Hướng xây dựng mô hình công ty bảo hiểm tương hỗ VN - Pdf 76

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam
đã đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh chóng, đóng góp đáng kể cho việc giảm
thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội; cải thiện môi trờng
đầu t; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc, thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội. Nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó là sự xuất hiện và
lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế: doanh
nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài. Tuy nhiên, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
xã hội dẫn đến nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong phú và các sản
phẩm bảo hiểm hiện có trên thị trờng vẫn cha đáp ứng đợc hay đáp ứng không
hiệu quả nhu cầu của ngời dân. Chẳng hạn nh nhu cầu bảo hiểm cho những rủi
ro mang tính đặc thù nh: nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, thiên tai,
hoạt động hành nghề y dợc, luật s, đánh bắt cá xa bờ, Nguyên nhân của tình
trạng trên là do tính chất đặc thù của những rủi ro này mà trên thực tế các loại
hình doanh nghiệp bảo hiểm hiện tại khó đáp ứng đợc. Điều ny có thể phn
no khắc phục đợc thụng qua loại hình doanh nghiệp bảo hiểm tơng hỗ, một loại
hình bảo hiểm mang tính chất tơng trợ nhau mà thành viên vừa là bên bảo hiểm,
vừa là bên mua bảo hiểm. Việc phát triển hoạt động bảo hiểm tơng hỗ đóng một
vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển thị trờng bảo hiểm ở các nớc phát
triển và các nớc đang phát triển. Xuất phát từ thực tế đó và tình hình hoạt động
kinh doanh bảo hiểm trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam, em ó chọn đề tài: H-
ớng xây dựng mô hình công ty bảo hiểm tơng hỗ ở Việt Nam.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đợc chia
thành 3 chơng:
Ch ơng I : Một số vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm và doanh
nghiệp bảo hiểm tơng hỗ.
Ch ơng II: Sự cần thiết phải xây dựng công ty bảo hiểm tơng hỗ ở Việt

triển mạnh mẽ và đến nay nó đã thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, phổ
biến ở tất cả các nền kinh tế trên thế giới.
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục
đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của bên mua bảo
hiểm, trên cơ sở bên mua đống phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho bên mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra.
Mục đích kinh tế của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, chỉ có
thu đợc lợi nhuận doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể tồn tại và phát triển đợc
trong điều kiện kinh tế thị trờng. Lợi nhuận giúp doanh nghiệp trang trải cho các
cá nhân và tổ chức cung cấp vốn cho họ. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể thu
hút đợc nguồn vốn của các nhà đầu t khác nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh
nghiệp bằng hoặc cao hơn loại hình đầu t của họ trên thị trờng. Mức lợi nhuận
cao còn giúp doanh nghiệp duy trì đợc nguồn quỹ dự phòng đủ lớn, hạn chế sự
chuyển nhợng tái bảo hiểm và có điều kiện để nâng cao mức thu nhập cho cán
bộ nhân viên. Bên cạnh mục tiêu chính là lợi nhuận, kinh doanh bảo hiểm còn
phải đáp ứng đợc các nhu cầu của khách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng ổn
định cuộc sống và sản xuất kinh doanh khi không may tổn thất, thiệt hại xảy ra
đối với họ, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc. Doanh nghiệp
bảo hiểm cũng giống nh các tổ chức khác trong xã hội rất mong muốn tạo dựng
một xã hội an toàn và ổn định góp phần làm cho xã hội thịnh vợng và phồn vinh.
Điều đó thể hiện ở mục đích và những mong muốn giảm bớt và phòng tránh các
tổn thất về ngời và tài sản cho xã hội. Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn
đóng góp vào quỹ do các tổ chức y tế giáo dục, các tổ chức xã hội khác và hình
thành các chơng trình phúc lợi cho các cán bộ, công nhân viên của bản thân
doanh nghiệp.
Thực chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời

đợc bằng tiền và các quyền tài sản.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là bảo hiểm trách nhiệm bồi thờng của ngời
đợc bảo hiểm .
Bảo hiểm con ngời là bảo hiểm tính mạng, sức khoẻ, tai nạn và nói chung
là những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của con ngời.
Mỗi đối tợng bảo hiểm bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể. Mỗi nghiệp vụ
là một hoạt động kinh doanh dới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo
hiểm ra thị trờng và thu về phí bảo hiểm. Phí đó đợc tính toán trên cơ sở khoa
học đảm bảo thu bù chi làm nghĩa vụ đối với Nhà nớc và có lãi cho doanh
nghiệp.
Với số lớn các nghiệp vụ (quy luật số lớn phát huy) thì luôn đảm bảo đẳng
thức:
Với sự
đa dạng đối tợng bảo hiểm, quy luật số lớn trong kinh doanh bảo hiểm càng phát
huy tác dụng; do đó, mục đích lợi nhuận sẽ đạt đợc.
1.2.2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn pháp định lớn
Nguồn vốn doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu
đợc, lãi đầu t v.v...Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo nh mức vốn pháp định do
luật quy định (công ty BHNT 140 tỷ VND, công ty bảo hiểm phi nhân thọ 70 tỷ
VND). Vốn pháp định lớn nh vậy là do đặc thù kinh doanh bảo hiểm - kinh
doanh rủi ro.
1.2.3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp
vụ bảo hiểm - là nguồn vốn đầu t sinh lời
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ
phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ (hoặc hợp đồng bảo hiểm đối với bảo hiểm
nhân thọ) đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp.
6
Phí

bảo hiểm bao gồm:
- Dự phòng phí cha đợc hởng dùng để bồi thờng cho trách nhiệm sẽ
phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm
tiếp theo;
- Dự phòng bồi thờng cho khiếu nại cha đợc giải quyết;
- Dự phòng bồi thờng cho các dao động lớn về tổn thất để bồi thờng
khi có giao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà phí giữ lại
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sau khi đã trừ đi hai loại dự phòng nghiệp vụ trên không đủ để trả tiền bồi
thờng thuộc phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Các dự phòng nghiệp vụ trên là nguồn vốn để đầu t sinh lời nhất là dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ vừa có nguồn vốn lớn vừa dài hạn.
1.2.4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hot động
đầu t
Hoạt động đầu t là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Hoạt động đầu t vừa góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng
quy mô của doanh nghiệp; tăng quỹ phúc lợi, vừa tăng thu nhập cho ngời lao
động; vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn đầu t phát triển gồm có vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc và tự
nguyện, các khoản lãi của những năm trớc cha sử dụng, vốn nhàn rỗi từ DPNV
bảo hiểm.
1.2.5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của
pháp luật và các điều ớc quốc tế có liên quan
Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ
quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, các quy đinh khác của pháp luật có liên
quan và các điều ớc quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Tuân thủ pháp luật cũng nh các điều ớc quốc tế nhằm đảm bảo kinh doanh
đúng hớng, đạt hiệu quả cao, đảm bảo lợi ích của ngời tham gia, doanh nghiệp
bảo hiểm và Nhà nớc.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đợc thành lập ngày
17/12/1964, vốn điều lệ khi thành lập lại (vào tháng 3/1996) là 629 tỷ đồng và
đợc xếp hạng đặc biệt theo Quyết định số 745/TTg của Thủ tớng chính phủ. Bảo
Việt kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ có hệ thống các
công ty thành viên khắp các tỉnh thành trong cả nớc; có quan hệ với nhiều công
ty bảo hiểm các nớc trên thế giới v. v
Công ty Bảo hiểm Dầu khí (PVIC) - Công ty bảo hiểm ngành trong tổng
công ty lớn - Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đợc thành lập ngày 23/1/1996, với
vốn điều lệ là 22 tỷ đồng. PVIC kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và đợc phép
thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc với tất cả cán bộ công nhân viên trong ngành
dầu khí.
2.2. Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp do các cổ đông tham
gia đóng góp vốn thông qua hình thức phàt hành cổ phiếu, trái phiếu và có trách
nhiệm hữu hạn. Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi, cùng
chịu lỗ tơng ứng với số vốn góp.
ở Việt Nam hiện nay có 5 công ty cổ phần bảo hiểm là:
- Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) thành lập 11/7/1995,
vốn điều lệ 22 tỷ đồng , kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ; có văn phòng đại
diện khắp các địa phơng
- Công ty cổ phần Petrolimex (PJICO) thành lập 21/6/1996, vốn điều lệ 55
tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, có văn phòng đại diện khắp các
địa phơng.
- Công ty cổ phần bảo hiểm Bu điện (PTI) thành lập cuối năm 1998, vốn
điều lệ 30 tỷ đồng.
- Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) thành lập ngày
28/11/1994, có vốn điều lệ là 45 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ;
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam (V.I.A) thành lập ngày
05/8/1996, vốn điều lệ 6 triệu USD. VIA là công ty liên doanh giữa Bảo Việt với
công ty Tokio Marine and Fire Insurance Co.Ltd của Nhật Bản và công ty
Commercial Union của Anh. V.I.A kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân
thọ, chủ yếu đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
- Công ty bảo hiểm Liên hiệp (U.I.C) thành lập ngày 01/11/1997, vốn điều
lệ 6 triệu USD. U.I.C là công ty liên doanh giữa công ty Bảo hiểm thành phố Hồ
Chí Minh - Bảo Minh với công ty Ysuda Fire and Marine Insurance Co. Ltd của
Nhật Bản. Lĩnh vực kinh doanh là bảo hiểm phi nhân thọ.
- Công ty Liên doanh môi giới bảo hiểm Aon-Inchinbrok thành lập năm
1993, vốn điều lệ là 250.000 USD. Đây là công ty liên doanh giữa Bảo Việt với
tập đoàn môi giới bảo hiểm AON của Mỹ.
- Công ty Liên doanh bảo hiểm Bảo Minh - CMG thành lập tháng 3/2000
với vốn điều lệ 10.000.000 USD. Bảo Minh - CMG là công ty liên doanh giữa
Bảo Minh với tập đoàn dich vụ tài chính Colonial (Australia). Bảo Minh - CMG
kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
2.6. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài
Đây là các doanh nghiệp bảo hiểm do nớc ngoài đầu t vốn hoạt động tại n-
ớc sở tại, theo luật pháp của nớc sở tại đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ
ở chính quốc.
ở Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ: Chẳng hạn, công ty Prudentail của
Anh quốc, công ty AIA của Mỹ, công ty Manulife của Canada v.vCác công ty
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
này chịu sự chi phối của luật kinh doanh bảo hiểm, luật đầu t, luật doanh nghiệp
và các luật khác có liên quan.
Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm
bao gồm 5 loại theo tính chất sở hữu:
- Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nớc

khi mua lại công ty bảo hiểm GAN tháng 7-1998, Groupama đã trở thành
công ty bảo hiểm tổng hợp lớn thứ hai của thị trường Pháp và đứng đầu châu
Âu về bảo hiểm nông nghiệp.
Tại Mỹ, công ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên ở Mỹ được thành lập tại
thành phố Philadenphia (bang Pennsylvania) năm 1784 để kinh doanh bảo
hiểm cháy. Khi mới thành lập, các công ty bảo hiểm tương hỗ có nguồn gốc từ
các hợp tác xã và được tổ chức trên cơ sở các cộng đồng dân cư địa phương.
Cho đến trước khi cuộc công nghiệp hoá và thành thị hoá nông thôn diễn
ra mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ 19, nhu cầu của công chúng đối với bảo
hiểm nhân thọ ở Mỹ còn thấp. Công ty bảo hiểm nhân thọ tương hỗ đầu tiên -
Công ty bảo hiểm nhân thọ tương hỗ New York bắt đầu hoạt động năm 1842
và sau đó là một số công ty khác trong đó đáng chú ý là công ty bảo hiểm
New York Life được thành lập năm 1845.
Trong giai đoạn này, hình thức bảo hiểm tương hỗ tỏ ra thông dụng và
cạnh tranh với hình thức công ty cổ phần trong việc cung cấp nguồn vốn dựa
trên cơ sở rủi ro. Với cơ cấu tương hỗ, việc bồi thường tổn thất, thiệt hại được
phân bổ rộng rãi hơn cho nhiều người so với các công ty bảo hiểm cổ phần do
một số ít người làm chủ. Nhờ đó, có thể làm giảm đáng kể rủi ro phát sinh khi
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một công ty không thể đáp ứng nghĩa vụ bồi thường (Chẳng hạn, đám cháy
khủng khiếp ở New York năm 1835 đã khiến cho một số công ty bảo hiểm
cháy được tổ chức dưới hình thức công ty bảo hiểm cổ phần bị phá sản). Theo
cách nói hiện nay, các công ty bảo hiểm tương hỗ của thế kỷ 18 thường hoạt
động với chi phí vốn nhỏ hơn và chịu rủi ro ít hơn.
Sự phát triển của các loại hình bảo hiểm tương hỗ cũng đã tạo ra vị thế
đáng kể của loại hình doanh nghiệp này trên thị trường bảo hiểm Mỹ. Từ giữa
những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tương hỗ
đã tăng thị phần của mình trong khi các công ty bảo hiểm cổ phần lại bị giảm
thị phần. Tính đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ

công ty bảo hiểm tơng hỗ hoạt động có hiệu quả tơng tự nh các công ty bảo
hiểm cổ phần khác.
Hình 2: Khả năng thanh toán của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ
giai đoạn 1995-1997
16
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Phỏp c M
Tng h C phn
72%
34.50%
24.50%
22%
15%
42%
0%
20%
40% 60% 80%
Thị phần tại 5 nước
Nhật
Mỹ

30
40
50
60
70
80
90
Phỏp c M
Tng h C phn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong lĩnh vực nhân thọ ở một số nớc trên thế giới
Quốc gia
Thị phần bảo hiểm tơng hỗ
(%)
Số lợng công ty bảo hiểm t-
ơng hỗ
1987 1992 1997 1987 1992 1997
Mỹ
40 41 35 125 109 100
Nhật Bản
93 91 89 16 16 15
Anh
46 48 33 58 57 47
Đức
31 27 26 66 61 53
Pháp
10 8 5 17 16 17
Tổng số 57 57 52 282 259 232
3.2. Khái niệm, bản chất của bảo hiểm tơng hỗ:
Cú nhiu khỏi nim khỏc nhau v t chc BHTH. Di õy l mt s

- T chc BHTH c thnh lp nhm mc ớch tng tr, giỳp ln
nhau gia cỏc thnh viờn.
3.3. Vai trò, chức năng của bảo hiểm tơng hỗ:
Ngoi cỏc vai trũ, chc nng m cỏc t chc bo him tng h mang
li nh cỏc loi hỡnh bo him thng mi khỏc, vai trũ ca t chc bo him
tng h cũn c th hin trờn cỏc khớa cnh sau:
Th nht, khụi phc kh nng ti chớnh, thỳc y s n nh ti chớnh v
gim bt cỏc ni lo õu v tinh thn ca cỏc t chc, cỏ nhõn tham gia bo him
sau khi xy ra s kin bo him. Bng cỏch tr tin bi thng cho ngi b
thit hi hay tn tht, bo him tng h em li s n nh ti chớnh v n
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
định xã hội, đồng thời góp phần làm giảm bớt sự lo âu về tinh thần cho các cá
nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm trong đời sống hàng ngày cũng như trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Về khía cạnh này, trước những tổn thất lớn và
có tính chất thảm họa thì hình thức bảo hiểm tương hỗ tỏ ra vượt trội hơn so
với hình thức bảo hiểm cổ phần vì rủi ro được san sẻ giữa các thành viên trong
tổ chức, chẳng hạn, đám cháy khủng khiếp ở New York năm 1835 đã khiến
cho một số công ty bảo hiểm cháy được tổ chức dưới hình thức công ty bảo
hiểm cổ phần bị phá sản.
Thứ hai, bảo hiểm tương hỗ có thể thay thế cho các chương trình đảm
bảo xã hội do Nhà nước thực hiện, nhờ đó làm giảm gánh nặng cho ngân sách
nhà nước và nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội.
Ví dụ: Các họat động sản xuất nông nghiệp hay đánh bắt cá xa bờ thường diễn
ra trên diện rộng và phụ thuộc rất nhiều và các điều kiện tự nhiên do vậy khả
năng gặp tổn thất rất lớn và các họat động kinh doanh bảo hiểm thương mại
thông thường rất khó đáp ứng, đáp ứng không hiệu quả hoặc với mức phí bảo
hiểm phải đóng rất cao gây bất lợi cho người tham gia bảo hiểm. Trong nhiều
trường hợp, với các tổn thất mang tính chất thảm họa thì các doanh nghiệp bảo
hiểm này sẽ không đủ khả năng thanh toán và có thể bị phá sản. Do vậy, để

chủ nợ và các cổ đông có thể sử dụng những “tín hiệu” thu được từ việc định
giá sản phẩm này để đưa ra những quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Nhờ
đó, hiệu quả kinh tế cũng được nâng cao.
Các công ty bảo hiểm cũng cho phép các doanh nghiệp và cá nhân
chuyển giao các tài sản, trách nhiệm, tổn thất thu nhập và các rủi ro khác để
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ một cách tốt hơn. Ngoài ra, các công
ty bảo hiểm nhân thọ còn giúp các tổ chức và cá nhân chuyển giao các khoản
tiết kiệm của họ sang một hình thức mới với độ thanh khoản cao, an toàn hơn
và mức độ rủi ro thấp hơn. Mặt khác, theo qui luật số lớn, các công ty bảo
hiểm thu phí của số đông người tham gia bảo hiểm để bồi thường cho số ít
những thiệt hại, tổn thất xảy ra. Thông qua hoạt động đầu tư, các công ty bảo
hiểm có thể phân tán rủi ro cho nhiều đối tượng tiếp nhận đầu tư khác nhau và
nhờ đó đa dạng hoá danh mục đầu tư, làm giảm bớt sự không ổn định và dễ đổ
vỡ.
Với ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn như đã nêu trên, trong thời gian tới,
cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
và việc từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, chắc chắn
ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và bảo hiểm tương hỗ nói riêng sẽ đóng
góp nhiều hơn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, xứng
đáng với tiềm năng và vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân.
3.4. Các hình thức tổ chức và quản lý Tổ chức BHTH:
Công ty BHTH có thể được phân loại dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau.
a) Nếu căn cứ theo thời điểm đóng phí bảo hiểm, công ty BHTH được
phân thành: Công ty BHTH phí bảo hiểm đóng trước và công ty BHTH phí
bảo hiểm đóng sau
- Công ty BHTH phí bảo hiểm đóng trước:
Đây là hình thức phổ biến nhất của công ty BHTH. Phương thức hoạt
động của công ty này giống công ty cổ phần ở chỗ phần lớn hoặc toàn bộ chi

Như vậy, trong cả 2 trường hợp, việc chi trả quyền lợi sẽ phụ thuộc vào
việc thu phí bảo hiểm từ các thành viên toàn bộ hoặc một phần sau khi tổn thất
xảy ra. Tuỳ thuộc vào từng hợp đồng cụ thể mà quyền yêu cầu người được
bảo hiểm đóng góp sau khi xảy ra tổn thất có thể chỉ hạn chế trong một số tiền
nhất định hoặc không khống chế về mức tối đa. Một thành viên của công ty
BHTH phí đóng sau nhưng tham gia với mức trách nhiệm không hạn chế sẽ
phải đóng một phần phí bảo hiểm theo tỷ lệ trên tổng số tiền tổn thất và các
chi phí hợp lý, hợp lệ của công ty. Hình thức doanh nghiệp này có nhược điểm
là không đảm bảo sự ổn định và chắc chắn trong hoạt động của công ty cũng
như khả năng thanh toán đến cùng các trách nhiệm về tài sản. Do đó, nó chỉ
thích hợp với giai đoạn đầu của ngành bảo hiểm, còn đến nay, loại công ty
BHTH này đã không còn phổ biến nữa.
b) Nếu căn cứ theo số phí bảo hiểm phải nộp, công ty BHTH bao gồm:
công ty BHTH đầu tư không hạn chế và công ty BHTH đầu tư hạn chế.
- Công ty BHTH đầu tư không hạn chế:
Công ty BHTH đầu tư không hạn chế có thể yêu cầu mỗi người được bảo
hiểm đóng góp một khoản đầu tư bổ sung với số tiền không vượt quá khoản
đầu tư đã đóng trước đó nếu tổn thất và các chi phí hoạt động của công ty cao
hơn khoản đầu tư đã đóng trước đó cộng với các khoản thu nhập của công ty.
Như vậy, loại hình công ty BHTH này có nhiều điểm tương đồng với loại
công ty BHTH phí bảo hiểm đóng sau. Để thành lập công ty BHTH đầu tư
không hạn chế, các sáng lập viên phải đóng góp ít nhất 30% số vốn của công
ty.
- Công ty BHTH đầu tư hạn chế:
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với các công ty BHTH đầu tư hạn chế, số tiền góp vốn của các sáng
lập viên ít nhất phải bằng 50% tổng vốn cổ phần của công ty tuỳ thuộc vào
việc công ty dự kiến kinh doanh một hoặc nhiều loại hình bảo hiểm.
c ) Công ty BHTH truyền thống và công ty BHTH cổ phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status