NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ VÀ HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG - Pdf 25

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
PHẦN I: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ (Bài
học SGK tr. 20)

Hoàng Thị Thu Hòa
A. Kiến thức cơ bản
Kiến thức về: Tìm hiểu đề; lập dàn ý và ghi nhớ những yêu cầu về
nội dung và diễn đạt trong phần “Ghi nhớ” SGK tr. 21.
1. Tìm hiểu đề
Phải trả lời được các câu hỏi:
- Đề nêu lên vấn đề gì, tức là phải xác định đúng vấn đề cần
nghị luận (tránh nắm tình trạng lơ mơ, nói chờn vờn quanh đề
bài)
- Có những khía cạnh nào cần làm rõ (Ví dụ đề bài trong SGK,
cần làm rõ: 1. Thế nào là sống đẹp? ; 2. Con người để sống
đẹp cần rèn luyện những phẩm chất gì? )
- Cần sử dụng những thao tác lập luận nào?
- Cần sử dụng những tư liệu thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống,
có thể dùng những dẫn chứng nào trong văn học?
2. Dàn ý (Đề bài SGK tr. 21: )
Mở bài: Dẫn dắt, nêu vấn đề (SGK gọi là giới thiệu vấn đề và nêu
luận đề)
Thân bài:
Vận dụng các thao tác nghị luận: giải thích (Ví dụ: Bàn về sống
đẹp: giải thích thế nào là sống đẹp); phân tích và chứng minh
(phân tích các khía cạnh biểu hiện lối sống đẹp và giới thiệu một
số tấm gương sống đẹp trong đời sống và trong văn học); bác bỏ
(phê phán những quan niệm và lối sống không đẹp); bình luận
(bàn về phương hướng và biện pháp phấn đấu để có thể sống
đẹp).
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề (Vấn đề có tác dụng gợi

- Vấn đề đó đúng (sai) hoàn toàn hay chỉ một phần? Đúng (sai)
trong trường hợp nào? Với điều kiện gì? (Xem xét vấn đề đúng,
sai trong phạm vi giới hạn nào?) Có cần bổ sung hoặc mở rộng
thêm như thế nào?
Ví dụ: Suy nghĩ của em về câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần
đèn thì sáng” cần chỉ rõ: Đúng (sai) trong trường hợp nào? Với
điều kiện gì?;
Suy nghĩ của em về câu tục ngữ: “Cái nết đánh chết cái đẹp” thì
cần bổ sung hoặc mở rộng thêm như thế nào?
- Bài học rút ra (thuộc quan điểm lí luận hoặc đạo đức hoặc
nguyên tắc ứng xử trong cuộc sống…)?
- Vấn đề có giá trị như thế nào đối với đời sống chung? Đối với
riêng bản thân?
3. Phần Kết bài: Ở nhiều đề thường theo cách: Khẳng định tính
đúng đắn của câu nói (hoặc tóm tắt lại vấn đề) và liên hệ bản
thân (nêu định hướng phấn đấu; hoặc rút ra kinh nghiệm sống
cho bản thân)
Phần Liên hệ bản thân có thể sau khi rút ra bài học nhận thức
và hành động cho mọi người và nằm ở cuối phần Thân bài. Khi ấy
Kết bài chỉ là khẳng định lại ý nghĩa vấn đề.
C. DẠNG ĐỀ
(GV có thể nêu một số đề, yêu cầu HS chia làm 2 dạng, thảo luận
về cách làm bài ở 2 dạng)
1. Chúng tôi tạm chia làm 2 dạng:
Dạng 1: Ví dụ:
Sách “Cổ học tinh hoa” có viết: “Hãy bước qua và đếm từng viên
sỏi”.
Lời khuyên đó định hướng gì cho em trong học tập và cuộc sống.
Dạng 2: Ví dụ:
Trong tác phẩm Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), nhân vật bà

Dạy con phải biết tự trọng, biết xấu hổ là dạy một nhân cách sống
có văn hóa. Điều đó chứng tỏ bà là người có ý thức rất cao về
lòng tự trọng. Điều đó thể hiện khi người con trai đầu xin đi lính,
bà Hiền “đau đớn mà bằng lòng” bởi bà “không muốn nó sống
bám vào sự hi sinh của bạn bè”. Trong mắt bà, người con trai
“dám đi cũng là biết tự trọng”. Đến khi, sau ba năm đằng đẵng, tin
tức người con trai đầu vẫn biệt vô âm tín, người con trai thứ xin
tòng quân, bà đã “không khuyến khích cũng không ngăn cản con”
bởi “ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải
chết cũng là một cách giết chết nó”. Qua những suy nghĩ từ tận
đáy lòng ấy, ta đọc ở bà Hiền, một người coi lòng tự trọng là
nguyên tắc hành xử cao nhất của con người. Bà ghét sự ăn bám,
sống bám, ghét sự dựa dẫm vào người khác. Với bà, để có thể
mưu sinh, mỗi người cần tự thân vận động, tự đóng góp công sức
của mình vào công việc chung của đất nước. Dạy con biết tự
trọng, biết xấu hổ thì chính bà là người ý thức sâu sắc nhất về
điều đó. Bà đã tâm sự những lời gan ruột rằng: “Tao cũng muốn
sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả,
vui lẻ thì có hay hớm gì”. Ở bà Hiền, lòng tự trọng gắn liền với ý
thức và trách nhiệm của một công dân yêu nước, một bản lĩnh cá
nhân mạnh mẽ. Những lời bộc bạch chân thành chứng tỏ bà có
khả năng vượt lên cái nhất thời, cái thói thường để đạt tới cái
vững bền theo niềm tin riêng của chính mình. Việc bà đặt quyền
lợi đất nước lên trên quyền lợi cá nhân cũng là biểu hiện của lòng
tự trọng, của một cốt cách văn hóa người Việt lắng sâu tấm lòng
yêu nước.
Vậy thế nào là lòng tự trọng? Lòng tự trọng là ý thức coi trọng giá
trị của bản thân mình. Và sự thật, trong mỗi con người luôn tồn tại
những giá trị sẵn có vì con người là “tinh hoa của tạo hóa”. Việc
coi mình có giá trị, biết giữ gìn danh dự, phẩm cách của mình là

hội. Marden từng nói: “Những gì chúng ta thật sự tin vào bản thân
chúng ta đều đúng”. Vì vậy, lòng tự trọng là nền tảng để trên đó
bạn định hình thái độ sống lạc quan, yêu đời.
Thế nhưng, khi lòng tự trọng lên đến mức quá cao có thể sẽ dẫn
đến tính tự kiêu, tự đắc. Trong cuộc thách đấu giữa “Thỏ và Rùa”,
thất bại thuộc về kẻ say sưa của giá trị của mình. Sự tự cao, tự
đắc sinh ra thói khinh người, ngạo mạn. Tuổi trẻ hiếu thắng, bồn
bột dễ dẫn ta đến thái độ này. Trái lại lòng tự trọng phải luôn đi
kèm với sự khiêm nhường, từ tốn, biết người, biết ta. Còn khi
thiếu lòng tự trọng, con người sẽ cho ta là hèn kém hơn kẻ khác.
Điều này cũng tác hại không kém gì tính tự kiêu, tự đắc. Những
người thiếu tự trọng thì không thể tỏa sáng hết năng lượng vốn có
để có thể làm đẹp cho mình, cho cuộc đời. Khi gặp khó khăn, họ
dễ bi quan, chán nản, vì thế mà sinh ra “cái chết trong tâm hồn”.
Ấy là sự nản lòng.
Thực tế, trong cuộc sống, có nhiều người ý thức được về lòng tự
trọng. Thế nhưng, nếu họ chỉ có ý thức mà không đi kèm với hành
động thì có phải đã biết đến lòng tự trọng? Lòng tự trọng là sự
song hành giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc làm. Đó
mới là bản chất đích thực của lòng tự trọng. Lòng tự trọng đâu chỉ
gói gọn trong vấn đề mỗi cá nhân mà nó còn là vấn đề của một
dân tộc. Một dân tộc có lòng tự trọng sẽ khẳng định được chỗ
đứng của mình trên trường quốc tế, vị thế và tầm vóc của dân tộc
đó cũng được nâng cao lên cùng với thời gian.
Rõ ràng, lòng tự trọng là phẩm chất đầu tiên mà mỗi con người
cần phải có, nó là con đường ngắn nhất đưa ta đến bến bờ của
thành công. Cội người gốc rễ của lòng lạc quan, tình yêu cuộc
sống cũng xuất phát từ đó.
BÀI LÀM THAM KHẢO 2
Đề: Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, nhà văn Lưu

cướp…Hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm nữ sinh…là những hiện
tượng xã hội gây nhức nhối trong thời gian gần đây.
Người có lối sống như vậy là người không đáng tin cậy. Bởi vì bản
thân những người đó đều là những kẻ sống không thành thực, những
người gian dối, cần cảnh giác!
“Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” là một người hoàn thiện, một người có
suy nghĩ và hành động đồng nhất. Trong ngữ cảnh này, một người toàn
vẹn là một người sống thật với bản thân mình, chấp nhận sự thật về
bản thân mình. Sống mà không làm hại đến người khác, sống không
lừa lọc, sống không dối trá, giả tạo, hai mặt.
Mỗi một người khi được sinh ra trong đời đều được tạo hóa ban cho
thể xác và linh hồn riêng. Thể xác và linh hồn là hai phần tuy khác
nhau nhưng hợp nhất với nhau và cùng nhau tồn tại hình thành nên con
người. Vì vậy hãy sống là chính mình, đừng bao giờ lừa dối bản thân
hay người khác, cũng đừng sống chia đôi mình ra để rồi lời nói, hành
động không khớp với nhau. Hãy là một cái tôi toàn vẹn. Không nên
sống nhờ vả vào người khác. Bởi tạo hoá sinh ra chúng ta, cuộc sống
này là của chúng ta, vì vậy phải do chính ta quyết định. Không ai có thể
quyết định nên số phận cho ta, chính chúng ta phải làm nên số phận
của chính bản thân mình. Đúng vậy không bạn ?
Cần làm gì để để thật sự là một con người toàn vẹn, ngay từ khi còn
trên ghế nhà trường, bạn hãy luyện tập thói quen sống có cùng một
suy nghĩ và hành động, phải hài hòa giữa suy nghĩ và hành động. Hãy
sống thành thật với cộng đồng sống phải thành thật với chính bản thân
mình!
Không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người,
câu nói của Lưu Quang Vũ còn muốn góp phần phê phán một số biểu
hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ: Thứ nhất , con người đang có
nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích
hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Thứ hai , lấy cớ tâm

niên có nghĩa cử cao đẹp như Nguyễn Hữu Ân)
- Bình luận: Phê phán những hiện tượng tiêu cực trong lối sống,
trái ngược với lối sống cao đẹp (lãng phí thời gian vào những
trò chơi vô bổ, sống hoài, sống phí)
Kết bài: Bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết.
3. Ghi nhớ:
Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có nội
dung sau:
- Làm rõ hiện tượng (thực trạng hoặc những biểu hiện).
- Phân tích, đánh giá các mặt đúng sai, lợi hại, chỉ ra nguyên
nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã
hội đó.
B. Một số lưu ý
1. Ghi nhớ SGK thể hiện ở các bước phần Thân bài.
2. Nếu đề có các từ chứa khái niệm thì cần phải giải thích. Ví dụ:
bạo lực học đường; bảo vệ môi trường; an toàn giao thông…
3. Các bài NLXH về một hiện tượng đời sống hiện nay thường
nên làm theo các bước như sau:
- Mở bài: Giới thiệu hiện tượng
- Thân bài:
+ Giải thích
+ Nêu hiện trạng
+ Nguyên nhân
+ Hậu quả
+ Giải pháp
- Kết bài: Liên hệ thực tế bản thân hoặc rút ra bài học nhận thức
hành động.
(Ví dụ: Suy nghĩ của em về hiện tượng bạo lực học đường)
4. Trong trường hợp cụ thể ở phần Thân bài, cũng có thể:
+ Không cần giải thích nếu đề không chứa khái niệm trừu tượng,

biệt là những thước phim bạo lực được tung lên mạng) thì thấy bạo
lực không chỉ đơn giản là các nam sinh mà còn là các nữ sinh.
những cảnh đám đá, túm tóc, xé áo, lột quần… một cách vô nhân
tính gây ám ảnh cho người xem về một thế hệ trẻ đang bị hủy hoại
nghiêm trọng về nhân cách. Gần đây nhất ngày 18/1 tại cổng trường
THPT dân lập Đồi Ngô (Lục Nam, Bắc Giang), do mâu thuẫn cá
nhân, nữ sinh Nguyễn Thị Hoa đã dùng dao nhọn đâm hai nữ sinh là
Nguyễn Thị Hiền và Trần Thị Hồng Hà khiến Hà tử vong và Hiền
trong tình trạng nguy kịch. …
- Nguyên nhân:
+ Do ảnh hưởng từ môi trường văn hóa bạo lực (nguyên nhân xã
hội): phim, ảnh, sách báo, game bạo lực, đồ chơi mang tính bạo lực
(kiếm, súng). Những năm gần đây cảnh bạo lực cũng diễn ra khắp
nơi, khắp các lĩnh vực như bạo lực sân cỏ, bạo lực trong kinh doanh,
bạo lực ngoài đường phố…
+ Do sự giáo dục chưa đúng đắn, thiếu quan tâm của gia đình: Học
sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư xử không tốt từ những người trong gia
đình (thường là những người hành nghề tự do trong xã hội có cách
cử xử không đúng chuẩn mực). Những thói quen ứng xử hàng ngày
của họ đã vô tình tạo cho các em có lối cư xử không hay trong nhà
trường và đối với bạn bè. Và khi bạo lực gia đình vẫn tồn tại thì bạo
lực học đường vẫn có nguy cơ gia tăng.
+ Do sự giáo dục trong nhà trường: Còn nặng về dạy kiến thức văn
hóa, chưa chú trọng nhiều đến nhiệm vụ giáo dục con người “tiên
học lễ, hậu học văn”, cũng như việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh.
+ Do chính quyền, các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội…
chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có những giải pháp thiết thực,
đồng bộ, triệt để…
+ Do bản thân học sinh: Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu hụt về

nghiệm nhất ngăn chặt bạo lực học đường.
+ Học sinh cần nghiêm túc kiểm điểm lại bản thân, biết kiềm chế để
không nổi nóng, biết nhận lỗi khi mình sai và biết vị tha khi bạn nhận
ra lỗi lầm. Với học sinh cá biệt, cần có sự quan tâm của gia đình –
nhà trường – xã hội. Nếu tiếp tục vi phạm cần xử lí nghiêm, cho đi
cải tạo, giáo dục nhân cách.
3. KẾT BÀI
Rút ra bài học nhận thức và hành động: Cần tu dưỡng rèn luyện bản
thân, trau dồi kĩ năng sống; Biết tránh xa, lên án, ngăn chặn các
hành động bạo lực, sống nhân ái, vị tha…
Nêu cao khẩu hiệu: Vì một môi trường học đường lành mạnh, học
sinh “HÃY NÓI KHÔNG VỚI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG”.
(Chúng tôi sẽ tiếp tục trở lại vấn đề này với PHẦN III:
DIỄN ĐẠT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI)

HOÀNG THỊ THU HÒA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status