Lời nói đầu
Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng đã trở thành một nhân tố chủ yếu trong chính
sách kinh tế của nhiều quốc gia.
Gần đây, do khoa học kỹ thuật phát triển vì vậy mà chu trình sản xuất đã được rút
ngắn, chất lượng sản phẩm được nâng cao, mặt khác thu nhập quốc dân ngày càng tăng kéo
theo nhu cầu của người tiêu dùng luôn luôn thay đổi, họ đòi hỏi hàng hoá phải có chất
lượng phù hợp. Chính vì vậy mà cuộc cạnh tranh về chất lượng sẽ thay thế cuộc cạnh tranh
giá cả. Xu hướng này diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới và không ngoại trừ các doanh
nghiệp ở Việt nam.
Công ty Cổ Phần Cơ Giới Xây Lăp là một Công ty đầu tư xây dựng hoạt động trong cơ
chế thị trường tự do cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển tất yếu phải cạnh tranh. Nhận thức
được vấn đề đó ban lãnh đạo Công ty đã và đang nghiên cứu triển khai áp dụng hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000 nhằm mục đích nâng cao chất lượng công trình, vị thế
của doanh nghiệp trên thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời góp
phần vào sự phát triển của đất nước.
Xuất phát từ lợi Ých của việc áp dụng bộ ISO và yêu cầu thực tế của Công ty,và qua
sự hướng dẫn của thầy giáo Trương Đoàn Thể tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu triển khai áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại Công ty Cổ Phần Thi Công Cơ
Giới Xây Lăp ”. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty bao gồm nhiều mặt như: tài
chính, chất lượng và quản lý chất lượng, nhân sự, kỹ thuật, đầu tư… nhưng trong luận văn
này chỉ chú trọng nghiên cứu mảng chất lượng và quản lý chất lượng của Công ty. ở đây
vấn đề được đặt ra và xem xét quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời kỳ 5
năm trở lại đây (kể từ năm 2002-2006).
Trong báo cáo đã sử dụng một số phương pháp phân tích thống kê mô tả,phương pháp
duy vật biện chứng, phân tích định tính, định lượng, sử dụng các bảng biểu, sơ đồ và biểu
đồ thông qua phân tích các tài liệu thực tế của Công ty, đồng thời kết hợp với phương pháp
quan sát trực quan để thu thập dữ liệu, để phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình
1
quản trị chất lượng của Công ty Cổ Phần Thi Công Cơ Giới Xây Lăp. Qua đây, tôi xin
mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhằm mục đích góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của Công
ty.
triển khai thực hiện. Mặt khác để thuận tiện cho việc theo dõi các chương sau, chương này
có trình bày một số nguyên tắc thiết kế hệ thống và các bước của việc thiết kế hệ thống
quản lý chất lượng theo TCVN 9001:2000 trong ngành xây dựng.
I. Những vấn đề chung về chất lượng.
1. Chất lượng và khái niệm về chất lượng
“Chất lượng” là một danh từ được thường xuyên nhắc đến trong đời sống và trong kinh
doanh. Nhưng thực chất chất lượng là gì được rất nhiều tổ chức quan niệm khác nhau.
Hiện nay, với các cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra khái niệm khác nhau về chất
lượng sản phẩm. Mỗi khái niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau
nhưng đều có những đóng góp nhất định thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không
ngừng phát triển và hoàn thiện.
Chất lượng của sản phẩm hàng hoá chỉ thấy được thông qua quá trình sử dụng và ở
trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau
thì việc đánh gía chất lượng sản phẩm đó cũng khác nhau. Để thấy được điều đó ta có thể
tham khảo một số quan niệm khác nhau của một số chuyên gia hàng đầu về chất lượng nh
sau:
Theo K.Ishikawa – giáo sư người Nhật cho rằng: “quản lý chất lượng sản phẩm có
nghĩa là nghiên cứu - thiết kế – triển khai sản xuất và bảo dưỡng một sản phẩm có chất
lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có Ých nhất và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của
người tiêu dùng”.
3
Một khái niệm được coi là đầy đủ và được chấp nhận nhiều hơn cả là khái niệm của tổ
chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO):
“Chất lượng là một tập hợp những tính chất và những đặc trưng của sản phẩm và dịch
vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm Èn của khách hàng”
Theo quan điểm của ISO, họ nhấn mạnh đến việc thỏa mãn nhu cầu. Theo quan điểm
này thì không những chỉ quan tâm đến nhu cầu bộc lộ mà mặt khác họ còn quan tâm đáp
ứng nhu cầu tiềm Èn của khách hàng. Xác định được nhu cầu tiềm Èn của khách hàng và
đáp ứng được những nhu cầu đó sẽ tạo ra sù thu hút và làm thỏa mãn vượt quá mong đợi
của khách hàng, từ đó tạo ra được lợi thế trong kinh doanh.
trình cũng từng bước được nâng cao.
2.2. ảnh hưởng của chất lượng chung.
Chất lượng sản phẩm hàng hoá bị tác động bởi một số các yếu tố. Các yếu tố này có
thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng của sản phẩm. Một sản phẩm có chất
lượng là những sản phẩm khắc phục một cách tốt nhất các ảnh hưởng đó.
- Yếu tố về thị trường: Đặc điểm của nhu cầu là luôn thay đổi, vận động theo xu hướng
đi lên, vì vậy chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ cũng phụ thuộc vào đó. Thị trường sẽ
quyết định mức chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp cung cấp. Bên
cạnh đó, thị trường cũng giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn, nắm vững hơn các nhu cầu đòi
hỏi của khách hàng để từ đó đáp ứng ngày càng hoàn chỉnh hơn.
- Yếu tố về trình độ khoa học công nghệ:
Với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng lớn mạnh sẽ tạo ra được lực đẩy
giúp cho doanh nghiệp có thể cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ
của mình. Đó là những việc tạo ra những sản phẩm mới, NVL mới có khả năng thay thế làm
giảm giá thành của các sản phẩm hoặc việc tạo ra những sản phẩm mới có tính năng sử
dụng mới hay hơn, hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng.
- Cơ chế và chính sách quản lý: Môi trường, thể chế, các chính sách về đầu tư, cơ chế
chính sách hay môi trường pháp luật cho các hoạt động chất lượng có tác động rất lớn, nó
có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch
vụ của mỗi đơn vị, kích thích và thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị,
phong cách quản lý nhằm tạo ra những sản phẩm tốt hơn đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng, không những trong hiện tại mà cả trong tương lai.
Cơ chế và chính sách quản lý cũng đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh bắt
buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ của mình và
thông qua đó tạo ra một cơ chế bảo vệ lợi Ých của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
- Yếu tố con người: Yếu tố này sẽ quyết định đến chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch
vụ một cách trực tiếp. Đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mà mỗi doanh
nghiệp cần phải có. Chỉ có những con người có chất lượng mới có thể tạo ra nhiều sản
phẩm hàng hóa có chất lượng.
- Yếu tố nguyên vật liệu (NVL): Là một trong những yếu tố tham gia vào việc cấu
Tay nghề LĐ
Giám sát
Cảnh quan
xung quanh
Thời tiết
Tính thống nhất
Chứng nhận
Kiến trúc
Trình độ LĐ
HTQLCL
Văn hoá
Tính tiện lợi
Conng:ời
Sơ đồ trên cho thấy có 5 nhóm yếu tố tác động đến chất lượng công trình xây dựng:
Thiết kế: Việc thiết kế một công trình xây dựng phải bảo đảm thoã mãn Ýt nhất ba yếu
tố: Tính tiện lợi, trình độ lao động và kiến trúc. Việc thiết kế một công trình đòi hỏi phải
đáp ứng một cách tốt nhất về mục đích sử dụng. Mặt khác, việc thiết kế công trình đòi hỏi
phải phù hợp với trình độ của đội ngũ công nhân lao động, không được vượt quá trình độ
của công nhân sẽ thi công công trình đó. Hơn nữa, việc thiết kế phải đảm bảo được về mặt
kiến trúc, văn hoá, tính thẩm mỹ và yêu cầu kỹ thuật.
- Thi công: Chất lượng của công trình phụ thuộc vào quá trình thi công. Cụ thể nó bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố: Nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, kỹ thuật thi công và tay nghề
lao động. Trong suốt quá trình thi công, chất lượng lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào 4
yếu tố này. Không thể xây dựng được một công trình mà chỉ cần một trong bốn yếu tố này
không được đảm bảo.
- Giám sát: Công trình xây dựng là loại sản phẩm mà khó có thể sửa lại được khi bị sai
hỏng. Mặt khác việc sai hỏng thường gây hậu quả rất nghiêm trọng. Do đó, giám sát là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
- Môi trường: là yếu tố tác động nhiều đến chất lượng công trình, sự tác động của thời
tiết, của nền văn hoá, phong tục tập quán.
cứu về lĩnh vực quản lý hơn cả:
Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác
định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện
pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến
chất lượng trọng khuôn khổ hệ chất lượng
1
.
Định nghĩa này khác nhiều so với định nghĩa nêu trong ISO 8402:1980. Trong định
nghĩa này nhấn mạnh tới tính hệ thống. ở đây chất lượng được xác định thông qua các biện
pháp nh lập kế hoạch, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng.
2.Chức năng của quản lý chất lượng.
2.1. Chức năng hoạch định.
- Hoạch định là chức năng quan trọng nhất và khâu mở đầu của quản lý chất lượng.
Hoạch định chính xác là cơ sở giúp cho doanh nghiệp định hướng tốt các hoạt động tiếp
theo. Đây là cơ sở làm giảm đi các hoạt động điều chỉnh.
- Hoạch định chất lượng làm cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hơn nhờ
việc khai thác các nguồn lực một cách có hiệu qủa, giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn
trong việc đưa ra các biện pháp cải tiến chất lượng.
1
8
- Hoạch định chất lượng bắt đầu xác định được một cách rõ ràng và chính xác các mục
tiêu của của doanh nghiệp nói chung và chất lượng nói riêng. Để phục vụ chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
2.2. Chức năng tổ chức thực hiện.
- Tổ chức thực hiện là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động tác nghiệp bằng các
phương tiện kỹ thuật, các phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng theo đúng theo yêu
cầu đặt ra.
- Giúp cho từng người, từng bộ phận nhận thức được mục tiêu của mình một cách rõ
ràng và đầy đủ.
- Phân giao nhiệm vụ cho từng người, từng bộ phận một cách cụ thể và khoa học, tạo
Trong ngành xây dựng thì thiết kế là khâu quan trọng hàng đầu. Không thể thi công
được một công trình theo một bản thiết kế tồi hay sai lỗi. Thiết kế sai không những tạo ra
công trình kém chất lượng mà có thể không thi công được nếu thiết kế thiếu chính xác. Vì
vậy, quản lý chất lượng trong thiết kế công trình phải được thực hiện một cách chặt chẽ.
Trong giai đoạn này phải tổ chức được một nhóm công tác, thực hiện công tác thiết kế
và những bộ phận có liên quan. Đây là giai đoạn sáng tạo ra những sản phẩm mới với đầy
đủ những chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật. Do đó, cần đưa ra nhiều phương án sau đó lựa chọn
phương án tốt nhất mà phản ánh được nhiều đặc điểm quan trọng của sản phẩm. Nh thoả
mãn nhu cầu, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, đặc điểm mang tính cạnh tranh, chi
phí sản xuất, tiêu dùng hợp lý.
Đưa ra các phương án và phân tích về mặt thiết kế các đặc điểm của sản phẩm thiết kế.
Đó chính là việc so sánh lợi Ých thu được từ mỗi đặc điểm của sản phẩm với chi phí bỏ ra.
Những chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá trong qúa trình thiết kế là trình độ chất lượng. Chỉ tiêu
tổng hợp về tài liệu thiết kế công nghệ, chất lượng công việc chế tạo thử sản phẩm. Chỉ tiêu
hệ số khuyết tật và chất lượng của các biện pháp điều chỉnh cũng nh hệ số chất lượng của
thiết bị để chuẩn bị cho việc sản xuất hàng loạt.
3.2. Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu trong ngành xây dựng chủ yếu là các loại: đá, cát sổi, xi măng, sắt
thép, gỗ, sơn bả…
Để thi công được một công trình đúng chất lượng và đúng thời hạn thi công theo kế
hoạch thì yêu cầu khâu cung ứng nguyên vật liệu phải đáp ứng được năm yêu cầu cơ bản
về: Thời gian, địa điểm, số lượng, chất lượng, đúng chủng loại.
Vì vậy mà quản lý chất lượng trong giai đoạn này cần:
- Lựa chọn nhà cung ứng phù hợp để đảm bảo tính ổn định cao của đầu vào trong quá
trình sản xuất. Đây chính là việc lựa chọn một số Ýt trong các nhà cung ứng để xây dựng
mối quan hệ ổn định, tin tưởng, lâu dài và thường xuyên.
Trong phân hệ cung ứng thì số lần cung ứng nguyên vật liệu không đúng thời hạn, tỉ lệ
nguyên vật liệu không đúng tiêu chuẩn và tổng chi phí cho việc kiểm tra quá trình cung ứng
10
là các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của nhà cung ứng. Vì vậy để đảm bảo tính thống nhất
lượng nh: thực hiện chống Èm mốc, hướng dẫn cách sử dụng công trình đúng tiêu chuẩn.
Kiểm tra công trình định kỳ từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục sửa chữa nếu có.
11
Quản lý chất lượng trong quá trình bàn giao và sử dụng công trình tốt sẽ nâng cao uy
tín, danh tiếng cho Công ty từ đó có thể biến nguy cơ thành cơ hội kinh doanh.
III. Hệ thống quản lý chất lượng.
1. Khái niệm.
Theo ISO 9000:2000: Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thống quản lý để định hướng
và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.
Để so sánh đươc với sự khác biệt của hai khái niệm này với nhau trước hết chúng ta
cần hiểu hệ thống là gì. Hệ thống được hiểu là tập hợp các yếu tố có liên quan lẫn nhau hay
tương tác lẫn nhau.
Từ đó ta thấy các khái niệm, thuật ngữ của tiêu chuẩn cũ thường rõ ràng, dễ hiểu, cụ
thể nhưng hơi dài, khó nhớ và liên quan đến nhiều khái niệm khác. Khắc phục nhược điểm
đó tiêu chuẩn mới đã đưa ra những khái niệm, thuật ngữ ngắn gọn, dễ nhớ, bao quát hơn.
Từ đó, giúp cho việc nghiên cứu, công tác đào tạo dễ thực hiện hơn.
2. Giới thiệu về hệ thống QLCL ISO 9001:2000.
2.1 Khái niệm ISO 9001:2000.
Bộ Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 là bộ TC được cơ cấu lại dựa trên sự nhập thành bởi ba
bộ tiêu chuẩn theo phiên bản cũ ISO 9001/2/3:1994 và nó được định nghĩa nh sau:
ISO 9001:2000 là bộ tiêu chuẩn quy định các yêu cầu đối với một hệ thống quản lý
chất lượng khi một tổ chức cần chứng tỏ năng lực của mình trong việc cung cấp sản phẩm
đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các yêu cầu của chế định tương ứng và nhằm nâng
cao sự thoả mãn của khách hàng
2
.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2000 được bổ trợ bởi các nguyên tắc nêu trong ISO 9000 và
9004 cho các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm.
2.2. Triết lý cơ bản và các nguyên tắc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2000.
2.2.1. Triết lý quản trị của bộ TC ISO 9001:2000.
- Lưu trữ hồ sơ tài liệu chất lượng: dùng để so sánh, để truy nguyên nguồn gốc sai
hỏng để bắt đền bù, phạt, dùng làm căn cứ giải quyết các vụ kiện
- Thường xuyên xem xét đánh giá lại hệ thống chất lượng nhằm phát hiện những cái
được, những cái chưa được của hệ thống từ đó có những hành động khắc phục, cải tiến
thậm chí còn đổi mới.
IV. ÁP DỤNG HỆ THỐNG ISO 9001:2000 TRONG NGÀNH XÂY DỰNG.
1. Những yêu cầu chung.
13
1.1. Tiêu chuẩn này quy định: các nguyên tắc chung về quản lý chất lượng công trình
xây dùng trong suốt quá trình xây dựng, kể cả thời gian chuẩn bị xây dựng, đến bàn giao
công trình đưa vào sử dụng và trong thời gian bảo hành; nhằm đảm bảo chất lượng công
trình theo đúng thiết kế và yêu cầu kỹ thuật.
1.2. Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo, mở rộng hoặc sửa chữa của các ngành
cấp, các tổ chức, kể cả tư nhân, được xây dựng bằng bất kì nguồn vốn nào đều phải thực
hiện quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn này.
2. Lựa chọn và sử dụng các tiêu chuẩn về chất lượng trong ngành XD.
Trước hết cần chú ý rằng:bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2000 là bộ tiêu chuẩn đã thay thế
cho bộ tiêu chuẩn ISO 9001/2/3:1994. Do đó, các hướng dẫn nêu sau đây có nhắc đến ISO
9001/2/3 và các hướng dẫn của nó thay vì nói riêng ISO 9001:2000.
Với mục đích quản lý chất lượng, các tổ chức cần sử dụng bộ tiêu chuẩn ISO 9000 để
xây dựng, áp dụng và cải tiến hệ thống chất lượng của mình trong cả hai tình huống “Do
lãnh đạo thúc đẩy” và “Do những người có lợi Ých liên quan thúc đẩy”.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 có hai loại tiêu chuẩn hướng dẫn. Hướng dẫn áp dụng cho
mục đích đảm bảo chất lượng được đưa ra trong một số phần của ISO. Hướng dẫn áp dụng
dặc trưng cho mục đích quản lý chất lượng được đưa ra trong các phần của ISO 9004. Các
phần của ISO 9004 không nhằm sử dụng để giải thích các yêu cầu của các tiêu chuẩn đảm
bảo chất lượng. Tuy nhiên chúng có thể đưa ra những trích dẫn tham khảo có Ých. Các tiêu
chuẩn có số hiệu TCVN 5950 (ISO 10000) có thể được sử dụng để trích dẫn tham khảo.
Bộ tiêu chuẩn TCVN ISO 9000 nhấn mạnh đến việc thoả mãn nhu cầu của khác hàng,
thiết lập các trách nhiệm về mặt chức năng và tầm quan trọng của việc đánh giá (càng nhiều
hợp. Các yêu cầu được quy định trước hết nhằm thoả mãn khách hàng bằng cách ngăn ngừa
sự không phù hợp trong tất cả các giai đoạn từ thiết kế đến dịch vụ kĩ thuật. TCVN ISO
9001 quy định một mô hình đảm bảo chất lượng cho mục đích này.
2.4. Đảm bảo chất lượng: Sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kĩ thuật.
TCVN ISO 9002:1996, Hệ thống chất lượng-Mô hình đảm bảo chất lượng trong sản
xuất, lắp đặt và dịch vụ kĩ thuật.
Cần chọn và sử dụng TCVN ISO 9001 khi cần phải chứng minh khả năng của bên
cung ứng trong việc kiểm soát các qúa trình thiết kế cũng như sản xuất các sản phẩm phù
hợp. TCVN ISO 9002 quy định một mô hình đảm bảo chất lượng cho mục đích này.
3. Hệ thống quản lý chất lượng và nguyên tắc thiết kế khi áp dụng trong lĩnh vực xây
dựng.
Hệ thống chất lượng được xem nh là một phương tiện cần thiết để thực hiện các chức
năng quản lý chất lượng. Nó gắn với toàn bộ các hoạt động của quy trình và được xây dựng
15
phù hợp với những đặc trưng riêng của sản phẩm và dịch vụ trong doanh nghiệp. Hệ thống
chất lượng cần thiết phải được tất cả mọi người trong tổ chức hiểu và có khả năng tham gia.
Theo TCVN / ISO 8402-94 “ Hệ thống quản lý chất lượng là một tổ hợp cơ cấu tổ
chức, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp và các nguồn lực cần thiết để thực hiện việc quản
lý chất lượng ”.
Hệ thống chất lượng phải có quy mô phù hợp với tính chất của các hoạt động của
doanh nghiệp. Các thủ tục trong hệ thống chất lượng cần được văn bản hoá trong hệ thống
hồ sơ chất lượng của doanh nghiệp, nhằm mục đích đảm bảo và giữ vững sự nhất quán
trong các bộ phận của quy trình. Các tài liệu, hồ sơ tác nghiệp cần phải được lưu lại và kiểm
soát.
Lĩnh vực xây dựng cũng là một lĩnh vực sản xuất, tuy nhiên nó lại có những đặc biệt
riêng của nghành xây dựng do đó Hệ thống quản lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng
cũng phải có những nguyên tắc khác biệt.
Nguyên tắc đầu tiên khi thiết kế hệ thống chất lượng là Hệ thống quản lý chất lượng
phải phù hợp với ngành xây dựng, phù hợp với hoạt động sản xuất xây dựng. Có nh vậy
mới đảm bảo rằng Hệ thống đó có thể kiểm soát và quản lý được chất luợng công trình.
Quyết định của Bộ trưởng bộ xây dung về việc chuyển công ty thi công cơ giới xây lắp
thuộc Tổng Công Ty Xây Dưng Hà Nội thành công ty cổ phần
-Căn cứ nghị định số 36/2003ND-CP ngày 4/4/2003của chính phủ quy định chưc
năng,nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ choc của bộ xây dung
-căn cứ nghị định số64/2002/QĐ-CP ngày 19/6/2002của chính phủ về việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
17
-Căn cứ quyết định số1722/QĐ-BXD ngày4/11/2004 của bộ trưởng bộ xây dung về
việc phê duyệt phương án cổ phần hoá công ty cổ phần thi công cơ giới xây lắp –Tổng công
ty xây dung Hà Nội
-Xét nghị định của chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty xây dung Hà Nội tại tờ
trình số 2719 BĐM-TCT ngày 27/12/2004
-Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ kinh tế tài chính
Quyết Định
Điều 1 ;Chuyển doanh nghiệp nhà nước:Công ty Thi Công Cơ Giới Xây Lăp-Tổng
Công Ty Xây Dựng Hà Nội thành công ty cổ phần
Điều 2 :Công ty cổ phần có:
2.1Tên tiêng việt: Công ty Thi Công Cơ Giới Xây Lăp
2.2Tên giao dịch quốctế:MECHANIZED
CONSTRUCTION STOCK COMPANY
2.3Tên viêt tắt MCCJC
2.4Trụ sở chính:số 2a,ngõ 85 Hạ Đình,Thanh xuân,Hà Nội
2.5Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.thực hiện chế độ hạch toán độc lập ;
2.6 Có con dấu riêng,được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật
,được đăng kí kinh doanh theo luật định,được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp
và điều lệ của công ty cổ phần đã được đại hội cổ đông thông qua
2.7. Vốn, cổ phần
-Vốn điều lệ: 7.500.000.000(Bảy tỷ năm trăm triệu đồng)
2. Chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công Ty
18
* Phòng tổ chức hành chính
Ký, sao lưu các văn bản pháp quy của nhà nước, các tài liệu văn bản có liên quan đến
sản xuất quản lý chất lượng trong Công ty.
Tổ chức quản lý, sắp xếp nhằm phù hợp với tính chất của tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh của Công ty.
* Phòng tài vụ:
Lập và thực hiện các kế hoạch lao động, kế hoạch tiền lương, kế hoạch đào tạo và
tuyển dụng.
Thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động, các thể chế bảo hiểm, y tế, công
tác bảo hộ lao động.
Xác định mức lao động, xác định đơn giá tiền lương đơn vị sản phẩm.
* Phòng kỹ thuật – An toàn
Với chức năng quản lý, điều tiết máy móc thiết bị, xây dựng và quản lý các quy trình
công nghệ, quy phạm, quy cách và các tiêu chuẩn kỹ thuật. Đặc biệt quan trọng nhất là thiết
kế và kiểm định các bản vẽ kỹ thuật, kiểm tra giám sát chất lượng công trình cũng như chất
lượng nguyên vật liệu đầu vào.
Phòng kỹ thuật an toàn chịu trách nhiệm trong công tác thiết kế và kiểm soát thi công.
* Phòng kế hoạch đầu tư.
20
Nghiên cứu và phê duyệt các dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về công tác mời thầu, đấu
thầu…Đồng thời lập kế hoạch hoạt động của Công ty còng nh kế hoạch thực hiện các dự án
thi công công trình.
Xây dựng mô hình quản lý, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ liên quan đến sản xuất kinh doanh,
đảm bảo chất lượng sau khi bàn giao công trình. Trực tiếp tham mưu cho giám đốc Công ty
trong việc nghiên cứu xây dựng các chiến lược của Công ty.
2. Đặc điểm về lao động.
Đến nay, cơ cấu lao động của Công ty nh sau:
*Lao động chính thức: 288
*Lao động tạm tuyển: 12
*Về trình độ cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty:
của Công ty chủ yếu là lao động kỹ thuật (tỷ lệ lao động nam cao hơn nhiều so với tỷ lệ lao
động nữ) do đó ảnh hưởng đến việc phân công nhân sự trong bộ máy quản lý. Vì vậy khi
xây dựng mô hình quản lý chất lượng, Công ty cần phải chú ý tới đặc điểm này.
Để thấy được rõ hơn về sự biến động lao động của Công ty trong một số năm qua có
thể xem xét tình hình tăng giảm lao động qua bảng cụ thể sau:
Bảng 1: Tăng giảm lao động qua năm năm
TT Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
1
2
3
4
5
6
7
Tiến sỹ, kỹ sư cao cấp
Thạc sỹ
Kỹ sư và kiến trúc sư
Cử nhân ĐH,CĐ
Nhân viên
Tổng
Lương trung bình (nghìn đồng)
23
20
168
25
25
261
515
24
20
2 Cân đồng hồ 10 Kg Ba lan 5g
3 Cân Robecvan 500g Nhật 0.5g
4 Cân kỹ thuật SARTOPRIUS GP 1800 Nhật 0.01g
5 Cân phân tích SIMADZU 220G Nhật 0.001g
6 Máy cắt phẳng N73113 Nhật 0.01mm
7 Máy nén tam liên N056 Nhật
22
8 Máy thuỷ chấn tự độngNA-828 Nhật 1.5mm/1k
9 Máy Delta 020 sè 40698 Nhật 20”
10 Kích thuỷ lực DG-200 sè 185 Liên xô
11 Máy siêu âm bê tông Model TICO Pháp
12 Máy định vị cốt thép Prometer-4 Đức
Nguồn: Sổ theo dõi tình hình thiết bị
Ngoài ra còn có các loại máy in để cung cấp tài liệu cho Công ty, các loại máy gia
công, cơ khí để sửa chữa các máy chuyên dùng cho Công ty.
Nhìn chung máy móc thiết bị của Công ty là tương đối hiện đại, tuy nhiên vẫn còn một
số máy móc cũ đã sử dụng lâu và kém chất lượng. Do đó, cần tăng cường đầu tư đổi mới
máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả của quá trình thi công công trình. Nhưng thực tế cho
thấy để đầu tư thay mới máy móc xây dựng là rất khó khăn. Bởi vì máy móc trong ngành
xây dựng thường có giá trị rất lớn do đó nếu không có sự hỗ trợ về vốn thì rất khó thực
hiện. Vì vậy, ngoài nỗ lực cố gắng của bản thân Công ty cần phải chú trọng đến việc xin
cấp vốn ngân sách và kêu gọi đầu vốn đầu tư.
4. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Với tính chất và đặc điểm sản phẩm của Công ty, nguyên liệu tiêu hao chủ yếu ở công
tác khảo sát công trình và thi công công trình. Các nguyên liệu tiêu hao trong khảo sát công
trình như: các mũi khoan thử lòng đất, nén, đo đạc, vẽ, phân tích thử nghiệm… còn các
nguyên liệu để xây dựng công trình như: Các loại cát, sổi, xi măng, sắt thép, gỗ, sơn bả, các
loại mũi khoan thăm giò, nhiên liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả, nên vấn đề đặt ra là đảm
bảo nguồn cung cấp nguyên vật liệu cũng nh chất lượng của nguyên vật liệu trong mọi tình
chi tiết tất cả các hạng mục công trình như: nền, móng, mặt bằng, nguyên vật liệu, vận
chuyển máy móc và đưa ra chính xác kinh phí đầu tư, xây dựng công trình đó, đưa ra
được giải pháp thi công tối ưu nhất.
*Giai đoạn thi công công trình:
Giai đoạn này thực hiện trong một thời giai dài, đây là giai đoạn đưa công trình trở
thành hiện thực nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá.
*Giai đoạn nghiệm thu và đưa công trình vào sử dụng:
Công trình được nghiệm thu theo đúng chỉ tiêu đánh giá chất lượng đặt ra. Công trình
được đưa vào sử dụng khi đã qua hết tất cả các đợt thử nghiệm, đạt được tiêu chuẩn chất
lượng đã đề ra cụ thể. Giai đoạn nghiệm thu và bàn giao sử dụng được thực hiện nhanh
chóng nhằm đẩy nhanh việc hoàn thành. Nhưng quá trình nghiệm thu được thực hiện một
cách chặt chẽ và nghiêm túc để trách được sai sót có thể xảy ra.
III. tình hình thực tế các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
1. Các hoạt động kinh doanh của Công Ty
1.1. Tổ chức đầu tư, nhận thầu xây dựng.
25