Bài tập lớn học kỳ môn thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự - Pdf 34

Trường đại học Luật Hà Nội

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Thủ tục rút gọn là thủ tục hình sự được rút ngắn nhằm giúp cho việc điều tra, truy
tố, xét xử được nhanh chóng đối với những vụ án có đủ các điều kiện do BLTTHS
năm 2003 quy định. Thủ tục rút gọn không phải được áp dụng đối với mọi vụ án
trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm mà chỉ áp dụng đối với những vụ
án có đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật. Dưới đây, em xin làm rõ hơn
quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong BLTTHS năm 2003.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Khái quát chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự việt nam.
1.1, Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự
Trên cơ sở những đặc điểm và mục đích của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự,
có thể đưa ra khái niệm thủ tục rút gọn như sau: Thủ tục rút gọn là một thủ tục đặc
biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự, do cơ quan có thẩm quyền quyết định
áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nhất định (người thực hiện hành
vi phạm tội bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản chứng cứ rõ ràng, là tội phạm
ít nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng); là trình tự tố tụng rút
ngắn về thời gian, giản lược về nội dung, thủ tục, nhằm giải quyết vụ án một cách
nhanh chóng và có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng
cũng như quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáp, người tham gia tố tụng.
1.2, Ý nghĩa của thủ tục rút gọn
Ý nghĩa chính trị: Việc áp dụng thủ tục rút gọn nhằm mục đích giải quyết nhanh
chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm đồng thời cũng góp phần hoàn thành một trong những
mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị
quyết số 48 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và
Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra là: tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
phạm, bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.

trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt khi đang thực hiện tội phạm hoặc
ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Như vậy, phạm tội
quả tang gồm các trường hợp: trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát
hiện và bị bắt giữ; trường hợp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị
bắt giữ và trường hợp đang bị đuổi bắt vì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạm
hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm.
- Trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Người
đang thực hiện tội phạm được hiểu là người đang thực hiện những hành vi khách
Bài tập lớn học kỳ môn thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự

2


Trường đại học Luật Hà Nội

quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Đang thực hiện tội phạm có thể là: đang
thực hiện những hành vi làm cơ sở tiền đề trước hành vi phạm tội, những hành vi này
không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội mà đây là những hành vi rất gần, không thể
tách ra được với hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm nên được coi là hành
vi thực hiện tội phạm. Ví dụ như: hành vi giơ dao để đâm, lắp đạn vào súng để
bắn....; đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng chưa thực hiện được hết
các hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm, hoặc mới thực hiện được một trong số
những hành vi quy định trong cấu thành tội pham..., ví dụ như: đang dùng vũ lực với
nạn nhân để giao cấu với nạn nhân, đang uy hiếp tinh thần nạn nhân để chiếm đoạt tài
sản,... hành vi đang thực hiện có thể đã gây ra hậu quả hoặc chưa, có thể diễn ra trong
một thời gian ngắn (như hành vi cướp tài sản) hoặc có thể diễn ra trong một thời gian
dài (như hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng).
- Trường hợp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ.
Trường hợp này các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện
hết, đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, tội phạm vừa mới được

minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chit có một hoặc hai bị cáo”. Tuy nhiên, văn
bản này hiện nay đã không còn hiệu lực. Do vậy, không thể dựa vào quy định tại
Thông tư số 10- TATC ngày 8/71974 để áp dụng cho vấn đề này. Điều kiện “sự việc
phạm tội đơn giản, rõ ràng” gồm hai dấu hiệu: sự việc phạm tội đơn giản và sự việc
phạm tội có chứng cứ rõ ràng. Căn cứ vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, có
thể hiểu điều kiện này như sau:
- Sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ
án không phức tạp và dễ xác định. Điều 63 BLTTHS quy định những vấn đề cần
chứng minh. Cụ thể:
+ Hành vi phạm tội thường do một người thực hiện hoặc có thể có nhiều người
thực hiện nhưng là trường hợp đồng phạm giản đơn, việc xác định vai trò, vị trí của
từng đối tượng dễ dàng mà không phải trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồng
phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng. Tội phạm được thực
hiện tại một địa điểm nhất định, không liên quan đến nhiều địa bàn khác.
+ Người thực hiện hành vi phạm tội thường là người đã thành viên, có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp có nghi ngờ về năng lực trách
nhiệm hình sự của họ. Hành vi mà họ thực hiện thường do lỗi cố ý, yếu tố lỗi được
thể hiện rõ ràng và dễ xác định.
+ Mục đích phạm tội thường là lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi mang tính nhất
thời, dễ xác định.
+ Sự việc phạm tội không liên quan đến nhiều cấp, nhiều nghành, không liên
quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề chính
Bài tập lớn học kỳ môn thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự

4


Trường đại học Luật Hà Nội

trị, an ninh, kinh tế... phức tạp khác. Việc giải quyết vụ án cũng không đòi hỏi phải


5


Trường đại học Luật Hà Nội

nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến ba
năm tù.
Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lý mà người thực hiện
tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải gánh chịu là không lớn nên việc xử lý có thể
nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp việc xử lý có sai sót thì hậu quả
cũng không đến mức nghiêm trọng so với các trường hợp thực hiện tội phạm khác và
việc khắc phục hậu quả cũng dễ dàng hơn.
BLHS năm 2009 có 149/267 điều luật có quy định về tội phạm ít nghiêm trọng.
Tuy nhiên không phải tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng thủ tục
rút gọn vì còn phụ thuộc vào các điều kiện khác, đặc biệt là điều kiện “sự việc phạm
tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng’, nhiều vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng lại
phức tạp trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ như các tội gây rối trật tự công cộng,
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp... thì cũng không thể áp dụng thủ tục rút gọn để
giải quyết. Do đó, số lượng án ít nghiêm trọng được áp dụng để giải quyết theo thủ
tục rút gọn là rất hạn chế. Trong khi thực tiễn xét xử lại có nhiều vụ án phạm tội
nghiêm trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại Điều 319 song
không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiên “tội phạm
đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”.
Việc phân loại tội phạm trong BLHS của nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào mức
độ gây thiệt hại của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt có thể áp dụng đối
với hành vi phạm tội đó chứ không phân loại tội phạm theo mức độ đơn giản hay
phức tạp của hành vi phạm tội. Do đó, việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
chỉ với tội phạm ít nghiêm trọng là không phù hợp về cơ sở lý luận và thực tiễn.
Điều kiện thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng

lai lịch rõ ràng là tiền đề xác định điều kiện sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ
ràng. Vì thế khi xem xét áp dụng thủ tục rút gọn cần phân tích đánh giá từng điều
kiện trong mối liên hệ tổng thể với các điều kiện khác và chỉ quyết định giải quyết vụ
án theo thủ tục rút gọn khi cả bốn tiêu chí trên đều đảm bảo. Trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn nếu một trong các điều kiện này
mất đi thì vụ án phải chuyển về thủ tục thông thường để giải quyết.
3. Những bất cập và một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung về điều kiện áp dụng
thủ tục rút gọn trong BLTTHS năm 2003.
3.1, Những bất cập về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự.
- Ngoài ba điều kiện được quy định tại khoản 1, 2, 3 thì khoản 4 Điều 319
BLTTHS quy định “người phạm tội phải có căn cước, lai lịch rõ ràng”. Xác minh
căn cước, lai lịch của người phạm tội là trách nhiệm của cơ quan điều tra và trong
trường hợp cần thiết cơ quan điều tra có thể ủy thác cho cơ quan điều tra khác tiến
hành xác minh căn cước, lai lịch của người phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra
Bài tập lớn học kỳ môn thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự

7


Trường đại học Luật Hà Nội

cho thấy, những trường hợp này thường rơi vào những vụ án mà người phạm tội lại
không nhớ rõ quê quán, nơi cư trú hoặc họ cố tình khai không đúng quê quán, nơi cư
trú “nên cơ quan điều tra dù có tiến hành điều tra, xác minh lí lịch bị can cũng chỉ
mang tính hình thức, vì đây là việc mò kim đáy bể mà không bao giờ có kết quả”. Do
vậy, việc quy định người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng là điều kiện để áp
dụng thủ tục rút gọn chẳng những không tạo điều kiện để cơ quan tiến hành điều tra
vụ án một cách nhanh chóng mà còn là một trong những quy định làm hạn chế cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án hình sự.
- Trên thực tế có rất nhiều vụ án tuy không thuộc trường hợp phạm tội quả tang,

cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân.
3.2, Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
trong tố tụng hình sự.
Thứ nhất về mặt thuật ngữ sử dụng trong Điều 319 BLTTHS năm 2003 cho rằng
việc sử dụng thuật ngữ “người thực hiện hành vi phạm tội” tại khoản 1 và “người
phạm tội” ở khoản 3 là không phù hợp với nguyên tắc “không ai bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
quy định tại Điều 10 BLTTHS. Hai thuật ngữ này nên được sửa bằng thuật ngữ “bị
can” cho đúng với tư cách tố tụng của họ. Ngoài ra, việc nhà làm luật sử dụng thuật
ngữ “căn cước, lai lịch” ở khoản 4 cũng nên nghiên cứu sửa đổi cho dễ hiểu hơn.
Ngày nay thuật ngữ “căn cước” không còn được sử dụng nhiều. “Thẻ căn cước”
ngày trước thì nay gọi là “Chứng minh thư nhân dân”, một trong những yêu cầu về
ngôn ngữ này không còn phù hợp. Yếu tố mà nhà làm luật muốn “rõ ràng” ở đây là
các đặc điểm nhân thân, lý lịch của bị can, thuật ngữ “lý lịch” là đủ để cơ quan tiến
hành tố tụng hiểu các yếu tố phải đảm bảo rõ ràng khi xem xét áp dụng thủ tục rút
gọn giải quyết vụ án. “Lý lịch là bản ghi lai lịch và công việc đã làm của một người
từ khi mới lớn lên”. Vì thế có thể sử dụng thuật ngữ “lý lịch” thay thuật ngữ “căn
cước, lai lịch”.
Thứ hai về các điều kiện quy định tại Điều 319 BLTTHS năm 2003.
- Về điều kiện “tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”. Thực tế có
nhiều vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng lại phức tạp trong việc thu
thập, đánh giá chứng cứ như các tội gây rối trật tự công cộng, các tội xâm phạm hoạt
động tư pháp.... Do vậy, số lượng án rất ngiêm trọng được áp dụng thủ tục rút gọn là
rất hạn chế. Ngoài ra, từ thực tiễn đấu tranh tội phạm hiện nay ngày càng ít hành vi bị
bắt quả tang, nếu có chỉ là hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, để thủ tục rút gọn phát
huy trong thực tiễn cần sửa đổi điều kiện này theo hướng mở rộng cả ra các trường
hợp người thực hiện hành vi phạm tội tự thú, đầu thú.
- Xuất phát từ thực tiễn điều tra vụ án hình sự, vấn đề xác minh lý lịch, nhân thân
của bị can là công việc luôn tốn nhiều thời gian của Cơ quan điều tra, mà thời hạn

“Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Bị can bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc ra tự thú, đầu thú;
2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Bị cáo đã nhận tội:
3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng.
4. Bị can có lý lịch rõ ràng.”
III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là một quy định quan trọng của chế định này,
quy định về điều kiện áp dụng hợp lý là sự đảm bảo đầu tiên cho việc áp dụng hiệu
quả hình thức tố tụng đặc biệt này. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng quy định này
còn gặp nhiều hạn chế, vướng mắc. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn
thiện quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cho phù hợp với thực tiễn giải
quyêt vụ án.
Bài tập lớn học kỳ môn thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự

10


Trường đại học Luật Hà Nội

Danh mục tài liệu tham khảo
- Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội,
Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2009.
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
- Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Chuyên ngành luật tố tụng
hình sự, Đào Ngọc Quỳnh, Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn, Hà Nội,
2011.
- Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Chuyên ngành luật tố tụng hình sự, Lê Như
Trang, Người hướng dẫn TS. Phan Thị Thanh Mai, Hà Nội, 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status