Đề án môn học
MỞ ĐẦU
Xoá đói giảm nghèo và nâng cao dân trí là bài toán khó mà bất kì quốc
gia đang phát triển nào cũng phải đối mặt. Hậu quả do đói nghèo và dân trí
thấp gây ra cho sự phát triển chung của một vùng cũng như một quốc gia là
vô cùng nặng nề. Sự bất ổn về kinh tế sẽ dẫn đến sự bất ổn về chính trị, đó là
điều mà bất kì nhà quản lý vĩ mô nào cũng hiểu được.Nhưng những nhà quản
lý Việt Nam vẫn đang rất lúng túng trong việc giải quyết bài toán khó, mà
biểu hiện cụ thể của nó là: khoảng cách giàu nghèo của việt nam ngày càng
tăng, tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra…Đừng đổ lỗi cho răng sự bất bình đẳng
là sự trả giá cho sự tăng trưởng, đừng dựa vào mô hình “chữ U ngược “ của
Kuznes để biện minh. Nếu chúng ta, những nhà quản lý không vô trách
nhiệm , sử dụng lãng phí những đồng vốn vào những dự án mía đường, dự án
nuôi bò sữa…hay để thất thoát, tham nhũng, chi tiêu sai mục đích hàng ngàn
tỷ đồng thì mọi sự có thể sẽ khác đi. Quản lý với đầy đủ những chức năng của
nó, thêm vào đó là những chính sách đúng đắn và sự quan tâm của toàn xã hội
sẽ là lời giải hay cho bài toán khó xoá đói giảm nghèo.
Xoá đói giảm nghèo là vấn đề trước mắt, nâng cao dân trí là vấn đề lâu
dài, song hai vấn đề này cần phải được giải quyết song song, tuy không phải
là trong một sớm một chiều, nhưng những nhà quản lý cần phải nhanh chóng
tìm lời giải, tháo dỡ sợi dây níu giữ sự bứt phá trên con đường phát triển của
Việt Nam. Đề án này đề cập đến vấn đề: Quản lý với bài toán xoá đói giảm
nghèo và nâng cao dân trí khu vực miền núi phía Bắc với mong muốn cung
cấp một lời giải cho bài toán khó này.
Thân Văn Khoa - QLKT 46A
1
Phần I: Cơ sở lý luận
I. Khái niệm về quản lý:
1. Quản lý và các dạng quản lý
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể
hiểu: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
thay đổi của đối tượng quản lý cũng như môi trườngcả về quy mô và
mức độ phức tạp, chủ thể quản lý không chịu bó tay mà vẫn có thể
tiếp tục quản lý có hiệu quả thông qua việc điều chỉnh, đổi mới cơ
cấu, phương pháp, công cụ và hoạt động của mình.
Với những đặc điểm trên có thể khẳng định rằngquản lý là một tiến
trình năng dộng.
2. Quản lý nhà nước về kinh tế:
1. Khái niệm:
Quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ
chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội
có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong
điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Quản lý kinh tế là nội dung
cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động
quản lý khác của xã hội. Quản lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua
các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của nhà nước.
Như đã phân tích ở trên, việc khắc phục những nhược điểm, hạn chế
khuyết tật của cơ chế thị trường, để tạo điều kiện thuân lợi cho cơ chế này
hoạt động có hiệu quả, không thể không có nhà nước với tư cách là chủ thể
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Như vậy, nhà nươc thực hiện chức năng
quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan , nội tại và nền kinh tế vận động theo
cơ chế thị trường; còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động
kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục
Thân Văn Khoa - QLKT 46A
3
tiêu nào lại lệ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước và con đường
phát triển mà nước đó lựa chọn.
2. Các kết luận cần lưu ý:
Từ định nghĩa đã nêu có thể rút ra các kết luận cơ bản sau:
- Thực chất của quản lý nhà nước về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng
hưởng văn hóa thuộc phạm trù đời sống tinh thần. Quan niệm về nghèo thì có
thể có nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tất nhiên dù ở dạng nào thì nghèo
vẫn có quan hệ mật thiết với đói. Nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là
một tình trạng hiển nhiên của nghèo. Sự nghèo vànghèo khổ kéo dài, nếu
không ra khỏi cái vòng của sự trì trệ, túng thiếu thì chỉ cần xảy ranhữngbiến
cố đột xuất của hoàn cảnh (thiên tai, đau ốm , bệnh tật, rủi ro…) là con người
ta dễ dàng rơi vào cảnh đói ( đói khổ , đói rách). Ở đây, chúng ta xem xét hiện
tượng đói nghèo ở góc độ đời sống vật chất, góc độ kinh tế, tức là tính vật
chất của nó. Chủ thể xem xét ở đây là con người, từng cá thể cũng như
trongpham vi xã hội, tức là cộng đồng dân cư xác định, quy mô lớn, nhỏ,
rộng, hẹp khác nhau. Vì thế, với những cách tiếp cân khác nhau, chúng ta có
thể hướng mục tiêu nghiên cứu vào người nghèo, hộ nghèo, vùng dân cư
nghèo, nước nghèo và khu vực nghèo.
Các hội nghị bàn về giảm nghèođói trong khu vực châu Á- Thái bình
Dương do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc tháng 9.1993 đã đưa ra khái niệm và
định nghĩa về nghèo đói như sau : “Nghèo đói là tình trạng một bộ phân dân
cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã
đựoc xã hội thừa nhận tùy theo tình trạng phát triển kinh tế, xã hội và phong
tục tập quán của các địa phương”.
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, một định nghĩa
có tính chất hướng dẫnvề phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ
biến về nghèo đói. Các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn để ngỏ về mặt
lượng hóa ( định lượng) , bởi nó chưa tính đến sự khác biệt và độ chênh lệch
giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi
nơi. Quan niệm hạt nhân có trong định nghĩa này là ở nhu cầu cơ bản của con
Thân Văn Khoa - QLKT 46A
5
người. Căn cứ xác định đói hay nghèo là ở chỗ đối với những nhu cầu cơ bản
ấy, con người không được hưởng và thỏa mãn. Nhu cầu cơ bản nói ở đây
chính là cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn,
như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như
không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc , văn
hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi, không đáng
kể.
Cần phân biệt hai dạng nghèo : nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạngmột bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn
các nhu cầu tối thiểu để duy trì sự sống. Trên thưc té, một bộ phận dân cư
nghèo tuyệt đổi rơi vào tình trạng đói và thiếu đói. Nghèo tương đối là tình
trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng
đồng tại địa phương. Quan niệm này phù hợp với sự xác định khái niệm
nghèo khổ, hiểu theo hai nghĩa tuyệt đối và tương đối do ủy ban kinh tế, xã
hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương đưa ra gần đây.
2. Phương pháp đánh giá nghèo khổ:
Theo quan điểm tiếp cận của WB , thì phạm vi của sự nghèo khổ ngày
càng mở rộng. Nghèo khổ thường gắn với sự thiếu thốn trong tiêu dùng.
Nhưng từ giữa năm 1970 và những năm 1980 , nghèo khổ được tiếp cận theo
nhu cầu cơ bản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực. Từ giữa những
năm 1980 đến nay tiếp cận theo năng lực và cơ hội, gồm: tiêu dùng , dịch vụ
xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương. Từ cách tiếp cận trên, khi đánh
giá tình trạng nghèo khổ không chỉ dựa theo tiêu chí thu nhập mà còn gồm cả
những tiêu chí không gắn với thu nhập
Tuy nhiên ở các nước đang phát triển, việc phân tích và đánh giá nghèo
khổ chủ yếu dựa trên tiêu chí thu nhập ( hay chi tiêu) . Phương pháp này cho
phép so sánh tình trạng nghèo khổ giữa các nước, các vùng khác nhau theo
thời gian nhằm cung cấp thông tin cho các chính sách công và đánh giá được
mức độ thành công của chính sách đó. Nhưng làm thế nào để biểu thị “ nghèo
khổ” bằng một con số có ý nghĩa? Các nhà kinh tế đã dựa trên khái niệm”
Thân Văn Khoa - QLKT 46A
7
nghèo khổ tuyệt đối” . Khái niệm này nhằm biểu thị một mức thu nhập tối
cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hóa phi lương thực.
Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2100
calo/ngày gọi là “nghèo về lương thực, thực phẩm”.
- Phương pháp của Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèo đói
như sau:
+ Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người
( phương pháp của tổng cục thống kê).
Phương pháp này xác định hai ngưỡng nghèo.
* Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua được một số lương
thực hằng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. Như vậy phương pháp này
tương tự như phương pháp của WB.
*Ngưỡng nghèo thứ hai, thường được gọi là “ ngưỡng nghèo chung”,
ngưỡng này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực.
Ngưỡng nghèo Việt Nam đựoc tính toán từ cuộc điều tra mức sống dân
cư năm 1998 như sau: Ngưỡng nghèo về lương thực thực phẩm: 1 287 000
đ/người/ năm. Ngưỡng nghèo chung: 1 788 000 đ/ người/ năm.
+ Phương pháp dựa trên thu nhập hộ gia đình( Phương pháp của Bộ
Lao Động và Thương Binh Xã Hội) . Phương pháp này hiện đang được sử
dụng để xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc
gia ( chuẩn nghèo quốc gia).
Chuẩn nghèo áp dụng cho thời kì 2001-2005 được xác định dựa trên
thu nhập theo 3 vùng. Cụ thể là:
* Vùng hải đảo và vùng núi nông thôn: bình quân thu nhập là 80 000/
người/ tháng.
*Vùng đồng bằng nông thôn; 100 000đ/ người/ tháng.
*Khu vực thành thị là 150 000 đ/ người/ tháng.
Người được coi là nghèo khổ về thu nhập là những người mà thu nhập
của họ nằm bên dưới các “giới hạn’ đã được quy định nói trên.
Thân Văn Khoa - QLKT 46A
10
Đề án môn học
chính sách hỗ trợ , phát triển cho người nghèo bằng cách tạo việc làm và tăng
thu nhập thực tế cho họ, tạo cho họ cơ hội và trợ giúp các điều kiện để tự
mình thoát khỏi đói nghèo. Đay là phương thức cơ bản , lâu dài vì không thể
giải quyết đói nghèo trên quy mô xã hội và cộng đồng dân cư chỉ bằng cách
tự cứu, cứu tế đơn thuần. Cũng không thể giản đơn cắt bớt thu nhập của người
giàu để phân phối cho người nghèo. Biện pháp này có tính chất thụ động gây
hiệu quả tiêu cực , tạo thêm tâm lý chờ đợi ỷ lại và đòi hỏi Nhà nước giải
quyết ở những người nghèo và làm suy giảm nhân tố kích thích đối với lao
động, làm triệt tiêu động lực phát triển của sản xuất , của hoạt động kinh tế.
Lẽ dĩ nhiên điều tiết xã hội qua thu nhập, phân phối để khắc phục những sự
phân hóa giàu nghèo bằng những chính sách hợp lý ( thuế thu nhập đối với
những người có thu nhập cao ), tăng quỹ phúc lợi xã hội là cần thiết và được
coi trọng vì mục đích công bằng xã hội.
Kinh nghiệm nêu trên được rút ra từ sự tổng kết thực tiễn việc áp dụng
hàng loạt các chính sách trong khu vực. Ở đó đã đưa ra các chính sách kinh tế
để thúc đẩy phát triển và ổn định kinh tế , cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu và
dịch vụ xã hội để hỗ trợ phát triển. Nó phải hạn chế những điều tiết không
cần thiết hoặc qua smức gây trở ngại cho sự phát triển, đặc biệt là các doanh
nghiệp, khu vực phi kết cấu. Khu vực này ( phi kết cấu ) chính là cầu nối giữa
đói nghèo và dòng chảy chính của nền kinh tế , là địa bàn chính cho sự hoạt
động của số đông người để tạo ra thu nhập vượt khỏi đường biên nghèo khổ.
Đồng thời trong những tình huống đột xuất, Nhà nước vẫn áp dụng những can
thiệp tức thời khi cần giải quyết nạn đói , các thảm họa xảy ra ở một khu vực
nào đó.
Kinh nghiệm cho thấy , nhà nước không nên can thiệp trược tiếp tới hộ
nghèo, mà chỉ thông qua các chính sách để hỗ trợ phát triển cho người nghèo.
Kinh nghiệm của các nước Đông nam Á : tăng trưởng kinh tế là cần
thiết song không thể chỉ dựa hoàn toàn vào tăng trưởng kinh tế để xóa đói
hai tiền đề vô cùng cần thiết để những chính sách, đường lối của nhà nước
phát huy hiệu quả tối đa trong việc giúp đỡ người nghèo thoát nghèo.
12
Đề án môn học
Phần II: Lời giải cho bài toán
xóa đói giảm nghèo
I. Nguyên nhân của đói nghèo:
Nghèo khổ hay đói nghèo là một hiện tượng kinh tế , xã hội, vừa là vấn
đề của lịch sử để lại, vừa là vấn đề của phát triển, thường có trong quá trình
phát triển, mà quốc gia nào cũng vấp phải. Nó đụng chạm trực tiếp tới cuộc
sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng. Mỗi quốc gia ở các
mức độ khác nhau đều phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để vượt qua
những trở ngại cho sự phát triển phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới
công bằng xã hội. Tất nhiên, các chế độ xã hội khác nhau thì mục đích và mức
độ quan tâm cũng khác nhau. Song đây đang là vấn đề toàn cầu nên nó cũng
thu hút sự quan tâm, phối hợp cac snỗ lực giải quyết của cộng đồng quốc tế.
Để chống lại đói nghèo, giản bớt sự nghèo khổ, cần phải xác định đúng
những nguyên nhân dẫn tới đói nghèo.
Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của
đói nghèo. Trên thực tế không có một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ dẫn tới
đói nghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó cũng
không phải là nguyên nhân thuần túy về kinh tế hoặc do thiện tai, địch họa. Ở
đây nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen, thâm nhập vào
nhau cả cái tất yếu lẫn ngẫu nhiên, cả cái cơ bản và tức thời ( đột xuất ) , cả
nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan, tự
nhiên lẫn kinh tế- xã hội.
Vì vậy phải giải thích hiện tượng này theo một hệ thống các nguyên
nhân, nhận diện các nhóm nguyên nhân có tính phổ biến và đặc thù khác
nhau. Cũng cần thấy sự khác biệt, tính trội theo các vùng, các nhóm dân cư,
khu vực khi chịu tác động tác động của những nguyên nhân đó . Có ý kiến
thuyết phục.
14
Đề án môn học
Cũng theo phươnmg pháp này, có thể nhận diện một cách cụ thể hơn
thành năm nhóm nguyên nhân sau:
*Nhóm 1: Những nguyên nhân chủ quan
Là những nguyên nhân do bản thân người lao động , phổ biến là:
- Không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản xuất , kinh doanh
- Thiếu hoặc không có vốn.
- đông con, ít lao động.
- Neo đơn, thiếu lao động.
- Rủi ro, đau ốm.
- Ăn tiêu lãng phí, lại lười biếng…
*Nhóm 2: Những nguyên nhân khách quan
Ở đây có nguyên nhân khách quan về mặt tự nhiên và nguyên nhân
khách quan về mặt xã hội:
Những nguyên nhân khách quan về mặt điều kiện tự nhiên như:
- Đất canh tác ít.
- Đất cằn cỗi , ít màu mỡ, canh tác khó, năng suất cây trồng và vật nuôi
đều thấp.
- Thời tiết, khí hậu không thuận lợi cho sản xuất.
- Xa xôi, hẻo lánh.
- Không có đường giao thông…
Những nguyên nhân khách quan về mặt xã hội như sự quan tâm xã hội
(của chính quyền địa phương và trung ương). Nhóm này có ảnh hưởng khá
mạnh tới tình trạng đói nghèo của nhân dân cả nước và địa phương. Chẳng
hạn như:
- Nhà nước ( trung ương- địa phương ) chưa có biện pháp xây dựng các
cơ sở hạ tầng tối thiểu: giao thông, thủy lợi, điện…
- Chưa có biện pháp hành chính và giáo dục thích đáng để hạn chế xóa