minh ó cú
quyt nh chuyn thnh cụng ty c phn bo him. K t ngy 1/10/2004,
cụng ty c phn Bo Minh chớnh thc hot ng trờn th trng Bo him
- Công ty Tái bảo hiểm quốc gia (VINARE) đợc thành lập ngày 27/9/1994,
với vốn điều lệ là 40 tỷ đồng. Chức năng của VINARE là kinh doanh tái bảo
hiểm đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nớc và nớc ngoài. Đây là công
ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam. Theo Quy nh s
2299/Q-BTC ngy 21/7/2004 ca B Ti chớnh phờ duyt ỏn c phn
hoỏ ca VI IARE. Tng cụng ty c phn Tỏi bo him Quc gia Vit Nam
chớnh thc hot ng t ngy 01/01/2005.
2.3. Công ty bảo hiểm t nhân
Công ty bảo hiểm t nhân là công ty bảo hiểm do một cá nhân làm chủ và tự
Việt với tập đoàn môi giới bảo hiểm AON của Mỹ.
- Công ty Liên doanh bảo hiểm Bảo Minh - CMG thành lập tháng
3/2000 với vốn điều lệ 10.000.000 USD. Bảo Minh - CMG là công ty liên
doanh giữa Bảo Minh với tập đoàn dich vụ tài chính Colonial (Australia).
Bảo Minh - CMG kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
2.6. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài
Đây là các doanh nghiệp bảo hiểm do nớc ngoài đầu t vốn hoạt động tại n-
ớc sở tại, theo luật pháp của nớc sở tại đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ
ở chính quốc.
ở Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ: Chẳng hạn, công ty Prudentail của
12
Anh quốc, công ty AIA của Mỹ, công ty Manulife của Canada v.vCác công ty
này chịu sự chi phối của luật kinh doanh bảo hiểm, luật đầu t, luật doanh nghiệp
và các luật khác có liên quan.
Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm
bao gồm 5 loại theo tính chất sở hữu:
- Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nớc
- Công ty cổ phần bảo hiểm
- Tổ chức bảo hiểm tơnh hỗ
- Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh
- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài.
III. doanh nghiệp bảo hiểm tơng hỗ
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm tơng hỗ
Trên thế giới, các tổ ch7ức tơng hỗ có truyền thống khá lâu đời. Hình
thức hợp tác và tơng hỗ đợc bắt nguồn từ việc những ngời có quan hệ họ hàng,
hàng xóm, những ngời cùng nhóm kết hợp với nhau nhằm bảo vệ bản thân từ
các rủi ro nh cháy, nổ hoặc các tai nạn khác. Những ngời này thành lập một hệ
thống chia sẻ rủi ro giữa một số lợng lớn cá nhân có cùng chung mối đe dọa, rủi
ro. Trong giai đoạn đầu, tính chất tơng hỗ đợc thể hiện thông qua việc các cá
Trong giai on ny, hỡnh thc bo him tng h t ra thụng dng v
cnh tranh vi hỡnh thc cụng ty c phn trong vic cung cp ngun vn da
trờn c s ri ro. Vi c cu tng h, vic bi thng tn tht, thit hi c
14
phân bổ rộng rãi hơn cho nhiều người so với các công ty bảo hiểm cổ phần do
một số ít người làm chủ. Nhờ đó, có thể làm giảm đáng kể rủi ro phát sinh khi
một công ty không thể đáp ứng nghĩa vụ bồi thường (Chẳng hạn, đám cháy
khủng khiếp ở New York năm 1835 đã khiến cho một số công ty bảo hiểm
cháy được tổ chức dưới hình thức công ty bảo hiểm cổ phần bị phá sản). Theo
cách nói hiện nay, các công ty bảo hiểm tương hỗ của thế kỷ 18 thường hoạt
động với chi phí vốn nhỏ hơn và chịu rủi ro ít hơn.
Sự phát triển của các loại hình bảo hiểm tương hỗ cũng đã tạo ra vị thế
đáng kể của loại hình doanh nghiệp này trên thị trường bảo hiểm Mỹ. Từ giữa
những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tương hỗ
đã tăng thị phần của mình trong khi các công ty bảo hiểm cổ phần lại bị giảm
thị phần. Tính đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ
chiếm khoảng 30% tổng số phí bảo hiểm của toàn thị trường. Kể từ đó trở đó,
thị phần bảo hiểm Mỹ được chia theo tỷ lệ 30/70 giữa các công ty bảo hiểm
tương hỗ và các công ty bảo hiểm cổ phần.
Hiện nay, ở Mỹ có khoảng 1.000 công ty bảo hiểm tương hỗ hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tập hợp trong một tổ chức
có tên gọi “Hiệp hội các công ty bảo hiểm tương hỗ liên bang (NAMIC)”,
được thành lập năm 1895. Trong số đó có khoảng 700 công ty bảo hiểm tương
hỗ nông nghiệp, hoạt động chủ yếu trong phạm vi một địa hạt hành chính và
chỉ được phép cung cấp các sản phẩm bảo hiểm có liên quan đến sản xuất
nông nghiệp và phục vụ đời sống sinh hoạt ở nông thôn. Có khoảng 1/2 trong
tổng số thành viên của NAMIC có doanh thu phí bảo hiểm hàng năm dưới 15
triệu USD.
15
Cựng vi s phỏt trin v nhu cu bo him ca nn kinh t trong tng
Mỹ
Anh
Đức
Pháp
giai đoạn 1995-1997
Hình 3: Tỷ lệ chi phí của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ
giai đoạn 1995-1997
Bảng 1: Thị phần và số lợng công ty bảo hiểm tơng hỗ
trong lĩnh vực phi nhân thọ ở một số nớc trên thế giới
Quốc gia
Thị phần bảo hiểm tơng hỗ
(%)
Số lợng công ty bảo hiểm tơng
hỗ
1987 1992 1997 1987 1992 1997
Mỹ
31 35 33 293 427 389
Nhật Bản
4 4 3 2 2 2
Anh
14 14 8 24 25 17
Đức
19 17 16 79 73 67
17
Pháp
40 37 37 113 110 109
Tổng số 24 26 24 511 637 584
Bảng 2: Thị phần và số lợng công ty bảo hiểm tơng hỗ
trong lĩnh vực nhân thọ ở một số nớc trên thế giới
Quốc gia
18
- BHTH l mt hỡnh thc bo him trong ú, mt s ngi cựng nhau
thnh lp mt t chc bo v cho quyn li ca chớnh h; cỏc thnh viờn
cựng nhau lp qu bi thng cho cỏc tn tht hoc chi phớ phỏt sinh.
Trong cỏc t chc ny, mi thnh viờn va l ngi c bo him va l
ngi bo him.
- Cụng ty BHTH l cụng ty thuc quyn s hu ca nhng ngi tham
gia bo him.
- T chc bo him tng h l t chc cú t cỏch phỏp nhõn c
thnh lp kinh doanh bo him nhm tng tr, giỳp ln nhau gia cỏc
thnh viờn. Thnh viờn t chc bo him tng h va l ch s hu va l
bờn mua bo him.
T nhng nh ngha nờu trờn cú th nhn thy cỏc t chc BHTH cú
chung 3 c trng c bn nh sau:
- BHTH l mt loi hỡnh DNBH hot ng vỡ mc tiờu li nhun;
- Cỏc thnh viờn ca t chc BHTH va l ngi bo him va l ngi
tham gia bo him;
- T chc BHTH c thnh lp nhm mc ớch tng tr, giỳp ln
nhau gia cỏc thnh viờn.
3.3. Vai trò, chức năng của bảo hiểm tơng hỗ:
Ngoi cỏc vai trũ, chc nng m cỏc t chc bo him tng h mang
li nh cỏc loi hỡnh bo him thng mi khỏc, vai trũ ca t chc bo him
tng h cũn c th hin trờn cỏc khớa cnh sau:
19
Thứ nhất, khôi phục khả năng tài chính, thúc đẩy sự ổn định tài chính và
giảm bớt các nỗi lo âu về tinh thần của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm
sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bằng cách trả tiền bồi thường cho người bị
thiệt hại hay tổn thất, bảo hiểm tương hỗ đem lại sự ổn định tài chính và ổn
định xã hội, đồng thời góp phần làm giảm bớt sự lo âu về tinh thần cho các cá
nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm trong đời sống hàng ngày cũng như trong
mại”.
Trong khi đó, với tấm lá chắn bảo hiểm (bảo hiểm tương hỗ) các hộ sản
xuất kinh doanh đánh bắt cá xa bờ, nuôi trồng thuỷ hải sản, sản xuất nông
nghiệp,...có thể yên tâm sản xuất.
Thứ tư, là kênh huy động vốn tiết kiệm quan trọng cho đầu tư phát triển,
đồng thời thúc đẩy việc phân bổ một cách có hiệu quả hơn những nguồn vốn,
thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường vốn trong một quốc gia. Thông
qua các nguồn vốn huy động được (phí bảo hiểm), các công ty bảo hiểm tiến
hành đầu tư vào các công trình, dự án hay các công cụ tài chính dưới các dạng
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Thứ năm, là công cụ hữu hiệu để quản lý rủi ro có hiệu quả thông qua
việc định giá, chuyển giao rủi ro, đóng góp quĩ để chi trả cho các tổn thất và
giảm bớt thiệt hại. Các công ty bảo hiểm thực hiện việc định giá sản phẩm
thông qua việc xét nhận bảo hiểm và đầu tư, theo nguyên tắc rủi ro càng lớn
thì phí bảo hiểm càng cao. Các chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý, nhà đầu tư,
chủ nợ và các cổ đông có thể sử dụng những “tín hiệu” thu được từ việc định
21
giá sản phẩm này để đưa ra những quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Nhờ
đó, hiệu quả kinh tế cũng được nâng cao.
Các công ty bảo hiểm cũng cho phép các doanh nghiệp và cá nhân
chuyển giao các tài sản, trách nhiệm, tổn thất thu nhập và các rủi ro khác để
đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ một cách tốt hơn. Ngoài ra, các công
ty bảo hiểm nhân thọ còn giúp các tổ chức và cá nhân chuyển giao các khoản
tiết kiệm của họ sang một hình thức mới với độ thanh khoản cao, an toàn hơn
và mức độ rủi ro thấp hơn. Mặt khác, theo qui luật số lớn, các công ty bảo
hiểm thu phí của số đông người tham gia bảo hiểm để bồi thường cho số ít
những thiệt hại, tổn thất xảy ra. Thông qua hoạt động đầu tư, các công ty bảo
hiểm có thể phân tán rủi ro cho nhiều đối tượng tiếp nhận đầu tư khác nhau và
nhờ đó đa dạng hoá danh mục đầu tư, làm giảm bớt sự không ổn định và dễ đổ
vỡ.
thường khai thác một số loại hình bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm cháy và bão
cho các trang trại và nhà tư nhân tại các thành phố nhỏ. Đối với phương thức
hoạt động này, việc đóng phí được thực hiện theo 2 cách:
C ¸ch thø nhÊt: Công ty bảo hiểm sẽ tạm thu một phần phí bảo hiểm từ
người tham gia bảo hiểm. Sau khi tổn thất xảy ra, hoặc hết hạn hợp đồng, công
ty sẽ tính toán lại và cân đối với số phí đã đóng trước khi quyết định có thu
thêm phí bảo hiểm từ các thành viên hay không.
23
C ¸ch thø hai: Một số công ty BHTH chấp nhận hoàn toàn không thu phí
bảo hiểm khi tham gia vào công ty. Chỉ đến sau khi tổn thất xảy ra, hoặc sau
khi hết hạn hợp đồng, công ty mới tính toán để phân bổ số phí mà các thành
viên phải đóng góp.
Như vậy, trong cả 2 trường hợp, việc chi trả quyền lợi sẽ phụ thuộc vào
việc thu phí bảo hiểm từ các thành viên toàn bộ hoặc một phần sau khi tổn thất
xảy ra. Tuỳ thuộc vào từng hợp đồng cụ thể mà quyền yêu cầu người được
bảo hiểm đóng góp sau khi xảy ra tổn thất có thể chỉ hạn chế trong một số tiền
nhất định hoặc không khống chế về mức tối đa. Một thành viên của công ty
BHTH phí đóng sau nhưng tham gia với mức trách nhiệm không hạn chế sẽ
phải đóng một phần phí bảo hiểm theo tỷ lệ trên tổng số tiền tổn thất và các
chi phí hợp lý, hợp lệ của công ty. Hình thức doanh nghiệp này có nhược điểm
là không đảm bảo sự ổn định và chắc chắn trong hoạt động của công ty cũng
như khả năng thanh toán đến cùng các trách nhiệm về tài sản. Do đó, nó chỉ
thích hợp với giai đoạn đầu của ngành bảo hiểm, còn đến nay, loại công ty
BHTH này đã không còn phổ biến nữa.
b) Nếu căn cứ theo số phí bảo hiểm phải nộp, công ty BHTH bao gồm:
công ty BHTH đầu tư không hạn chế và công ty BHTH đầu tư hạn chế.
- Công ty BHTH đầu tư không hạn chế:
Công ty BHTH đầu tư không hạn chế có thể yêu cầu mỗi người được bảo
hiểm đóng góp một khoản đầu tư bổ sung với số tiền không vượt quá khoản
đầu tư đã đóng trước đó nếu tổn thất và các chi phí hoạt động của công ty cao