Tổng hợp câu hỏi đáp án ôn thi Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - Pdf 25

MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
HỌC VIÊN: MAI QUỐC THỊNH
LỚP: CAO HỌC KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG KHÓA 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
Câu 1: Nghiệp vụ Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) gồm những nghiệp vụ gì? Để phát triển các nghiệp vụ này
cần tác động những yếu tố gì?
-Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại (NHTM) bao gồm:
+ Huy động vốn
+ Tín dụng
+ Đầu tư và kinh doanh chứng khoán
+ Kinh doanh ngoại tệ và vàng
+ Quản lý rủi ro
+ Thanh toán & chuyển tiền
+ Thanh toán quốc tế
+ Nghiệp vụ khác : ngân hàng điện tử, kinh doanh BDS
Trong đó, hoạt động chính của NHTM là tín dụng & huy động vốn :
Tin dụng gồm :
+ Cho vay
+ Chiết khấu
+ Bao thanh toán
+ Thuê tài chính
+ Bão lãnh
+ Tài trợ XNK
+ Cho vay thấu chi,
+ Cho vay hạn mức.
Huy động vốn :
+ Tiền gửi ( tiết kiệm, thanh toán, có kì hạn và ko kì hạn )
+ Giấy tờ có giá ( chứng chỉ tiền gữi, kì phiếu )
Câu 2: Phát triển dịch vụ Ngân hàng trọn gói. Liên quan đến vấn đề quản trị quan hệ Ngân hàng. (doanh
nghiệp XK, DN NK, DN nhỏ và vừa)
1

doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, ABBank tiếp tục dành nhiều ưu đãi cho đối tượng khách hàng mục tiêu này của mình như: gói tài trợ
1.000 tỷ đồng theo chương trình "Đối tác mới - Thành công mới" với lãi suất ưu đãi 12% một năm đối với khách hàng
xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa mới; gói 2.000 tỷ đồng cho các khách hàng xuất nhập khẩu hiện hữu với lãi suất
ưu đãi thấp hơn 2% và chương trình tài trợ VND theo lãi suất USD…
c. Trọn gói dịch vụ ngân hàng điện tử VCB –eB@nking và Trung tâm dịch vụ khách hàng 24/7 của
Vietcombank .
- Tháng 9/2009, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã ra mắt trọn gói dịch vụ ngân hàng điện
tử VCB –eB@nking và Trung tâm dịch vụ khách hàng nhằm giúp Vietcombank thêm gần gũi với khách hàng theo tôn
chỉ “Ngân hàng ở nơi bạn muốn”.
Trọn gói này bao gồm dịch vụ ngân hàng trực tuyến qua Internet VCB-iB@nking, dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn
di động VCB-SMS B@nking và dịch vụ ngân hàng qua điện thoại VCB-Phone B@nking, dịch vụ ngân hàng qua hệ
thống máy ATM tự động VCB-ATM.
2
Bắt đầu từ năm 2002, khi chiếc thẻ ATM đầu tiên tại Việt Nam ra đời cùng với hệ thống máy rút tiền tự động ATM
được đầu tư trên nền tảng công nghệ lõi tiên tiến nhất, Vietcombank đã thể hiện cam kết lâu dài của mình là trở thành
một ngân hàng hiện đại, hướng tới các dịch vụ mang công nghệ cao nhất song song với việc đảm bảo tối đa tính bảo
mật đối với thông tin khách hàng và độ an toàn của các giao dịch điện tử. Cho tới thời điểm hiện nay, nhờ uy tín và
chất lượng dịch vụ hàng đầu, Vietcombank đã thu hút được gần 4 triệu khách hàng cá nhân tin tưởng lựa chọn mở tài
khoản và phát hành thẻ. Vietcombank tự hào là ngân hàng có số lượng khách hàng cá nhân cũng như lượng thẻ phát
hành lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Tiếp theo thành công đó, trong những năm vừa qua, Vietcombank liên tục đầu tư, cập nhật các ứng dụng mới và
hợp tác với các đối tác lớn hàng đầu trên thế giới và khu vực. Danh mục các dịch vụ ngân hàng điện tử của
Vietcombank tiếp tục mở rộng, bao gồm dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn VCB-SMS B@nking (năm 2005) hay dịch
vụ ngân hàng trực tuyến qua Internet VCB-iB@nking (năm 2006). Năm 2007, Vietcombank khai trương các dịch vụ
thanh toán hóa đơn tự động VCB-P qua hệ thống ATM hoặc trực tiếp gạch nợ tài khoản khách hàng (VCB-Direct
Billing), dịch vụ quản lý tài khoản tiền đầu tư chứng khoán Vietcombank Securities Online, dịch vụ nhận tin nhắn chủ
động và nạp tiền qua tin nhắn (năm 2008), dịch vụ thanh toán chuyển khoản qua Internet và dịch vụ ngân hàng 24x7
qua điện thoại VCB-Phone B@nking (năm 2009). Giờ đây, ngoài việc trực tiếp tới ngân hàng, khách hàng có thể thực
hiện các giao dịch như truy vấn số dư, rút tiền, thanh toán, chuyển khoản, v v qua đầy đủ các kênh điện tử như

B@nkingtại bất kỳ điểm giao dịch nào của Vietcombank trên toàn quốc hoặc thông qua VCB-iB@nking (trường hợp
khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến qua Internet), khách hàng có thể tra cứu số dư tài khoản tiền gửi
3
thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền vay, các loại giấy tờ có giá tại ngân hàng; tra cứu hạn mức, dư nợ và thời hạn
thanh toán thẻ tín dụng cũng như thông tin về chi tiết các giao dịch gần nhất được thực hiện.
Trung tâm dịch vụ khách hàng 24x7 (Vietcombank Contact Center) tại tổng đài (+84) 1900 54 54 13 (và +84 4 38
24 35 24/ 38 24 57 16 đối với thuê bao Viettel, thuê bao quốc tế) được thành lập năm 2008. Ngoài việc quản lý kênh
dịch vụ VCB-Phone B@nking, trung tâm còn đảm nhiệm một chức năng rất quan trọng là tư vấn trực tiếp khi khách
hàng gọi tới nhằm giải đáp, ghi nhận những thắc mắc của khách hàng liên quan tới sản phẩm, dịch vụ và chất lượng
phục vụ của Vietcombank. Đồng thời, dựa trên ứng dụng công nghệ hiện đại, Trung tâm Dịch vụ khách hàng 24x7
của Vietcombank còn chủ động liên hệ với khách hàng nhằm thông báo tình hình tài chính, ngày đến hạn các khoản
tiền hoặc các chương trình khuyến mại, sản phẩm, dịch vụ mới.
Tôn chỉ “Ngân hàng ở nơi bạn muốn” với các chuỗi dịch vụ liên kết chặt chẽ hỗ trợ khách hàng mọi lúc mọi nơi
cho phép khách hàng và Vietcombank liên hệ tức thì, nhanh chóng, đảm bảo gia tăng tối đa các giá trị cho khách hàng
về thời gian, chi phí và sự thuận tiện nói chung.
Câu 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn.
(nhân tố tác động đến dịch vụ, hoạt động hành vi tiêu dùng, chất lượng dịch vụ)
3.1. Nhóm nhân tố chủ quan
3.1.1. Các hình thức huy động vốn và chất lượng các dịch vụ do ngân hàng cung ứng, và hệ thống mạng lưới
Hình thức huy động vốn của ngân hàng đưa ra càng phong phú, đa dạng linh hoạt vàthuận tiện thì khả năng thu hút
vốn trong nền kinh tế càng lớn, xuất phát từ sự khác nhau vềnhu cầu và tâm lý trong dân cư. Chính sự đa dạng hoá các
hình thức huy động vốn của Ngân hàng đã giúp cho mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp tìm được cho mình một hình
thứcđầu tư hợp lý nhất
Khi các ngân hàng thương mại đưa ra các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạngvà hợp lý, cùng với việc mở
rộng hệ thống màng lưới hoạt động, và nâng cao chất lượnghoạt động các dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút ngày càng
nhiều khách hàng đến với ngânhàng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn. Ngược lại khi
cáchình thức huy động vốn của ngân hàng chưa đa dạng, phong phú, chất lượng hoạt độngdịch vụ chưa cao, hệ thống
màng lưới còn ít, chưa thuận lợi cho khách hàng trong việc giaodịch với ngân hàng, thì nó sẽ ảnh hưởng không tốt tới
huy động vốn của ngân hàng.Hiện nay với sự đổi mới sâu sắc của ngành ngân hàng, các ngân hàng thương mạikhông
ngừng đổi mới về khoa học, công nghệ, về phong cách giao dịch, mở rộng các hoạtđộng dịch vụ phục vụ khách hàng,

nghệ tiên tiến mang lạilợi ích thiết thực cho kinh doanh, luôn tạo điều kiện thuận lợi và phục vụ cho khách hàngtốt
hơn, tạo lòng tin cho khách hàng. Thực tế khách hàng sẽ tin tưởng yên tâm hơn khi gửitiền ở một ngân hàng có trình
độ công nghệ trình độ công nghệ ngân hàng cao. Và khi kháchhàng đã thực sự yên tâm gửi tièn thì ngân hàng dễ dàng
trong việc huy động
3.1.6.Năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng
Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản nợ, tài sản có, tức là trong quá trìnhhoạt động kinh doanh của
mình, ngân hàng dự đoán được những rủi ro xảy ra, dự đoán đượcmôi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không
thì quá trình hoạt động của ngân hàngđảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền
cũng nhưvay tiền.Mặt khác, trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, mọi thao tác nghiệp vụthực hiện
nhanh chóng, chính xác, có hiệu quả ; thái độ phục vụ, tác phong làm việc của cán bộ ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi
mở, tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ gây được ấn tượng tốtđối với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Thái độ phục vụ của cán bộ ngânhàng đối với khách hàng có ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn cho ngân hàng.
Do đó, để thu hút khách hàng gửi tiền, đi đôi với việc trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, cán bộ ngân hàng phải thường
xuyên chú ý đến thái độ phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng.
3.1.7.Công tác quảng cáo, khuyến mãi
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã từng bước học tập và ứng dụng nghệ thuậtthông tin quảng cáo, các hình thức
khuyến mãi …
Tuy việc đầu tư cho công tác này còn hạnchế, nhưng có thể nói đây cũng là mặt mạnh của ngành ngân hàng trong việc
cạnh tranh đểhuy động tiền gửi. Thông tin quảng cáo, tiếp thị khuyến mại, các dịch vụ hậu mãi rõ ràng sẽ phát triển
mạnh mẽ trong cơ chế thị trường. Và tuỳ vào chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụmà ngân hàng cung cấp để các nhà
quản trị ngân hàng chọn thời điểm, thời gian sử dụng,chiến lược quảng cáo khuyến mãi cũng như hậu mãi phù hợp.
3.2. Nhóm nhân tố khách quan
3.2.1. Môi trường pháp lý
Như chúng ta đã biết, hoạt động của ngân hàng có mức độ ảnh hưởng, tác động hếtsức mạnh mẽ đối với nền kinh tế
của bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể việc huy động vốn và sửdụng vốn của ngân hàng đều tác động trực tiếp đến tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế, thunhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát.
Chính vìlẽ đó, hoạt động của ngân hàng phải chịu sự quản lý chặt chẽ gắt gao hơn so với các doanhnghiệp khác. Thực
tế là ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều chính sách, các quyđịnh của chính phủ, của NHTW; đó là Luật
các tổ chúc tín dụng, luật kinh tế, luật dân sự,hàng loạt hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự
trữ, hạn mức.Trong sự ràng buộc về luật pháp này thì các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn chắc chắnsẽ bị thay đổi

cungcấp các tài khoản không kỳ hạn.
Câu 4: Nguyên tắc huy động vốn
4.1. Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn
− Hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng vô điều kiện.
− Tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành.
− Giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng.
− Không được che giấu các khoản tiền lớn và bất thường (chống rữa tiền).
− Không được cạnh tranh bất hợp lý.
4.2. Thoả mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất
− Áp dụng nhiều phương thức huy động vốn.
− Kết hợp chặt chẽ giữa huy động vốn với hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng.
− Đa dạng hóa phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng.
4.3. Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động
− Tạo uy tín cho khách hàng bằng việc đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình huống.
6
− Ngăn chặn phao tin đồn nhảm.
− Có phương án đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời khi có sự cố xảy ra.
Câu 5: Các giải pháp tăng trưởng vốn tự có của NHTM
(Vai trò của vốn tự có
Quy định về an toàn vốn)
Vấn đề sáp nhập thì sao (vốn, thị trường, quản trị, văn hóa công ty, lợi ích cổ đông)
Vai trò vốn tự có:
Có thể nói nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng được đi vào hoạt động và là đệm đỡ không thể
thiếu của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trưng trong kinh doanh ngân
hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của NHNN Việt Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20. Tuy
chiếm tỷ trọng nhỏ, song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng.Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ người gửi tiền:
Kinh doanh ngân hàng thường xuyên đối đầu với rủi ro. Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ được bù đắp bằng vốn
chủ sở hữu. Như vậy, nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn, người gửi tiền và người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về
ngân hàng.Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động cho ngân hàng: Như đã phân tích
ở trên, để hoạt động điều kiện đầu tiên là ngân hàng phải có được số vốn tối thiểu ban đầu. Số vốn này được sử dụng

7
Tốc độ tăng vốn từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn từ nguồn nội bộ lýtưởng phải đáp ứng cả hai yêu cầu:
Một là, ngân hàng tăng trưởng được tài sản có (đặc biệt là các khoản cho vay); Hai là, không làm suy giảm quá mức
tỷ số vốn / tài sản củangân hàng.Ta có: Tỷ lệ tăng vốn từ nguồn nội bộ (Internal capital growth rate-ICGR)
Công thức trên cho thấy muốn tăng qui mô vốn từ nguồn nội bộ thì phải tăng thunhập ròng hoặc tăng tỷ lệ thu nhập
giữ lại, hoặc tiến hành đồng thời cả hai.Điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ban giám đốc ngân hàng là cố
gắng đạtđược thành tích phân phối cổ tức ổn định. Nếu được vậy, các nhà đầu tư hưởng lãi sẽcảm nhận ít rủi ro trong
sự thanh toán cổ tức đối với họ và ngân hàng sẽ có sức hấp dẫnnhiều hơn đối với các nhà đầu tư. Nhiều công trình
nghiên cứu tại các ngân hàng TâyÂu cho thấy có một hiện tượng lặp đi lặp lại là giá cổ phiếu của ngân hàng giảm
nhanh(thường chỉ trong phạm vi một tuần) sau khi có sự phân phối cắt giảm phân phối cổtức. Điều này không chỉ làm
thất vọng các cổ đông hiện thời mà còn làm nản lòngnhững người tiềm năng cổ phiếu của ngân hàng.
Một chính sách phân phối cổ tức tối ưu cho ngân hàng là chính sách có thể tối đahóa giá trị đầu tư của các cổ đông,
sao cho ngân hàng có thể thu hút được các cổ đôngmới và giữ chân những cổ đông hiện tại một khi suất thu lợi trên
vốn tự có của các sở hữu chủ ít nhất bằng với tỷ suất lợi nhuận được tạo ra từ các cơ hội đầu tư khác có rủiro tương
đương.
Ngoài ra ngân hàng thương mại cổ phần còn có thể kết chuyển Quỹ dự trữ bổ sungvốn điều lệ, Thặng dư vốn cổ phần
hay Chênh lệnh do chứng khoán phát hành cao hơnmệnh giá vào vốn điều lệ của mình. Tuy nhiên tăng vốn từ phương
cách này chỉ tăngđược vốn điều lệ ở mức thấp so với các cách trên do các quỹ bị giới hạn tỷ lệ so vớivốn tự có cấp 1
và vốn điều lệ.
5.2 Tăng vốn từ bên ngoài
5.2.1 Phát hành thêm cổ phiếu mới
Phát hành thêm vốn cổ phần thường hay vốn cổ phần ưu đãi là một hình thức huyđộng vốn phổ thông của các ngân
hàng thương mại cổ phần.Với việc phát hành thêm cổ phần thường thì:Ưu điểm: không phải hoàn trả cho người mua
cổ phiếu, cổ tức của cổ phiếu thườngkhông phải là gánh nặng về tài chính cho ngân hàng trong những năm làm ăn
thua lỗ.Phương pháp này làm tăng qui mô vốn nên cũng làm tăng khả năng vay nợ của ngânhàng torng tương lai.
Nhược điểm: Chi phí phát hành cao và có thể làm loãng quyền sở hữu ngân hàng,giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu
(EPS), làm giảm khả năng tận dụng tỷ lệ đòn bẩytài chính ngân hàng đã có.Với việc phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh
viễn thì có đặc điểm sau:
Ưu điểm: Không phải hoàn trả vốn và không làm phân tán quyền kiểm soátngân hàng, tăng khả năng vay nợ của ngân
hàng trong tương lai.

Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay. Nhưng người đi vay sử dụng
tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi
là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi
trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan. Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi
là rủi ro do nguyên nhân chủ quan.
1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
1.1 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
1.1.1 Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi
trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế
giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu.
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Ngành thủy
sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua.
9
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém. Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh
hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải
ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
1.1.2 Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh
gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ
thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ
thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ
bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
1.1.3 Sự tấn công của hàng nhập lậu:
Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình đời sống nghèo khó của
dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lậu
vẫn tràn lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các
doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là những ví

10
số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn
ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn.
1.2.3 Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín
dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng
khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức
tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra
việc kết nối thông tin với trang Web – CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục trặc, chưa
đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại TP.HCM. Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc
mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân
hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia
tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
2.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
2.1.1 Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh
nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc
phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.
2.1.2 Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản
vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài
chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn
đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
2.1.3 Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nơ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp VN.
Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ
nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ
mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa
trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao

hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay
tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới
hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến
mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong
việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay
ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Các biện pháp phòng
chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng
từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát
triển ở VN. Trong phạm vi tầm tay của các ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng
trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay. Năng lực
cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và nhân viên của họ và các nguồn lực của ngân hàng về
nhân sự cũng như về cơ sở vật chất. Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp
liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công
việc. Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như
đã đi được hơn một nửa.
3. Quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM
Trong thời gian qua, các NHTM trên địa bàn thành phố đã trải qua bao thăng trầm và tưởng chừng có lúc không thể
trụ vững được vào những năm 96-97, khi mà hàng loạt có vụ án kinh tế có liên quan đến ngành ngân hàng, gây tổn
thất nghiêm trọng về tài sản hàng ngàn tỷ đồng, con người và đặc biệt là uy tín của ngành ngân hàng trong nền kinh
tế. Những rủi ro tín dụng xảy ra trong giai đoạn này cho dù có xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hay chủ
quan đều phản ánh rõ nét những yếu kém trong công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM. Những biện pháp
nhằm ngăn ngừa, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng chưa được các ngân hàng đưa ra và thực hiện một cách đầy
đủ, triệt để, đặc biệt là các biện pháp liên quan đến yếu tố con người.
Trước những sự việc đáng tiếc đã xảy ra liên quan đến các ngân hàng thương mại, mà chủ yếu trên địa bàn TP. HCM,
Chính phủ, NHNN và ngay bản thân các NHTM đã nỗ lực đưa ra các biện pháp khắc phục hậu quả, đồng thời định
hướng phát triển cho ngành ngân hàng trong thời gian tới trên tinh thần: tăng trưởng tín dụng với chất lượng cao và
bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội của thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Với tinh thần
đó, hàng loạt các biện pháp đã được thực hiện từ cơ chế, chính sách, các văn bản pháp quy đã được ban hành: như

chủ yếu là do hậu quả của các năm trước để lại, chưa giải quyết dứt điểm, song tại một số ngân hàng vẫn có tình trạng
phát sinh mới về nợ quá hạn, cho thấy rủi ro tín dụng luôn tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi các ngân
hàng phải chú trọng hơn nữa đến công tác phòng chống, quản lý rủi ro nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt
hại xảy ra.
Tóm lại, cùng với sự phát triển của TP.HCM, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng tăng, dẫn đến mức độ tăng
trưởng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Sự tăng trưởng tín dụng của các NHTM phù hợp với sự tăng trưởng của nền
kinh tế cả nước nói chung và của kinh tế thành phố nói riêng. Tuy nhiên sự tăng trưởng tín dụng cũng kéo theo sự gia
tăng rủi ro tín dụng, điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sử dụng vốn và làm hạn chế việc mở rộng tín
dụng của các NHTM. Do đó việc phát triển tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng.
Vì vậy các giải pháp tốt trong quản lý rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân hàng nhằm tạo ra sự
tăng trưởng tín dụng một cách ổn định, bền vững
Cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng thương mại việt nam
1.Cạnh tranh "truyền thống" bằng lãi suất
Cạnh tranh bằng lãi suất là biện pháp cạnh tranh có tính chất truyền thống của các ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay, cũng như sự lựa chọn có tính chất truyền thống của ngườii Việt Nam, của khách hàng trong việc gửi tiền,
13
vay vốn mà đến nay chưa thể thay đổi được. Hơn nữa đây là quy luật của kinh tế thị trường, lãi suất có tác động điều
hoà cung cầu vốn. Vốn sẽ chảy vào nơi có lãi suất cao, hoặc khách hàng sẽ tìm đến vay vốn nơi có lãi suất thấp.
Nhìn chung khách hàng sẽ lựa chọn nơi có lãi suất huy động vốn hấp dẫn để gửi tiền và tìm đến ngân hàng có lãi suất
thấp hơn để vay vốn. Tất nhiên, uy tín của ngân hàng thương mại khi gửi tiền, thủ tục và phong cách cho vay của cán
bộ ngân hàng thương mại cũng rất quan trọng.
Bản thân các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống ngân hàng ở trình độ cao, họ vẫn phải sử dụng công cụ lãi suất,
như Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED), hoặc các ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia đầu tư vốn trên thị trường
tiền gửi, tiền vay quốc tế cũng vậy, lãi suất biến động theo diễn biến thị trường. Tất nhiên, lãi suất giao dịch với khách
hàng của các ngân hàng thương mại ở các nước đó tương đối ổn định, vấn đề là uy tín, thương hiệu, chất lượng phục
vụ của ngân hàng.
Ŀể hạn chế những bất lợi của cạnh tranh lãi suất, ảnh hưởng tình hình tài chính của chung các ngân hàng thương mại
và nếu cạnh tranh tăng cao lãi suất, trong điều kiện nguồn vốn nhàn rỗi trong dân có hạn, người dân lại có cơ hội lựa
chọn nhiều kênh đầu tư vốn sinh lợi khác nhau, thì sẽ chỉ làm cho tiền gửi từ ngân hàng thương mại này chạy sang
ngân hàng thương mại khác.

tháng, trái phiếu, kỳ phiếu ) lại liên tục bị đẩy lên.
Nguyên nhân chính:
1>Do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã nhiều lần tăng lãi suất và hiện lãi suất USD của FED đã đạt 5%/năm. Đây
chính là sức ép khiến các NH trong nước phải điều chỉnh lãi suất USD. Vì một khi lãi suất USD tăng, lãi suất VND
cũng buộc phải điều chỉnh tăng theo. Bên cạnh đó, theo quy luật hàng năm, 6 tháng đầu năm là thời kỳ bắt đầu chu kỳ
sản xuất kinh doanh trong năm, do đó, nhu cầu vay vốn của DN và dân cư thường tăng rất mạnh. Để đảm bảo nguồn
vốn đáp ứng nhu cầu vay, các NH thường phải tìm mọi cách để tăng vốn huy động và tăng lãi suất là biện pháp
thường được các NH sử dụng
2>Thị phần của các NHTM quốc doanh dần bị các NHTM cổ phần chia sẻ. Nhận thức được điều này, các NHTM
quốc doanh đã phải nhanh chóng điều chỉnh tăng lãi suất huy động để giữ cho nguồn vốn huy động của mình được ổn
định. Và vì thế, dù không muốn, lãi suất huy động của các NHTM vẫn phải tăng lên.
3>Trong điều kiện giá xăng dầu, giá cả hàng hóa tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến LS NH hiện nay, nếu không tăng
LS thì NH sẽ phải thu hẹp khả năng tài chính của mình".
4>Ảnh hưởng của thị trường chứng khoán: khi giá chứng khoán tăng thì cầu về thị trường tiền tệ giảm làm giảm lãi
suất.
5>Sự tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp vấn rất lớn đòi hỏi các ngân hàng phải cung một
lượng vốn lớn trong khi nguồn vốn dân cư sẽ không nằm nhiều ở ngân hàng nữa vì thị trường chứng khoán đã thu hút
một lượng lớn. Thị trường vàng cũng hấp dẫn đầu tư.
6>Do nước ta đã là thành viên của WTO nên sẽ dẫn đến cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa ngân hàng trong nước và ngân
hàng nước ngoài trong những năm tới khi nước ta mở cửa hoàn toàn.
Diễn biến từ thị trường tiền tệ Mỹ là một trong những áp lực không nhỏ trong việc hoạch định chính sách lãi suất của
các ngân hàng Việt Nam, bên cạnh yếu tố giá cả tiêu dùng.
Do lãi suất USD đang tăng cao nên nếu các NH không điều chỉnh tăng lãi suất tiền đồng thì rất dễ xuất hiện tình trạng
khách hàng rút tiền đồng, chuyển sang mua USD gửi. Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng các NH hiện nay vẫn chủ yếu
cạnh tranh huy động vốn thông qua việc tăng lãi suất chứ chưa có được nguồn vốn giá rẻ huy động từ các dịch vụ,
chẳng hạn như dịch vụ thẻ thanh toán.
Câu 7: Đặc điểm kinh doanh ngoại hối. Chu chuyển vốn giữa các quốc gia
Thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối hay thị trường hối đoái ngoại tệ là thị trường tiền tệ quốc tế diễn ra các hoạt động giao dịch các
ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ.

Các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Các công ty đa quốc gia.
Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản trên thị trường ngoại hối
Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay:
Là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao được thực hiện ngay lập tức hay là chậm nhất là sau 2 ngày
kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán.
Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá:
Là nghiệp vụ dựa vào mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối để thu lợi nhuận thông qua hoạt động
mua bán.
Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối có kỳ hạn:
Là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất định theo tỷ giá thỏa
thuận lúc ký kết hợp đồng.
16
Nghiệp vụ hoán đổi:
Là nghiệp vụ ngoại hối phối hợp giữa hai nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay và giao dịch ngoại hối có kỳ hạn
để kiếm lợi nhuận.
Nghiệp vụ ngoại hối giao sau:
Là nghiệp vụ tiến hành một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp
đồng có hiệu lực,việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai.
Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối chọn quyền:
Là nghiệp vụ giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ
mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian . Nếu bên mua
quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng
theo tỷ giá .
Câu 9: Một công cụ quản trị hữu hiệu đối với việc quản trị rủi ro tín dụng là xem xét Báo cáo tài chính KH.
Với nhận định trên, hãy giải thích những lợi thế và lỗi có thể gặp phải khi sử dụng báo cáo tài chính
Các thông tin về báo cáo tài chính của doanh nghiệp chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán nên độ chính xác của các
báo cáo chưa cao.
Lợi thế: Nhanh chóng, có khả năng định lượng chính xác mức độ rủi ro.
Khuyết điểm: Số liệu có thể bị thay đổi theo mục đích của chủ doanh nghiệp đối với cơ quan quản lý và tổ chức tín

Các công cụ phù phép Báo cáo tài chính
Phù phép thông qua các ước tính kế toán.Vì không có chỉ tiêu cụ thể cho ước tính kế toán nên đây có lẽ là công cụ khá
hữu hiệu cho việc phù phép BCTC. Các ước tính kế toán nhằm tăng mức lợi nhuận của công ty trong các kì sau, vì
vậy nó là con số tạo niềm tin cho khả năng sinh lời của công ty trong tương lai với các NĐT. Vì vậy, để không muốn
mất một khoản vốn đầu tư, các nhà kinh doanh đã dự tính cho mức ước tính kế toán cao hơn thông qua việc tăng lợi
nhuận của kì hiện tại bằng cách giảm mức khấu hao, giảm hàng tồn kho, không tính các khoản giá trị giảm so với giá
trị thuần. Về lâu dài, các ước tính kế toán này sẽ càng xa rời với con số giá trị thực của công ty và việc gây ra khủng
hoảng là không thể tránh khỏi. Thực chất của việc này là chuyển lợi nhuận của kì sau sang lợi nhuận của kì hiện tại và
điều này không ảnh hưởng đến lợi nhuận thực của công ty trong tương lai. Mặt khác, sử dụng công cụ này, các nhà
kinh doanh sẽ phải đối mặt với các nhà kiểm toán.
Phù phép thông qua các giao dịch thực. Công cụ này được sử dụng thông qua sự dàn xếp lợi nhuận của kì sau và kì
hiện tại và có thể không có lợi cho DN về sau.
Tăng doanh thu thông qua các chính sách giá và tài chính: giảm giá bán, nới lỏng điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng
bán vào thơờ kì cuối của kì báo cáo. Việc này làm cho doanh thu kì sau giảm tức doanh thu kì này sau đã chuyển sang
kì hiện tại.
Thông báo tăng giá bán kì sau sẽ làm tăng lượng bán ra của kì hiện tại nhưng lại giảm lượng bán ra của kì sau và nó
cũng làm mất lợi nhuận của kì sau.
Cắt giảm chi phí hữu ích: Tức là cắt giảm những khoản chi cho công tác nghiên cứu và phát triển, dịch vụ quảng cáo,
việc duy tu và bảo dưỡng máy móc. Về lâu dài, đây không phải là phương án tốt với sự phát triển của công ty, làm
cho công ty không mở rộng được quy mô, phát triển sản xuất cũng như thương mại và dịch vụ, bỏ qua nhiều cơ hội để
tăng khoản lợi nhuận cho công ty.
Trì hoãn thanh toán các tài sản không có nhu cầu sử dụng, hàng tồn kho:
Các tài sản không sử dụng và mất giá trị nếu không thanh toán để lâu sẽ sinh ra những khoản lỗ đáng kể cho công ty;
đồng thời làm tăng chi phí bảo dưỡng.
Sản xuất vượt mức công suất: Phương pháp này nhằm tăng sản lượng bán ra cho DN nhưng bù lại DN phải bỏ thêm
chi phí cho bảo dưỡng máy móc, dịch vụ thương mại cho việc bán hàng…Không những thế, câu hỏi đặt ra là sản
phẩm liệu có bán được hay không lúc này nhà sản xuất lại mất thêm một khoản cho việc bảo dưỡng hàng tồn kho.
Các biện pháp hạn chế việc phù phép BCTC
Từ việc phân tích các công cụ của phù phép tài chính, một câu hỏi được đặt ra là: Liệu có nên tin vào BCTC hay
không? Thực sự là nhà tài chính vẫn nên tin vào BCTC bởi bên cạnh việc bóp méo sự thật của BCTC thì vẫn còn rất

Câu 8: Giả sử anh/ chị làm trưởng phòng tín dụng trong 1 NH lớn và chịu trách nhiệm ra chính sách tín dụng và triển
khai các chính sách đó. Anh/chị phải đảm bảo hoạt động phân tích tín dụng của các chuyên viên tín dụng và việc chấp
nhận và cho vay tín dụng phải mang tính hệ thống, chặt chẽ và chuẩn hóa về quy cách. Do vậy việc cung cấp đầy đủ
cho các nhân viên về các thông tin, yêu cầu của quy trình thẩm định đúng quy trình, trình tự khi xử lý một hồ sơ vay
là vấn đề cần thiết
a. Hãy giải thích đầy đủ những yêu cầu của một quy trình phân tích tín dụng đúng cách để ra các quyết định cho
vay
b. Liên hệ kinh nghiệm bản thân về các yêu cầu tín dụng (quy trình xử lý) tại Việt Nam từ góc độ người vay
c. Một nhân viên thiết bị điện tới NH vay vốn để mua dụng cụ điện và một chiếc xe tải. Yêu cầu được vay
100.000 USD và đặt chiếc xe tải là tài sản thế chấp. Anh ta là KH của NH và cũng chậm trả thẻ tín dụng.
Người này cũng vài lần làm cho công ty lớn trong thời gian gần đây. Giờ đây anh ta cần vốn để khởi nghiệp,
20
ở nhà thuê và chuyển chỗ ở vài lần, có kế hoạch kinh doanh trong khu vực với khoản vay này sẽ cho mức
thặng du tăng hàng năm
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status