Xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế ở huyện miền núi Đà Bắc –
Hòa Bình
Nghèo đói là vấn đề bức xúc có tính toàn cầu, nó không chỉ diễn ra ở các
nước kinh tế lạc hậu, chậm phát triển mà còn diễn ra ở các nước đang phát triển và
các nước công nghiệp.Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta vẫn đang là vấn đề bức xúc
được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền
vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một
trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.Trong xu thế hội nhập con người là trung tâm của mọi
chiến lược phát triển cảu quốc gia,vì vậy cần phát triển hài hòa,bền vững giữa các
vùng ,không chỉ quan tâm tới phát triển kinh tế mà cong coi xóa đói giảm nghèo là
mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất trong xây dựng nông thôn, đô thị mới,giảm
tỷ lệ phân hóa giàu nghèo giữa các khu vực. Cũng như trong bối cảnh khủng hoảng
kinh tế tài chính, sản xuất đình trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) giảm thì vấn
đề thất nghiệp nghèo đói lại gia tăng nhanh chóng. Đất nước ta chuyển đổi từ nền
kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hoà nhập với nền kinh tế thế giới với
xu hướng toàn cầu hoá. Nền kinh tế thị trường đã đạt được những thành tựu nổi
bật. Sự tăng trưởng kinh tế trong những năm đổi mới, đã cải thiện cơ bản đời sống
của đại đa số nhân dân, song một bộ phận nhân dân do nhiều nguyên nhân khác
nhau vẫn sống mức chuẩn nghèo đói. Với mong muốn có được cái nhìn rõ hơn về
thực trạng nghèo đói một khía cạnh của xóa đói giảm nghèo nên em viết chuyên đề
này.
Là một huyện miền núi nên công tác xóa đói giảm nghèo vẫn luôn được sự
quan tâm để nâng tầm về chất lượng, đi sâu vào cuộc sống. Vì vậy, thời gian qua
công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện không chỉ thực hiện có hiệu quả ở
các xã có điều kiện kinh tế thuận lợi mà hiện nay các xã vùng cao, sâu, đặc biệt
khó khăn cũng được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm để giúp nhân dân có cuộc
sống ấm lo hơn. Để công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai sâu rông, thiết
thực Tỉnh ủy Hòa Bình đã có nghị quyết số 04-NQ/TU về công tác xóa đói, giảm
nghèo, lao động việc làm, đào tạo, dạy nghề và xuất khẩu lao động, tạo cho cuộc
sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh bước chuyển mới. Ngay sau khi có Nghị
15.000 lượt hộ (trong đó đã tổ chức được 138 lớp dạy nghề cho 4.057 học viên
nghèo); kinh phí thực hiện 5.435 triệu đồng. Trong xóa đói, giảm nghèo, tỉnh cũng
đã có những nỗ lực đáng kể trong thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2007-
2011). Giai đoạn này, ngân sách T.Ư đã đầu tư hỗ trợ với tổng kinh phí 517.677
triệu đồng và tỉnh đã đầu tư xây dựng 520 công trình, hỗ trợ trực tiếp giống cây
trồng, vật nuôi và máy móc thiết bị sản xuất, tổ chức 526 lớp đào tạo, bồi dưỡng,
tập huấn, tham quan học tập kinh nghiệm cho 28.118 lượt học viên và chính sách
hỗ trợ, cải thiện các dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân.
Có định hướng đúng và phù hợp với lòng dân, trong những năm qua công tác xóa
đói giảm nghèo đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, MTTQ và toàn
dân trên địa bàn tỉnh thực hiện bằng quyết tâm cao nhất. Do đó, đã đẩy nhanh tốc
độ giảm nghèo của tỉnh từ 31,31% (năm 2006) xuống còn xuống còn 26,09% (năm
2011) tương đương 50.770/194.600 hộ trong toàn tỉnh. Thời gian tới, Hòa Bình sẽ
tiếp tục có các giải pháp nhằm phấn đấu mỗi năm giảm bình quân 3% số hộ nghèo;
huy động sức mạnh tổng hợp nhằm khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém như
công tác giảm nghèo chưa thật bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, số xã có tỷ lệ hộ
nghèo còn ở mức cao (115/210 xã); chưa hỗ trợ nhiều cho các hộ cận nghèo, nội
lực của chính các hộ nghèo chưa được thể hiện hết.
Là một huyện vùng cao của tỉnh Hòa Bình, Đà Bắc có diện tích tự nhiên 836,68
km2; phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam giáp huyện Mai Châu và huyện Tân
Lạc, phía đông giáp thị xã Hòa Bình và huyện Kỳ Sơn. Toàn huyện có 21 xã, thị
trấn; số dân trên 50 vạn người, với 5 dân tộc cùng sinh sống xen cư với nhau, gồm
dân tộc Tày (41,49%), dân tộc Mường (35%), dân tộc Dao (12,44%), dân tộc Kinh
(10%) và dân tộc Thái (0,065%).
1 – Dưới tác động của cơ chế và chính sách mới, nhất là việc thực hiện chính sách
giao đất, giao rừng cho các hộ tự chủ sản xuất, kinh doanh, khuyến khích phát triển
kinh tế hàng hóa đồi rừng theo Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi
trọc (Chương trình 327), Chương trình định canh định cư, Chương trình phát triển
kinh tế – xã hội ở những xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng
bàn.
Đạt được những thành tựu trên là do công tác xóa đói giảm nghèo trong những
năm gần đây luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là vấn đề
bức xúc, có ý nghĩa cơ bản, nhất là ở các vùng nông thôn, các tỉnh trung du, miền
núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa với hệ thống chủ trương, chính sách đúng đắn,
thiết thực. Mặt khác, Đà Bắc đã triển khai nhiều công việc, thực hiện tốt công tác
xoá đói, giảm nghèo ở địa phương:
Một là, từ nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo,
Huyện ủy, ủy ban Nhân dân huyện Đà Bắc coi đây là một trong những chương
trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách, vừa lâu dài. Xuất phát từ đặc điểm của
mình, huyện đã tập trung đầu tư để định canh định cư, phát triển sản xuất, xóa đói
giảm nghèo cho 16/20 xã phải chuyển dân cư ra khỏi lòng hồ thủy điện Hòa Bình
và 16/20 xã đặc biệt khó khăn.
Hai là, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức thực hiện,
các ngành, các đoàn thể cùng vận động đưa công tác xóa đói giảm nghèo ngày
càng đi vào chiều sâu, có nề nếp. Chẳng hạn, Mặt trận Tổ quốc phối hợp với các
ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phân bổ 63 triệu đồng tiền quỹ “Vì người
nghèo” cho các hộ nghèo ở 10 xã (xã Đồng Nghê, xã Suối Nánh, xã Tân Pheo…).
Hội Nông dân Đà Bắc phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp huyện cho nông dân
vay vốn để phát triển sản xuất và chỉ đạo các chi hội ở cơ sở tăng cường hoạt động,
vận động nông dân tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế và thâm canh tăng năng suất
cây trồng vật nuôi. Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn Lao động huyện…
vận động nông dân áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, quyên góp
ủng hộ vật chất, ngày công giúp đỡ các gia đình khó khăn, tích cực tham gia các
phong trào giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chăm lo đời sống, bảo vệ
quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người lao động.
Ba là, các cấp ủy, chính quyền các cấp đã lồng ghép các chương trình phát triển
kinh tế – xã hội với các chương trình dự án, đặc biệt phát huy nguồn lực tại chỗ,
nhờ vậy, đã có tác dụng to lớn nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, góp phần
do họ hoặc không có nhu cầu, không đủ điều kiện vay vốn, hoặc thủ tục vay vốn
rườm rà. Song, điều quan trọng hơn ở Đà Bắc hiện nay là, nhiều người không biết
vay vốn để làm gì: Vay vốn đầu tư cho chăn nuôi trâu bò, lợn gà… không đem lại
lãi, thậm chí lỗ vốn; đầu tư cho trồng trọt lại gặp thời tiết không thuận lợi hoặc sản
xuất ra không bán được nên đồng bào cũng không đầu tư. Thiếu vốn là vấn đề cơ
bản của các dân tộc ở Đà Bắc, đặc biệt là dân tộc Dao, dân tộc Thái, nhưng, vấn đề
không chỉ ở đó mà họ còn thiếu nhận thức, thiếu trình độ. Trình độ văn hoá,
chuyên môn của người dân ở đây rất thấp: 6,6% số cán bộ chủ chốt như bí thư, chủ
tịch xã vẫn ở trình độ tiểu học và 70,3% số cán bộ chủ chốt ở cơ sở vẫn dừng lại ở
trình độ phổ thông cơ sở. Về trình độ chuyên môn, chỉ có 4,4% số cán bộ chủ chốt
có trình độ sơ cấp và trung cấp chuyên môn kỹ thuật, 95,4% cán bộ không có trình
độ chuyên môn. Điều đó khó có thể làm cho người dân đổi mới trong nhận thức,
cách nghĩ, cách làm kinh tế, nên sự bảo thủ, trông chờ, ỷ lại cấp trên là tình trạng
phổ biến.
Thứ ba, điểm xuất phát kinh tế của đồng bào Đà Bắc còn đang ở mức rất thấp.
Nguồn thu chủ yếu của họ là lâm thổ sản, sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu dựa
vào tự nhiên. Năm 2003, mức thu nhập bình quân đầu người hằng tháng chỉ đạt
khoảng 150 000 đồng. Do vậy, người dân không thể có điều kiện tái sản xuất mở
rộng. Bên cạnh đó, phong tục tập quán của đồng bào còn rất lạc hậu, có nhiều gia
đình đông con.
Thứ tư, kết cấu hạ tầng yếu kém, không ít nơi trong huyện điện lưới chưa về tới
bản làng. Toàn huyện mới chỉ có 6/20 xã có điện thoại đến trung tâm xã, 60% số
hộ có phương tiện nghe nhìn. Mạng giao thông rất mỏng, chất lượng thấp, chủ yếu
là các đường mòn và đường đất, còn có nơi chưa có đường ô-tô đến trung tâm xã.
Điển hình như xã Đồng Nghê, đường đất đá đi qua nhiều ngầm, dốc quanh co hiểm
trở đang là những trở ngại lớn trong giao lưu buôn bán hàng hóa và đi lại của đồng
bào.
3 – Tuy nhiên Đà Bắc có vị trí địa lý thuận lợi, trung tâm huyện chỉ cách thị xã
Hòa Bình 15 km. Đà Bắc còn là vùng có những tài nguyên với tiềm năng khai thác
quy mô lớn như 6 000 000 ha diện tích mặt nước hồ thủy điện Hòa Bình có thể
nghiệp và công nghiệp chế biến; tỉnh và huyện cần đầu tư vốn hoặc cho vay dài
hạn với lãi suất thấp cho các chủ hộ sản xuất kinh doanh giỏi.
* TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Phạm Minh Sơn (2003): Ban QL DA 135 Đà Bắc, Báo cáo tiến độ thực hiện
Chương trình 135, Chương trình định canh định cư ngày 20-11-2003
(2) Huyện ủy Đà Bắc (11-2003): Các số liệu được rút từ Báo cáo thực trạng công
tác tổ chức cán bộ trong hệ thống chính trị cấp xã nhiệm kỳ 2000 – 2005
(3) Ban QL DA 135 Đà Bắc (11-2003): Báo cáo tiến độ thực hiện Chương trình
135 ngày 20-11-2003, số 62 BC/DA 135
Nguồn: Tạp chí cộng sản số 60-2004
HBĐT) - Là huyện nghèo của tỉnh, Đà Bắc nằm trong Chương trình 30a của
Chính phủ. Cả huyện có 10 xã vùng đặc biệt khó khăn. Trong những năm
qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm triển khai nhiều chương trình, dự án
giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho bà con đồng bào dân tộc
trong huyện.
Ông Xa Hữu Ban, Trưởng phòng Dân tộc huyện Đà Bắc cho biết: Những năm lại
đây, đời sống của bà con đồng bào dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn nói riêng và
cả huyện Đà Bắc nói chung đã thay đổi nhiều. Trước đây, cán bộ đến các xã, xóm
phải đi vài ngày mới về. Đến giờ có thể đi, về trong ngày. Hầu hết các tuyến đường
liên xã đã được trải nhựa hoặc trải cấp phối. 200/1.000 km đường giao thông nông
thôn đã được bê tông hoá tạo điều kiện thuận lợi giao lưu hàng hoá phát triển KT-
XH. Trong công tác xoáđói - giảm nghèo, các cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ
sở đã làm tốt công tác tuyên truyền về những chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nhờ đó đã làm thay đổi nhận thức của người dân. Tất cả
các chương trình, dự án như: Chương trình 134, 135, 167, 747 đã đầu tư hàng
trăm tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện giúp đỡ về tư liệu sản xuất,
nhờ đó, đến nay đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện cơ bản đã
ổn định. Hiện, toàn huyện còn 42,53% hộ nghèo, mỗi năm trung bình có 3% số hộ
thoát nghèo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 14%, cơ cấu kinh tế có sự
chủ cơ sở, sự tham gia của người dân trong lập và thực hiện kế hoạch, nhất là ở cấp
xã; đảm bảo kế hoạch có tầm nhìn dài hạn, có mục tiêu ưu tiên, có sự đồng thuận
của nhân dân; ban hành cơ chế lồng ghép các hoạt động đầu tư, các chương trình,
dự án vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo kế hoạch trở thành công cụ
chỉ đạo, điều hành có hiệu quả của chính quyền các cấp và là công cụ để người dân
tham gia quản lý nhà nước và quyết định các vấn đề của địa phương.
Tăng cường phân cấp ngân sách, nhất là phân cấp về đầu tư cho chính quyền cơ
sở, đảm bảo cấp xã có đủ vốn đầu tư thực hiện các công trình quy mô nhỏ phục vụ
thiết thực nhu cầu của người dân. Xây dựng tiêu chí để phân bổ ngân sách đầu tư cho
chính quyền cấp xã (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính thực hiện).
Phổ cập dịch vụ viễn thông và internet đến người dân (bao gồm cả việc phát
triển internet cho cộng đồng nông thôn, nâng cao năng lực sử dụng máy tính và
truy cập internet cho người dân); xây dựng hạ tầng viễn thông băng thông rộng đến
xã; xây dựng các kênh truyền hình chuyên biệt; nâng cao hiệu quả hoạt động của
các điểm bưu điện văn hóa xã (giao Sở Thông tin Truyền thông chủ trì thực hiện).
Xây dựng, thực hiện đề án đầu tư, hỗ trợ 36 thôn, bản khó khăn nhất của tỉnh
Hòa Bình (xây dựng cơ sở hạ tầng; hỗ trợ phát triển sản xuất; hỗ trợ sự nghiệp văn
hóa xã hội) (giao Ban Dân tộc triển khai thực hiện).
Thành lập Qũy hỗ trợ việc làm của tỉnh (giao Sở Lao động Thương binh Xã
hội thực hiện).
Xây dựng, lồng ghép, triển khai chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho các đối
tượng đặc thù như lao động nông thôn được hưởng chính sách ưu đãi người có công
với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất
canh tác, (giao Sở Lao động Thương binh Xã hội chủ trì thực hiện).
Làm điểm và nhân rộng các mô hình giảm nghèo bền vững cho các huyện,
trước mắt đảm bảo mỗi huyện có một mô hình (giao Sở Lao động Thương binh Xã
hội chủ trì thực hiện).
Rà soát, điều chỉnh Đề án Phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông
Đà theo hướng chiến lược, lâu dài để đầu tư dứt điểm vào năm 2020 (Đề án 1588)
(Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện).