Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
MỤC LỤC
MỞ BÀI…………………………………… ………………………… 1
NỘI DUNG CHÍNH………………………… ………………………… 2
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự, hãy phân loại tội phạm đối
với tội trộm cắp tài sản? 2
2. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của
tội phạm được cấu thành tội phạm phản ánh, hãy xác định loại cấu thành tội
phạm đối với tội trộm cắp tài sản? 3
a) Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản:………………… …….3
b) Hậu quả nguy hiểm cho xã hội:………………………………… … 4
c) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả:……… ……………5
3. Hãy chỉ ra khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà V đã thực
hiện? 5
4. Giả sử V và P bàn nhau rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản. P
đứng canh gác, còn V trực tiếp rạch túi của chủ tài sản. V đã rạch túi và lấy
được chiếc điện thoại nói trên, P có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Giải thích rõ tại sao? 6
5. Giả sử V 20 tuổi, V dụ dỗ P rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài
sản( P12 tuổi). V có phải là người đồng phạm với vai trò xúi dục không? Giải
thích rõ tại sao? 7
KẾT BÀI……………………………………………… ………………… 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………… ………… 9
1
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
MỞ BÀI
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta có nhiệm vụ bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như của nhân dân. Với vai trò là
nền tảng kinh tế xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề
trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó biện pháp pháp lý
hình sự thể hiện kiên quyết nhất ý chí quyền lực Nhà nước trong xử lý các hành
phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến bảy năm tù; Tội phạm rất nghiệm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm
tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm
tù, tù trung thân hoặc tử hình ”.
Còn đối với tội trộm cắp tài sản thì Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng
đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị
kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ
hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức.
b) Có tính chất chuyên nghiệp.
c) Tái phạm nguy hiểm.
3
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm.
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm
triệu đồng.
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ
bảy năm đến mười lăm năm.
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm
triệu đồng.
b) Gây hậu quả nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ
của tội phạm được cấu thành tội phạm phản ánh người ta có thể chia cấu thành
tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức. Để
nhận biết tội trộm cắp tài sản thuộc loại nào ta tìm hiểu các dấu hiệu thuộc mặt
khách quan của tội này:
a) Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản:
Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản nên người phạm tội chỉ có một hành vi
khách quan duy nhất là“ chiếm đoạt” nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút,
với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không
trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như chen lấn,
xô đẩy nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý
tài sản không biết.
Đặc trưng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ
đòi hỏi phải có ý thức của người phạm tội. Nếu người phạm tội mong muốn che
giấu hành vi bất hợp pháp của mình thì vẫn được coi là phạm tội trộm cắp tài
sản. Thông thường kẻ trộm cắp cũng muốn che giấu hành vi để tránh việc bị phát
hiện hoặc chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi nhưng điều này không ảnh
hưởng đến việc định tội, điều quan trọng là xác định được ý thức che giấu đối với
người có trách nhiệm quản lý tài sản dù rằng thực tế y không che giấu được.
Tuy nhiên, không phải trường hợp phạm tội nào cũng giống nhau, thực tiễn
xét xử cho thấy có nhiều trường hợp dễ nhầm lẫn với các loại tội phạm khác. Để
xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số loại
tội phạm khác gần kề. Chúng ta có thể nhận đinh một số dạng trộm cắp tài sản có
tính chất đặc thù.
- Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi
có điều kiện sễ lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc
người quản lý tài sản.
5
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
- Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người để chen lấn, xô đẩy hòng thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
6
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
minh hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu phải là kết quả của hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản người khác. Trong thực tiễn, người chủ sở hữu có thể bị mất
tài sản do nhiều nguyên nhân rất khác nhau. Chỉ khi hiện tượng mất tài sản xuất
phát từ hành vi trộm cắp tài sản thì mới có cơ sở khẳng định sự tồn tại của mối
quan hệ nhân quả giữa hậu quả gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và hành vi phạm
tội.
Trong quan hệ nhân quả của mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản thì
hành vi phạm tội được coi là nguyên nhân và thiệt hại gây ra cho người sở hữu
tài sản được coi là hậu quả của tội phạm. Quan hệ nhân quả có hai dạng chính là
quan hệ nhân quả đơn trực tiếp và quan hệ nhân quả kép trực tiếp. Trường hợp
trộm cắp tài sản chỉ do một người gây phạm tội ra thì đó là quan hệ nhân quả đơn
trực tiếp còn trường hợp nhiều người tham gia vào việc phạm tội thì quan hệ là
quan hệ nhân quả kép trực tiếp.
Khi xác định quan hệ nhân quả trong mặt khách quan của tội phạm cần thiết
phải phân biệt nguyên nhân và điều kiện gây ra hậu quả của tội trộm cắp tài sản
để xác định chính xác trách nhiệm hình sự người phạm tội trộm cắp tài sản.
3. Hãy chỉ ra khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà V đã
thực hiện?
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại.
Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như tội có tính chất chiếm
đoạt khác nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà
chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một đặc điểm khác với các tội
cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Xét
trường hợp phạm tội của V ta thấy trong trường hợp này khách thể của tội trộm
cắp tài sản mà V đã thực hiện chính là quan hệ sở hữu của chủ tài sản( chủ chiếc
điên thoại) đối với tài sản( chiếc điện thoại bị V lấy cắp).
Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị
cho xã hội và có quan hệ chặt chẽ với hành vi của họ, cùng góp phần gây thiệt
hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Trong tình huống trên, P và V
có sự bàn bạc với nhau về cách thức thực hiện hành vi phạm tội. P sẽ đứng canh
gác còn V trực tiếp rạch túi lấy tài sản của người chủ sở hữu. Sự bàn bạc với
nhau về cách thức phạm tội đã chứng minh được việc phạm tội của V và P có sự
cố ý phạm tội, thể hiện năng lực hành vi của cả hai người. P và V khi thực hiện
hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản người khác, họ nhận thức được rằng hành vi
của họ nằm ngoài chuẩn mực xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xã hội lên án. Họ
8
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
cũng nhận thức được rằng tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của người khác và
thông qua hành vi phạm tội, họ tuy có được tài sản nhất định nhưng cũng làm
mất đi tài sản của người khác. Trong tình huống này, cả P và V đều thể hiện năng
lực trách nhiệm hình sự của mình trong việc trộm cắp tài sản. Vậy trong tình
huống này, việc P có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào
việc P có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay không.
Năng lực trách nhiệm hình sự của một người không thể có ngay khi
người đó được sinh ra, cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, sự giáo dục và
tích luỹ kinh nghiệm sống của mỗi người khi đạt đến độ tuổi nhất định, người ta
mới có thể nhận thức được các đòi hỏi và chuẩn mực của xã hội. Khi đó, họ mới
có khả năng điều khiển hành động của mình theo chuẩn mực xã hội. Khi quy
định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 bộ luật Hình sự năm 1999,
Nhà nước chính thức thừa nhận một người khi đạt độ tuổi này mới có năng lực
trách nhiệm hình sự: “ 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chiu trách nhiệm hình
sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng”.
Trong tình huống này không nói rõ tuổi của P nên ta chia thành 3 trường
hợp về tuổi của P để xem xét việc P có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không:
cùng tham gia phạm tội phải là chủ thể cua tội phạm nghĩa là phải có đầy đủ
năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trong
tình huống trên, P mới 12 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bởi xét về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 quy định:
“ 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.”
Tức là chủ thể tham gia phải có đầy đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm
hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ở tình huống này, P chưa đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm
cắp tài sản. Vì vậy, P và V không phải là đồng phạm. Hay nói cách khác trong
trường hợp này, V không phải là đồng phạm với vai trò xúi giục.
10
Trường Đại Học Luật Hà Nội Bài Học Kì Luật Hình Sự
KẾT LUẬN
Trong tình hình hiện nay khi đất nước đang trên đà phát triển và tăng
cường hội nhập quốc tế thì hiện tượng tội phạm ở nước ta cũng ngày càng gia
tăng với hành vi phạm tội ngày càng tinh vi và trở thành một vấn đề nan giải cần
được nhanh chóng giải quyết . Trong lời nói đầu của Bộ luật Hình sự Việt Nam
đã viết:“ Luật Hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức, góp phần duy trì trật tự, an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế đảm bảo
cho mọi người được sống trong môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành
mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật Hình sự góp phần tích cực
loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng