Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 26

- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 08 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “ Nghiên cứu để quy
định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả
tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng…”.
Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 đã xây dựng một chương mới (chương XXXIV) gồm 7 điều, từ Điều 318 đến
Điều 324 quy định về thủ tục rút gọn, đánh dấu bước phát triển mới của tố tụng hình
sự Việt Nam. Tuy nhiên, những quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục rút gọn
(TTRG) lại có nhiều điểm chưa hợp lý, một số quy định còn chung chung, chưa cụ
thể, rõ ràng trong khi hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn áp dụng các quy
định này, do đó hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao, chưa đạt được mục đích
mà BLTTHS đề ra khi quy định áp dụng thủ tục này.
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 48 –
NQ/TW ngày 25/5/2005 về Chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày
02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ việc cần phải tiếp
tục sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS, nâng cao chất lượng công
tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Những quy định của BLTTHS về TTRG cần phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung
để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm được nhanh chóng, kịp thời,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Mặt khác, Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 1999 đã phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, tính chất phức
tạp của các vụ án hình sự cũng khác nhau, do đó việc BLTTHS năm 2003 quy định
các hình thức tố tụng khác nhau để giải quyết là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở khoa
học.
Một chế định về TTRG trong pháp luật tố tụng hình sự đầy đủ, hoàn thiện và
hợp lý hiện nay vẫn là một yêu cầu với các nhà lập pháp nước ta. Tuy nhiên những

các quy định này.
Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: trong nhóm này có thể kể đến các
bài viết như: “Thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự ” của TS. Khuất Văn
- 3 -
Nga và ThS. Trần Đại Thắng (Tạp chí Kiểm sát số 7/2004); “Thủ tục rút gọn” của tác
giả Đỗ Văn Chỉnh (Tạp chí Toà án nhân dân (TAND) số 11 tháng 6/2004); “Thủ tục
rút gọn trong tố tụng hình sự từ sự quy định của pháp luật tới thực tiễn áp dụng” của
PGS.TS Phạm Hồng Hải (Tạp chí Kiểm sát số 4/2006); “Về thủ tục rút gọn và những
bất cập trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử” của tác giả Lê Quốc Thể (Tạp chí
TAND số 13 tháng 7/2007); “Bàn về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ
tục rút gọn theo quy định BLTTHS năm 2003” của ThS. Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 5/2008); “Giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn - Thực
trạng và những kiến nghị đề xuất” của tác giả Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 7/2008); “ Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp” của TS. Nguyễn Đức Mai (Tạp chí TAND số 15 tháng 8/2008), “Hoàn thiện
các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp” của ThS. Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Kiểm sát số 18&20 tháng 9&10
/2008); “Một số ý kiến về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần
Quốc Văn (Tạp chí Kiểm sát số 13 tháng 7/2009); “ Những vướng mắc khi áp dụng
thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và một số kiến nghị” của TS. Phạm Minh Tuyên
(Tạp chí TAND số 1 tháng 1/2011)…Các bài viết kể trên đã đề cập đến các vấn đề cơ
bản của TTRG, một số ít bài viết đề cập đến thực tiễn áp dụng cũng như những bất
cập, vướng mắc khi giải quyết án hình sự theo thủ tục này tuy nhiên cũng chỉ mới
dừng lại ở phạm vi một số địa phương.
Như vậy, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về TTRG trên cả hai phương diện lý
luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về TTRG, thực tiễn thi hành ít được quan tâm nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, phương pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của TTRG trong tố tụng
hình sự, xây dựng khái niệm về TTRG, nêu lên mục đích, ý nghĩa của TTRG góp
phần thống nhất nhận thức về vấn đề này.
- 5 -
- Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về TTRG,
thực tiễn áp dụng TTRG trong thời gian qua, đưa ra những nhận xét, đánh giá, xác
định nguyên nhân của thực trạng áp dụng TTRG, xác định những bất cập trong các
quy định của pháp luật về TTRG cần được hoàn thiện, những vướng mắc trong việc
áp dụng TTRG cần được giải quyết.
- Luận văn đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của
BLTTHS năm 2003 về TTRG và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
thủ tục này trong thực tiễn.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo,
nghiên cứu khoa học và những người quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: phần mở đầu, phần nội dung và kết luận; danh mục tài liệu
tham khảo; danh mục từ viết tắt.
Phần nội dung của luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn và một số giải pháp nâng cao hiệu
quả việc áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam.- 6 -
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ lai lịch của người phạm tội rõ ràng) góp phần
đấu tranh, phòng chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự [6, tr.13].
Hai quan điểm trên đã đưa ra khái niệm về thủ tục rút gọn, phản ánh đầy đủ, cụ
thể các đặc điểm của thủ tục rút gọn nhưng quá dài, các dấu hiệu khác chưa được nêu
bật do quá chú trọng đến mục đích, ở quan điểm thứ hai sử dụng thuật ngữ “ người
phạm tội” là chưa hoàn toàn chính xác.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một hình
thức tố tụng đặc biệt được áp dụng đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng,
có khung hình phạt thấp, theo đó có sự rút ngắn về thời gian và giản lược về thủ tục
nhằm giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo cho hoạt động đấu
tranh phòng chống tội phạm hiệu quả, góp phần bảo vệ các quyền tự do dân chủ của
công dân [7, Tr.7].
Quan điểm thứ tư cho rằng: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là thủ tục đặc
biệt trong đó thời hạn và các thủ tục tố tụng đã được rút ngắn và giản lược để việc
điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo tính
chính xác và đúng đắn [14].
Quan điểm thứ ba và quan điểm thứ tư đã đưa ra được khái niệm ngắn gọn, súc
tích, thể hiện được bản chất của thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, quan điểm thứ ba vẫn đề
cao yếu tố mục đích so với các yếu tố khác và cả hai quan điểm đều chưa chỉ ra được
nguyên tắc cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự.
Quan điểm thứ năm cho rằng: Thủ tục rút gọn là một trình tự tố tụng đặc biệt
do Viện kiểm sát quyết định khi có đủ các điều kiện theo quy định của BLTTHS; là
trình tự được rút ngắn về thời gian và giản lược một số thủ tục trong hoạt động điều
tra, truy tố và xét xử sơ thẩm nhưng vẫn tuân thủ theo các nguyên tắc chung của
BLTTHS, nhằm xử lý một số loại vụ án được nhanh chóng và hiệu quả [16, tr.63].
Quan điểm trên cho rằng TTRG do VKS quyết định áp dụng là một đặc điểm
của TTRG là chưa chuẩn xác. BLTTHS Việt Nam quy định chủ thể có thẩm quyền áp
dụng thủ tục đặc biệt này là VKS. BLTTHS của một số nước như: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Pháp…cũng quy định, chủ thể có thẩm quyền áp dụng là Công tố viên (Cơ

đưa bị cáo ra Toà ngay trong cùng ngày [13, Điều 395]. Ở Trung Quốc, đối với vụ án
được xét xử theo TTRG, Toà án nhân dân phải kết thúc trong thời hạn 20 ngày sau
khi thụ lý vụ án [49, Điều 178]. Tại Liên bang Nga, việc giải quyết vụ án theo TTRG
- 9 -
được tiến hành trong thời hạn không quá bốn mươi tư ngày (Cơ quan điều tra ban đầu
trong thời hạn mười ngày phải xác định các tình tiết về tội đã phạm và nhân thân
người phạm tội, thu thập các chứng cứ cần thiết cho việc xét xử vụ án; trong trường
hợp cần điều tra làm rõ các tình tiết của tội phạm thì Cơ quan điều tra ban đầu tiến
hành các thủ tục điều tra không quá hai mươi ngày; thời hạn tối đa cho việc xét xử tại
Toà án là mười bốn ngày [47].
BLTTHS năm 2003 của Việt Nam quy định thời hạn tối đa cho việc giải quyết
vụ án theo TTRG là không quá ba mươi ngày, theo đó thời hạn điều tra là mười hai
ngày, thời hạn truy tố là bốn ngày và thời hạn xét xử là mười bốn ngày. Như vậy, thời
hạn này so với thủ tục thông thường đã được rút ngắn rất nhiều.
+ Giản lược về thủ tục tố tụng
Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với một số vụ án nhất định, do có sự rút ngắn về
thời gian so với thủ tục thông thường nên để phù hợp với sự rút ngắn về thời gian đó
pháp luật cho phép người tiến hành tố tụng không phải tiến hành một số hoạt động tố
tụng nhất định và vì vậy nên lược bớt được một số thủ tục tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án. Tại Đức, Cơ quan công tố sẽ gửi đề nghị bằng văn bản hoặc bằng lời
cho Thẩm phán Toà hình sự và Toà án có thẩm phán không chuyên để có quyết định
áp dụng thủ tục xét xử nhanh. Khi cơ quan công tố gửi đề nghị, phiên toà chính thức
sẽ được mở ngay lập tức với thông báo ngắn gọn mà không cần phải ra quyết định
mở phiên toà chính thức. Cơ quan Công tố cũng không nhất thiết phải gửi cáo trạng
đến Toà án trước khi mở phiên toà chính thức mà có thể đưa ra cáo buộc ngay khi bắt
đầu phiên toà chính thức, nội dung cáo buộc sẽ được ghi lại trong biên bản phiên toà
[44, Điều 417, Điều 418]. Ở Nhật Bản, hệ thống Toà án giản lược giải quyết vụ án
theo trình tự giản lược chỉ có một Thẩm phán tiến hành tố tụng. Đối với những vụ án
giải quyết theo trình tự giản lược thì theo yêu cầu của Công tố viên, một Thẩm phán
của Toà án giản lược xem xét hồ sơ do Công tố viên đệ trình quyết định một khoản

tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa
số… Sở dĩ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như pháp luật tố tụng hình sự
của các nước trên thế giới không quy định hệ thống nguyên tắc riêng đối với TTRG
vì về bản chất TTRG vẫn là một thủ tục tố tụng trong hệ thống tố tụng hình sự của
một quốc gia. Việc quy định TTRG phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như thủ tục
thông thường hay các hình thức tố tụng đặc biệt khác sẽ đảm bảo tính thống nhất cho
- 11 -
pháp luật tố tụng hình sự quốc gia, đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật cho mọi
công dân, đảm bảo dù áp dụng hình thức tố tụng chung hay hình thức tố tụng đặc biệt
thì quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ pháp luật tố tụng về cơ bản là như
nhau.
+ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Pháp luật tố tụng hình sự quy định việc áp dụng TTRG để giải quyết một số loại
án nhất định. Khi áp dụng TTRG thời gian được rút ngắn, thủ tục tố tụng được giản
lược nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời. Tuy nhiên, dù giải quyết vụ án
hình sự theo TTRG hay theo thủ tục chung thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với
các cơ quan tiến hành tố tụng là phải đảm bảo vụ án được giải quyết một cách chính
xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế sai sót xảy ra (do thời
gian giải quyết ngắn). Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế
giới cho thấy, pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia quy định điều kiện áp dụng TTRG
có sự khác nhau nhưng về cơ bản chỉ áp dụng thủ tục này với những tội phạm ít
nghiêm trọng, hành vi phạm tội đơn giản, rõ ràng, mức hình phạt áp dụng không cao,
hậu quả pháp lý mà bị can, bị cáo phải gánh chịu không lớn và nếu có xảy ra sai sót
trong việc giải quyết vụ án thì hậu quả cũng dễ khắc phục. Tại Đức, thủ tục xét xử
nhanh được áp dụng đối với những vụ án đơn giản hoặc có chứng cứ rõ ràng (Điều
417). Ở Trung QuốC, TTRG có thể được áp dụng đối với những vụ án: có tình tiết rõ
ràng, chứng cứ đầy đủ, có mức phạt tù không quá ba năm, bị giam, giám sát hoặc
phạt tiền ...(Điều 174). Ở Nhật Bản, các loại tội phạm bị phạt tiền từ 500.000 Yên trở
xuống, người bị tình nghi sẵn sàng chấp nhận bản án phạt tiền và không phản đối thủ

phạm đồng thời cũng góp phần hoàn thành một trong những mục tiêu quan trọng của
cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị quyết số 48 – NQ/TW của
Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49–
NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã đặt ra là: tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm các
quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
Việc rút ngắn thời gian, giản lược một số thủ tục tố tụng nhất định, tạo điều
kiện giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhưng vẫn đảm bảo được
những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật góp
- 13 -
phần thiết thực vào việc thực hiện định hướng mà Nghị quyết số 49– NQ/TW ngày
02/6/2005 Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra là:
“hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”.
Với quy định bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại
quyết định áp dụng TTRG của VKS. Trong trường hợp có khiếu nại, VKS phải giải
quyết khiếu nại này và CQĐT chỉ được áp dụng TTRG khi đã có quyết định giải
quyết khiếu nại của VKS, TTRG trong BLTTHS năm 2003 đã góp phần đề cao vấn
đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
Ý nghĩa pháp lý
Quy định về TTRG là sự kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục rút
ngắn trong các văn bản trước đây của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời
cũng là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp nước ta khi quy định về thủ tục
này không được ghi nhận tại BLTTHS đầu tiên của nước ta năm 1988. Chế định
TTRG trong BLTTHS năm 2003 có sự tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến bộ của
pháp luật nước ngoài và phù hợp với nền lập pháp nước ta về thủ tục này, đáp ứng
yêu cầu xu thế quốc tế hoá mọi mặt của đất nước hiện nay.
Quy định về TTRG trong BLTTHS năm 2003 là cơ sở pháp lý để các cơ quan
tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ít

1.3.1.1. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn là giới hạn luật định cho phép thủ tục rút gọn
được áp dụng trong những giai đoạn nhất định của tố tụng hình sự. Điều 318
BLTTHS năm 2003 quy định về phạm vi áp dụng TTRG như sau: thủ tục rút gọn đối
với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm được áp dụng theo quy định của chương
này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy
định của chương này.
Với quy định như trên, TTRG không áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng
mà chỉ được áp dụng trong ba giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm. Đây là
các giai đoạn trung tâm của trình tự tố tụng, thể hiện rõ nét nhất chức năng của
CQĐT, VKS và Tòa án cũng như mối quan hệ phối hợp và chế ước của ba cơ quan
này. Theo quy định tại Điều 320 BLTTHS năm 2003, các cơ quan tiến hành tố tụng
được áp dụng TTRG để giải quyết vụ án sau khi có quyết định áp dụng TTRG của
VKS, quyết định này được ban hành sau khi khởi tố vụ án, tức là trong giai đoạn điều
- 15 -
tra vụ án. Sở dĩ pháp luật không quy định áp dụng TTRG ở ngay giai đoạn khởi tố vụ
án vì ở giai đoạn này các dấu hiệu của tội phạm mới đang được xác định, cơ quan
tiến hành tố tụng chưa thể xác định được các điều kiện áp dụng TTRG theo quy định
của pháp luật. Thủ tục rút gọn cũng không được áp dụng ở các giai đoạn sau khi xét
xử sơ thẩm như: xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục thi hành án. Nếu vụ án phải xét xử lại theo thủ tục phúc
thẩm thì tính chất “ sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” không còn nữa mà
vụ án đã trở thành phức tạp vì “ khi bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã bị
kháng cáo, kháng nghị là đã có sự không thống nhất giữa Toà án với VKS hoặc giữa
Toà án với những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong việc giải quyết
vụ án” [11] và vụ án được áp dụng thủ tục chung để giải quyết sẽ đảm bảo các tình
tiết của vụ án được xem xét toàn diện, đầy đủ và tỉ mỉ hơn. Do đó, BLTTHS năm
2003 quy định TTRG gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
sơ thẩm.

nước quy định áp dụng TTRG trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử ví dụ như:
BLTTHS Tây Úc, BLTTHS Việt Nam. Một số nước có quy định mở rộng phạm vi áp
dụng TTRG đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm, ví dụ: tại khoản 4, khoản 5 Điều
364 BLTTHS Hàn Quốc quy định: khi Tòa án thấy rằng rõ ràng đơn kháng cáo không
có cơ sở, Tòa án có thể bác đơn kháng cáo bằng bản án mà không cần tố tụng miệng,
bằng cách thẩm tra đơn kháng cáo, bản trình bày lý do kháng cáo hoặc bất kỳ tài liệu
nào của vụ án; Điều 408 BLTTHS Nhật Bản quy định: Trường hợp Tòa án phúc thẩm
Jokoku, sau khi xem xét bản trình bày lý do kháng nghị Jokoku đã tìm thấy những tài
liệu khác chứng tỏ rằng việc kháng nghị là không thể chứng minh được, thì Tòa án có
thể bác kháng nghị bằng một bản án mà không cần phải tiến hành thủ tục xét xử bằng
lời nói.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước đây cũng có quy định về việc áp dụng
TTRG ở cấp phúc thẩm, cụ thể tại Thông tư số 19/TT – TATC ngày 12/10/1974 của
Tòa án nhân dân tối cao đã quy định về điều kiện, trình tự áp dụng TTRG để xét xử ở
giai đoạn phúc thẩm. Các quy định đó vẫn có những điểm hợp lý
cần được tiếp tục kế thừa và phát triển.
- 17 -
Như vậy, xét về lịch sử lập pháp các quy định về phạm vi áp dụng TTRG của
Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản có những điểm tương đồng, đây là vấn đề cần được
xem xét khi sửa đổi bổ sung BLTTHS về thủ tục đặc biệt này.
1.3.1.2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là những căn cứ mà BLTTHS quy định cần
và đủ để có thể áp dụng thủ tục này. Theo quy định tại Điều 319 BLTTHS năm 2003
thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang
Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì
bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào
cũng có quyền bắt và giải ngay đến các cơ quan Công an, VKS hoặc Ủy ban nhân
dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến
CQĐT có thẩm quyền. Theo quy định trên thì phạm tội quả tang là trường hợp người

- Trường hợp đang bị đuổi bắt vì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạm hoặc
ngay sau khi thực hiện tội phạm. Đây là trường hợp người phạm tội đang thực hiện
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị
đuổi bắt. Việc thực hiện tội phạm, chạy trốn và đuổi bắt có sự liên tục, không có sự
gián đoạn về mặt thời gian và diễn biến của sự việc.
Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng, ai trông thấy
cũng có thể biết đó là tội phạm. Các vụ án mà người phạm tội bị bắt quả tang thông
thường là những trường hợp chứng cứ tang vật của vụ án được thu giữ đầy đủ, người
làm chứng, người bị hại cũng được xác định cụ thể nên người phạm tội không thể
chối cãi về hành vi mà mình đã hoặc đang thực hiện, do đó việc xác định tội phạm
được nhanh chóng.
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết án hình sự cho thấy không phải chỉ có trường
hợp phạm tội quả tang việc xác định tội phạm mới được nhanh chóng, chính xác mà
có nhiều trường hợp vụ án tuy không phải thuộc trường hợp quả tang, song sự việc
phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cước lai
lịch của bị can rõ ràng nhưng không được áp dụng TTRG vì không phải là trường
hợp phạm tội quả tang. Ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hôm sau trên
đường A đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo công an bắt giữ, A thừa nhận hành vi trộm
cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B. Hoặc có những trường
hợp người phạm tội tự thú, đầu thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm
- 19 -
tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, việc chứng minh tội phạm vẫn đảm bảo
yếu tố nhanh chóng, chính xác nhưng vì cũng không phải là trường hợp phạm tội quả
tang nên cũng không được áp dụng TTRG [27]. Do vậy, việc BLTTHS năm 2003
quy định điều kiện người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang thực chất chỉ có
ý nghĩa khoanh vùng, hạn chế các vụ án được áp dụng theo TTRG một cách cơ học.
Mặt khác, mục đích của TTRG là làm giảm áp lực, giảm sự quá tải về số lượng án
phải giải quyết theo thủ tục thông thường. Cho nên, việc quy định điều kiện người
thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang là bó hẹp so với thực tiễn, chưa đáp ứng
được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

+ Mục đích phạm tội thường là lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi mang tính nhất
thời, dễ xác định.
+ Sự việc phạm tội không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, không liên
quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề chính
trị, an ninh, kinh tế… phức tạp khác. Việc giải quyết vụ án cũng không đòi hỏi phải
tiến hành những hoạt động điều tra phức tạp khác.
- Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng
Chứng cứ rõ ràng có thể được hiểu là những chứng cứ phản ánh đầy đủ, chính
xác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án. Vụ án thuộc trường hợp
phạm tội quả tang nên chứng cứ của vụ án được thu thập tương đối đầy đủ ngay sau
khi bắt người thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị
bắt giữ, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng trực tiếp chứng kiến
sự việc phạm tội, các tang vật thu được tại hiện trường…các chứng cứ cần thiết để
xác định sự thật khách quan của vụ án được thu thập nhanh chóng, đầy đủ. Chứng cứ
của vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà
pháp luật quy định, có giá trị chứng minh trực tiếp, khách quan và hợp pháp. Chứng
cứ rõ ràng là một yếu tố quan trọng để xác định vụ việc phạm tội là đơn giản, đồng
thời rút ngắn quá trình điều tra, xác minh của cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điều kiện
để giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác.
Trong thực tiễn áp dụng TTRG để giải quyết vụ án hình sự thì hai yếu tố sự
việc phạm tội đơn giản và chứng cứ rõ ràng có mối liên hệ lôgíc với nhau. Trong khái
niệm sự việc phạm tội đơn giản có bao hàm cả yếu tố chứng cứ rõ ràng và ngược lại.
Tính chất sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng phải luôn tồn tại trong suốt
quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Nếu trong quá trình giải
- 21 -
quyết vụ án theo TTRG mà phát hiện có những tình tiết phức tạp, phải điều tra bổ
sung, cần thời gian để xác minh thêm thì TTRG bị huỷ bỏ, vụ án phải giải quyết theo
thủ tục thông thường.
Điều kiện thứ ba: tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng.
BLHS sửa đổi năm 2009 phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, bao

với hành vi phạm tội đó chứ không phân loại tội phạm theo mức độ đơn giản hay
phức tạp của hành vi phạm tội. Do đó, việc xác định điều kiện áp dụng TTRG chỉ với
tội phạm ít nghiêm trọng là không phù hợp về cơ sở lý luận và thực tiễn.
Điều kiện thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng
Vấn đề căn cước, lai lịch của bị can, bị cáo là một trong những vấn đề cần
chứng minh của vụ án hình sự theo quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003, vấn đề
này có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án: Lý lịch của bị can, bị cáo liên quan
đến năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, liên quan đến việc quyết định
hình phạt (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo)…
Căn cước lai lịch của người phạm tội đã rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh có
thể được rút ngắn và từ đó bảo đảm thời gian tố tụng.
Đặc điểm về căn cước, lai lịch của người phạm tội được hiểu một cách chung
nhất là đặc điểm về nhân thân của người phạm tội. Nhân thân của người phạm tội bao
gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, thành phần xã hội, trình
độ văn hoá, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hành cảhn gia đình, quá trình hoạt
động chính trị, xã hội, tiền án, tiền sự…[6, tr.38].
Khi quyết định áp dụng TTRG để giải quyết vụ án, việc xác định căn cước, lai
lịch của bị can rõ ràng hay không có thể dựa vào lời khai ban đầu của bị can về lý
lịch của họ. Đối với vụ án giải quyết theo TTRG thì không những lý lịch bị can, bị
cáo phải rõ ràng, có giấy tờ chứng minh hợp pháp, những thông tin về vấn đề này cụ
thể, độ tin cậy cao mà còn đòi hỏi việc xác minh căn cước, lai lịch của người phạm
tội dễ dàng, nhanh chóng không ảnh hưởng tới thời hạn áp dụng [6, tr.42]
Bốn điều kiện trên đây một mặt độc lập với nhau, mặt khác lại có mối quan hệ
bổ trợ nhau. Ví dụ: không phải mọi tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng
TTRG, vì có nhiều tội danh tuy là ít nghiêm trọng nhưng lại hết sức phức tạp trong
thu thập và đánh giá chứng cứ như các tội về môi trường, tội phạm chức vụ, tội phạm
xâm phạm các hoạt động tư pháp.. [17]. Điều kiện về người thực hiện hành vi phạm
- 23 -
tội bị bắt quả tang và điều kiện người thực hiện tội phạm có căn cước, lai lịch rõ ràng
là tiền đề xác định điều kiện sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng. Vì thế khi

uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng.
VKS sẽ ra quyết định áp dụng TTRG trong hai trường hợp: Một là, theo đề nghị
của CQĐT. Trong quá trình thụ lý vụ án, xét thấy có đủ điều kiện áp dụng theo
TTRG theo quy định của BLTTHS năm 2003, CQĐT sẽ đề nghị VKS ra quyết định.
Trên cơ sở đề nghị này và những tài liệu mà cơ quan điều tra chuyển sang, VKS thấy
vụ án có đủ điều kiện quy định tại điều 319 BLTTHS năm 2003 thì ra quyết định áp
dụng TTRG để giải quyết vụ án. Hai là, VKS tự ra quyết định áp dụng TTRG mà
không cần phải có đề nghị của CQĐT. Chức năng của VKS là “ thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”
[18, Điều 137]. Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khởi tố vụ án
của CQĐT, VKS nhận thấy có đủ điều kiện theo luật định thì có thể tự mình ra quyết
định áp dụng TTRG.
Trong cả hai trường hợp trên VKS chỉ có thể áp dụng TTRG “sau khi khởi tố vụ
án” và “ quyết định áp dụng TTRG phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can
hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định án
dụng TTRG”. Quyết định này có thể bị khiếu nại, người có quyền khiếu nại là bị can
hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Thời hạn khiếu nại là 3 ngày kể từ ngày nhận
quyết định. Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền, thời hạn giải quyết
khiếu nại, chứ không quy định căn cứ, cách thức giải quyết khiếu nại và hậu quả của
việc giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên chúng ta có thể nhận định nếu khiếu nại được
chấp nhận thì VKS sẽ ra quyết định huỷ quyết định áp dụng TTRG, vụ án giải quyết
theo thủ tục thông thường, còn nếu VKS nhận thấy khiếu nại không có cơ sở thì
TTRG được áp dụng để giải quyết vụ án.
Việc quy định thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG thuộc về VKS, CQĐT chỉ
có quyền đề nghị trong khi CQĐT lại là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc thu
thập chứng cứ và tài liệu của vụ án. Mặt khác, lại có thêm một thủ tục là CQĐT phải
làm văn bản đề nghị VKS ra quyết định áp dụng TTRG. Điều này không những
không giản lược thủ tục mà còn phức tạp thêm. Do đó, quy định thẩm quyền ra quyết
định áp dụng TTRG như pháp luật hiện hành là chưa phù hợp.
- 25 -

VKS tiến hành xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án và trong thời hạn không quá bốn ngày

Trích đoạn Quy định về thủ tục rút gọn tại chương XXXIV của Bộ luật tố tụng hình sự chưa phù hợp với thực tiễn nên còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp Nguyên nhân khác Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn giải quyết án hình sự.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status